16 Phương pháp thực hành thiền minh sát Vipassana

16 Phương pháp thực hành thiền minh sát Vipassana

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ NHẤT

    -  Giờ ngồi phải phân biệt chỗ phồng lên (khi hít hơi vào) và xẹp xuống (khi thở hơi ra), ghi nhớ trong tâm rằng: ‘phồng à, xẹp à’ theo thời khắc bụng phồng và xẹp.

    -  Giờ nằm cũng phải phân biệt bụng rằng: ‘phồng à, xẹp à’ như nhau.

    -  Giờ đứng cũng phải phân biệt rằng ‘đứng à, đứng à’.

    -  Giờ đi kinh hành phải phân biệt từ khoảng như vầy: thời bước chân mặt phải phân biệt rằng ‘mặt bước à’; thời bước chân trái phải phân biệt rằng ‘trái bước à’; mắt xem bàn chân, khi đi đến nơi cuối đường kinh hành mới trở lại, phải đứng lại rồi phân biệt rằng ‘đứng à’, tiếp theo, quay mình trở lại phải phân biệt rằng ‘trở lại à’, khi đã quay mình trở lại rồi, đứng, phải phân biệt rằng ‘đứng à, đứng à’, tiếp theo đi kinh hành cũng phải phân biệt như trước.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ HAI

    -  Giờ ngồi phải phân biệt 3 khoảng là ‘phồng à, xẹp à, ngồi à’.

    -  Giờ nằm phải phân biệt 3 khoảng là ‘phồng à, xẹp à, nằm à’.

    -  Giờ đứng phải phân biệt 2 khoảng là ‘đứng à, đứng à’ cho đến khi đi hoặc ngồi.

    -  Giờ đi phải phân biệt theo cách luyện tập thứ 1 lối 30 phút trước rồi đổi cách phân biệt mới, là sau khi bước chân mặt hoặc chân trái đi, phải phân biệt 2 khoảng rằng: ‘dở à, đạp à’ lối chừng 30 phút. Ví dụ: phải phân biệt rằng ‘mặt bước à, trái bước à’ lối chừng 30 phút; phải phân biệt rằng ‘dở à, đạp à’ lối chừng 30 phút.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ BA

    - Giờ ngồi phải phân biệt 4 khoảng là ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’

    - Giờ nằm phải phân biệt 4 khoảng: ‘phồng à, xẹp à, nằm à, đụng à’

    - Giờ đi phải phân biệt theo cách luyện tập thứ 1 và thứ 2 trước, ước chừng 20 phút, rồi cho đổi phân biệt theo phương pháp mới là thời bước chân mặt hoặc chân trái đi, phải phân biệt 3 khoảng là ‘dở à, bước à, đạp à’: phải phân biệt rằng ‘mặt bước, trái bước à’ ước chừng 20 phút; phải phân biệt rằng ‘dở à, đạp à’, lối chừng 20 phút; phải phân biệt rằng ‘dở à, bước, đạp à’, lối chừng 20 phút.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ TƯ

    - Giờ ngồi phải phân biệt 4 khoảng là ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ như cách thứ 3, song khác hơn là ‘đụng à’.

    - Giờ nằm phải phân biệt 4 khoảng là ‘phồng à, xẹp à, nằm à, đụng à’

    - Giờ đi, phải phân biệt theo cách thứ 1, 2, 3, trước lối 20 phút rồi cho đổi phương pháp phân biệt mới là thời bước chân mặt hoặc chân trái đi, phải phân biệt 4 khoảng rằng: ‘dở gót à, dở chân à, bước à, đạp à’ lối chừng 30 phút. Ví dụ: phải phân biệt rằng ‘mặt bước à, trái bước à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng ‘dở à, đạp à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng: “bước à, đạp à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng ‘dở gót à, dở à, bước à, đạp à’ lối chừng 30 phút.

    Phật ngôn:

    Te ñāyino sātatikā niccaṃ daḷhaparakkamā phusanti dhīrā nibbānaṃ yogakkhemam anuttaraṃ

    Người sáng trí có tâm quan sát, có sự tinh tấn, khăng khăng một mực, tự nhiên đạt đến Niết-bàn khỏi điều buộc trói, chẳng có pháp nào tối thượng hơn.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ NĂM

    - Giờ ngồi phải phân biệt 4 khoảng: ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’, thân chạm nơi nào phải phân biệt nơi đó. Ví dụ: ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến xương cụt trái đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến xương cụt mặt đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến đầu gối mặt đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến đầu gối trái đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến mắt cá mặt đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến mắt cá trái đụng).

    - Giờ nằm phải phân biệt 4 khoảng như nhau, nhất là ‘phồng à, xẹp à, nằm à, đụng à’.

    - Giờ đứng phải phân biệt rằng ‘đứng à, đứng à’.

    - Giờ đi phải phân biệt theo cách luyện tập thứ 1, 2, 3, 4, mỗi cách lối chừng 20 phút, rồi đổi phương pháp phân biệt mới là thời bước chân mặt hoặc trái đi là 5 khoảng rằng: ‘dở gót à, dở chân à, bước à, xuống à, đụng à’ lối chừng 20 phút. Ví dụ: phải phân biệt rằng ‘mặt bước à, trái bước à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng ‘dở à, đạp à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng ‘dở à, bước à, đạp à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng ‘dở gót à, dở à, đạp à’ lối chừng 20 phút, phải phân biệt rằng ‘dở gót à, dở à, bước à, xuống à, đụng à’ lối chừng 20 phút.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ SÁU

    - Giờ ngồi phải phân biệt như vầy: ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến xương cụt mặt đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến xương cụt trái đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến đầu gối mặt đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến đầu gối trái đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến mắt cá mặt đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến mắt cá trái đụng), ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ (nói đến sự chạm theo các nơi (thân mình).

    - Giờ nằm phải phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, nằm à, đụng à’.

    - Giờ đứng phải phân biệt rằng ‘đứng à, đứng à’.

    - Giờ đi phải phân biệt như vầy: phải phân biệt rằng ‘mặt bước à, trái bước à’ lối chừng 5 phút, phải phân biệt rằng ‘dở à, bước à’ lối chừng 5 phút, phải phân biệt rằng ‘dở à, bước à, đạp à’ lối chừng 30 phút, phải phân biệt rằng ‘dở gót à, dở à, bước à, đạp à’ lối chừng 30 phút, phải phân biệt rằng ‘dở gót à, dở à, bước à, xuống à, đụng à’ lối chừng 30 phút, phải phân biệt tăng gia thêm, là 6 khoảng rằng ‘dở gót à, dở à, bước à, xuống à, đụng à, nhận à’ lối chừng 20 phút.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ BẢY

    - Giờ đi kinh hành cuối đường rồi, ngừng, đứng, quay trở lại, lúc muốn ngừng phải phân biệt rằng ‘muốn ngừng à, muốn ngừng à’ – khi ngừng, phải phân biệt rằng ‘ngừng à, ngừng à’ – khi sắp trở lại, phải phân biệt rằng ‘muốn trở lại à, muốn trở lại à’. Khi trở lại phải phân biệt rằng ‘trở lại à, trở lại à’. Khi đứng phải phân biệt rằng ‘đứng à, đứng à’ rồi mới đi và phân biệt như đã giải.

    - Lúc chân trái, chân mặt sắp đạp v.v... phải phân biệt rằng ‘muốn đạp à’ lúc đạp phải phân biệt rằng ‘đạp à’.

    - Lúc sắp duỗi, co, phải phân biệt rằng ‘muốn duỗi à, muốn co à’ – lúc duỗi hoặc lúc co phải phân biệt rằng ‘duỗi à, co à’.

    - Lúc sắp cầm các vật, như mặc y, trùm y, cầm bát, ly, chén v.v... phải phân biệt rằng ‘thấy à, muốn cầm à’, lúc đưa tay phải phân biệt rằng ‘thò à, thò à’, lúc đưa tay đụng phải phân biệt rằng ‘đụng à’. Lúc cầm phải phân biệt rằng ‘cầm à’. Lúc cầm vật rồi nắm lại phải phân biệt rằng ‘nắm lại à’ v.v...

    - Giờ thọ thực hoặc uống nhai, nếm, liếm, phải phân cách giống nhau: khi thấy thực phẩm phải phân biệt rằng ‘thấy à’, khi muốn...‘muốn à’, khi đưa tay ra...‘đưa tay à’, khi tay đụng...‘đụng à’, khi cầm...‘cầm à’, khi dở lên...‘dở à’, khi hả miệng...‘hả à’, khi đụng miệng...‘đụng à’, khi nhai...‘nhai à’, khi hửi...‘hửi à’, khi hít...‘hít à’.

    - Giờ muốn tiểu tiện, đại tiện, phải phân biệt rằng ‘muốn tiểu à’. Tiểu, đại tiện phải phân biệt rằng ‘tiểu à, đại tiện à’.

    - Giờ sẽ đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói, nín, phải phân biệt rằng ‘muốn đi à’, ‘muốn đứng à’, ‘muốn ngồi à’, ‘muốn ngủ à’, ‘thức dậy à’, ‘muốn nói à’, ‘nín à’.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ TÁM

    1. Giờ thấy, phải phân biệt rằng ‘thấy à’

    2. Giờ được nghe...‘được nghe à’

    3. Giờ được hửi...‘được hửi à’

    4. Giờ được nếm...‘được nếm à’

    5. Giờ thân đụng...‘đụng à’

    6. Giờ suy nghĩ... ‘suy nghĩ à’

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ CHÍN

    - Giờ ngồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à’. Lúc đó, nếu có thọ khổ thế nào, phải ngưng phân biệt rằng ‘phồng à’, ‘xẹp à’ trước, rồi trở phân biệt thọ phát sanh lên đó: đau, nhức mỏi v.v.... phải phân biệt rằng: ‘nhức à’, ‘mỏi à’, ‘đau à’. Nếu thọ khổ thái quá không chịu được, phải ngưng sự phân biệt thọ khổ đó, trở phân biệt tiếp theo rằng: ‘phồng à, ‘xẹp à’, nếu thọ khổ đó không dứt thì nên đổi oai nghi.

    - Nếu sự vui phát sanh lên, phải phân biệt rằng: ‘vui à, vui à’.

    - Giờ nằm hoặc đứng, nếu có sự vui hay không vui, hoặc trung lập phát sanh lên, nên phân biệt theo mỗi thọ đó rằng ‘vui à, không vui à, trung lập à’. Nếu thọ phát sanh trong giờ đi kinh hành phải ngưng đi trước, rồi phân biệt theo thọ vui, khổ v.v... như đã giải trên.

    - Điều nên chú ý: khi có một triệu chứng nào (ánh sáng, sắc v.v...) phát sanh lên rõ rệt trong tâm, nên phân biệt ‘thấy à’ cho đến khi mất triệu chứng đó.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 10

    - Giờ ngồi, nếu tính muốn được cái chi, phải phân biệt rằng ‘muốn được à’, hoặc ‘tham à’.

    - Nếu ngồi, nằm, không vừa lòng, muốn đứng dậy, hoặc thấy cái chi, suy nghĩ cái chi rồi không vừa lòng, nên phân biệt rằng ‘không vừa lòng à’ hoặc ‘ghét giận à’.

    - Nếu ngáp nên phân biệt rằng ‘ngáp à’.

    - Nếu tâm phóng phải phân biệt rằng ‘phóng à’.

    - Nếu nghi phải phân biệt rằng nghi à’.

    - Nếu tâm tham, sân, phóng dật hoặc nghi v.v... tiêu mất rồi, cũng phải phân biệt biết như vậy.

    - Giờ đi kinh hành, nếu tâm phóng nữa, phải ngưng đi, rồi phân biệt rằng ‘phóng à’, khi phóng tiêu rồi mới đi kinh hành lại.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 11

    - Tâm ưa thích sắc, tiếng, mùi, vị, đụng chạm, nên biết rằng là sự quyến luyến ngũ dục, phải phân biệt rằng ‘ưa thích à’.

    - Khi tâm nghĩ đến sự trả thù nên biết rằng là sân hoặc trả thù, phải phân biệt rằng ‘sân à, trả thù à’.

    - Nếu tâm mơ màng nên hiểu rằng là hôn trầm, nên phải phân biệt rằng ‘buồn ngủ à’.

    - Nếu tâm phóng dật, bất mãn, ưu sầu nên biết rằng là phóng dật, phải phân biệt rằng: ‘phóng dật à’...

    - Nếu tâm nghi trong sắc, danh, lý tưởng tối cao, quy tắc nên hiểu rằng là hoài nghi, phải phân biệt rằng ‘nghi à’.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 12

    - Giờ muốn ngồi, phải phân biệt rằng ‘muốn ngồi à’.

    - Khi ngứa: như lúc phân biệt rằng ‘phồng à’, ‘xẹp à’, ‘ngồi à’, ‘đụng à’, mà sanh sự ngứa lên, nên phân biệt rằng ‘ngứa à’, nếu đã phân biệt rồi mà chưa hết ngứa, muốn gãi phải phân biệt rằng ‘muốn gãi à’, khi đưa tay tới gãi phải phân biệt theo từ khoảng rằng ‘tới à’, khi tay đụng phải phân biệt rằng ‘đụng à’, khi gãi phải phân biệt rằng ‘gãi à’, khi hết ngứa phải phân biệt rằng ‘hết à’, khi lấy tay ra, phải phân biệt theo từ khoảng rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à’.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 13

    - Phải nguyện rằng: nếu pháp tối cao đã sanh trong thân tâm rồi xin đừng cho nảy ra nữa, bằng chưa sanh xin cho phát sanh, là xin cho thấy pháp cao thượng trong 24 tiếng đồng hồ.

    - Khi đã phát nguyện rồi phải đi kinh hành trước rồi ngồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ như đã giải luân chuyển nhau, cho đến 24 tiếng đồng hồ.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 14

    - Phải đi kinh hành trước, rồi hành như vầy, phải phát nguyện mỗi lần một tiếng đồng hồ rằng “xin cho trạng thái sanh diệt hãy rõ rệt lên nhiều lần, ít lắm là trong một tiếng đồng hồ, 5 lần”. Nếu trong một tiếng đồng hồ mà trạng thái sanh diệt chưa được rõ rệt và liên tiếp ít lắm trong một tiếng đồng hồ 5 lần, nhiều lắm chừng 65 lần. Nếu đã như vậy, phải giảm giờ nguyện xuống lối chừng 30 phút, là phải nguyện rằng: “trong 30 phút đó xin cho trạng thái sanh diệt đó rõ rệt lên nhiều lần”. Phải nguyện như cách đó rồi sụt, cò 20, 15, 10, 5 phút, trong 5 phút trạng thái sanh diệt sẽ rõ rệt, đến 6 lần hoặc 2 lần.

    - Ngồi cho được hai tiếng đồng hồ, mới đổi oai nghi, không cho lìa khỏi chỗ.

    - Phải luân phiên như vậy, cho đến 24 tiếng đồng hồ.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 15

    - Phải đi kinh hành trước, rồi nguyện rằng: “xin cho thiền định vững bền đến 5 phút”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’, cho đến khi khắn khít với đề mục rồi lặng im cho đủ 5 phút mới là chơn chánh, khi kiểm tra đồng hồ thấy rằng chưa đến, phải cố gắng làm cho đủ 5 phút mới là chơn chánh, nhiều hơn càng tốt.

    - Phải nguyện cho đắc định kiên cố đến 10 phút, nếu chưa đắc, cần phải tinh tấn hành cho được thuần thục, rồi mới tập hành thiền, v.v... từ 15, 20, 30 phút; 1 tiếng đồng hồ, 2 tiếng, 3 tiếng, 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng đồng hồ, theo thứ tự.

    - Sự dự tính phút hoặc tiếng đồng hồ đó, phải bắt đầu từ giờ tâm yên lặng, sẽ không biết sự tiếp xúc chi cả, như ngủ mà không phải ngủ. Khi đến mức đã phát nguyện, cũng biết mình tự nhiên, như thức, song không phải thức.

    CÁCH LUYỆN TẬP THỨ 16

    - Hành giả, người đã hành chơn chánh rồi, muốn làm vị sư cần phải luyện tập cao thượng hơn, như vầy:

    *Lần thứ nhất phải hành 1 ngày:

    - Phải đi kinh hành trước rồi mới ngồi, vào đến nơi, nguyện rằng: “trong một tiếng đồng hồ này, xin cho sắc danh sanh diệt rõ rệt”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’, cho đến đủ một tiếng đồng hồ. Khi phân biệt tóm tắt như vậy, sẽ thấy trạng thái sanh, diệt của sắc danh rõ rệt hơn trước, ấy gọi là “sắc danh sanh diệt trực giác” (udayabbayañāṇa).

    - Trong một tiếng đồng hồ thứ nhì, phải nguyện rằng: “trong 1 tiếng đồng hồ, xin cho chỉ thấy sắc danh diệt”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’, cho đủ 1 tiếng đồng hồ. Khi đã phân biệt như vậy, sẽ chỉ thấy sự diệt của sắc danh thôi, tức là sự diệt sắc danh rõ rệt hơn trước, đó gọi là “sắc danh diệt trực giác” (bhaṅgañāṇa).

    *Lần thứ 2, phải hành 1 ngày:

    - Phải đi kinh hành trước, rồi mới ngồi nguyện rằng: “trong một tiếng đồng hồ này, xin cho khả tởn trực giác (bhayañāṇa) phát sanh”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ cho đủ 1 tiếng đồng hồ. Trong khi ngồi ấy, sẽ có trạng thái đáng sợ phát sanh, đó gọi là “khả tởn trực giác”.

    - Trong tiếng đồng hồ thứ 2, phải nguyện rằng: “trong 1 tiếng đồng hồ này, xin cho nguy hiểm trực giác (ādīnavañāṇa) phát sanh”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ cho đủ một tiếng đồng hồ. Trong khi ngồi sẽ thấy tội khổ của sắc danh như: đau nhức không thường, là khổ, là vô ngã, đó gọi là “tội khổ trực giác” (ādīnavañāṇa).

    - Trong tiếng đồng hồ thứ 3, phải nguyện rằng: “trong tiếng đồng hồ này, xin cho phát sanh chán nản trực giác (nibbidāñāṇa)”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ cho đủ 1 tiếng đồng hồ. Khi ngồi phân biệt như vậy, sẽ có sự “thất chí phát sanh” là thấy sắc danh có đầy dẫy vết đáng ghê gớm, chỉ có khổ, chỉ có tội, không nên ưa thích, ấy gọi là “chán nản trực giác” (nibbidāñāṇa).

    *Lần thứ 3, phải hành một ngày:

    - Phải đi kinh hành trước, vào ngồi rồi nguyện rằng: “trong 1 tiếng đồng hồ, xin cho phát sanh giải phóng trực giác”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ cho đủ 1 tiếng đồng hồ, trong giờ ngồi phải phân biệt như vầy: sẽ có trạng thái “lánh mong thoát khổ” theo thứ tự, đó gọi là “giải phóng trực giác” (muñcitukamyatāñāṇa).

    - Trong tiếng đồng hồ thứ 2, phải nguyện rằng: “trong tiếng đồng hồ này, xin cho phân biệt trực giác (paṭisaṅkhāñāṇa) phát sanh”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ cho đủ 1 tiếng đồng hồ. Trong giờ ngồi phân biệt như thế, sẽ có trạng thái tinh tấn tìm đường lánh, đường giải thoát phát sanh theo thứ tự, ấy gọi là “phân biệt trực giác” (paṭisaṅkhāñāṇa).

    - Trong giờ thứ 3, phải nguyện rằng: “trong một tiếng đồng hồ này xin cho ngủ uẩn xả trực giác phát sanh”, rồi phân biệt rằng ‘phồng à, xẹp à, ngồi à, đụng à’ cho đủ 1 tiếng đồng hồ. Trong giờ ngồi phân biệt như vậy, sẽ có trạng thái vô ký trong sắc danh, ấy gọi là “ngủ uẩn xả trực giác” (saṅkhārūpekkhāñāṇa).

    Vấn: Sự thực hành thông tuệ đề mục theo phương pháp đã giải đó, sẽ có phước báu như thế nào?

    Đáp: Có nhiều phước báu, như dưới đây:

    1. Làm cho mình sáng trí trong nguyên tắc chân lý, là thông rõ pháp tối cao, không lầm lạc dính mắc trong chỉ danh pháp paññattidhamma mà đời phỏng đoán.

    2. Làm cho mình có giới pháp (sīladhamma) và tăng gia pháp (vaḍḍhanadhamma) chơn chánh.

    3. Làm cho mình thương yêu thân thiết nhau, cho có tâm bi lẫn nhau, ưa thích, hoan hỷ, vừa lòng, khi thấy kẻ khác được vui.

    4. Làm cho mình chừa cải sự làm hại lẫn nhau, tránh sự bắt buộc và lợi dụng nhau.

    5. Làm cho mình biết thân và hộ thân, là biết tự hóa và hành vi chơn chánh.

    6. Làm cho mình là người dễ dạy, dễ nói, không tự cao, vô liêm sỉ.

    7. Làm cho mình xem nhau bằng cặp mắt từ bi, cho có sự thân thiết, vì được giảm bỏ tà kiến và lòng tự cao.

    8. Làm cho mình nặng lòng trong pháp tri ân và báo ân.

    9. Làm cho mình trở thành vị sư, do nguyên nhân hành đạo đây, tự nhiên, để đạt các đức thanh cao, là để trừ:

    - Năm pháp cái nīvaraṇa.

    - Ngũ dục.

    - Chấp ngũ uẩn.

    - Năm pháp chướng ngại bậc thấp: thân kiến (sakkāyadithi), hoài nghi (vicikicchā), giới cấm thủ (sīlabbatapārāmāsa), kích thích lòng vui thú (kāmacchanda), oán ghét (byāpāda).

    - Trừ nẻo luân hồi (địa ngục, cầm thú, ngạ quỷ, người, trời).

    - Trừ 5 bỏn xẻn (bỏn xẻn chỗ ở, bỏn xẻn dòng họ, bỏn xẻn lợi, bỏn xẻn không thích sự ngợi khen đức tính kẻ khác, bỏn xẻn pháp).

    - Trừ 5 pháp chướng ngại bậc trên: dục trong cõi sắc (rūparāga), dục trong cõi Vô sắc (arūparāga), tự kiêu, phóng túng, vô minh.

    - Trừ hoang tâm(3) (cetokhīla) là 5 tâm không nhìn nhận: nghi trong đức Phật, nghi trong đức Pháp, nghi trong đức Tăng, nghi trong tam học, sân hận không vừa lòng trong bậc phạm hạnh.

    - Trừ vấn vương tâm (cetovinibandha) tức là 5 tâm ràng buộc; không lìa sự yêu thích, ưa mến, khao khát, phiền muộn, mong mỏi trong ngũ dục, cho đến sự vui sướng trong sự ăn, nằm và tu hành để mong thành Chư thiên.

    - Trừ điều lướt khỏi những điều buộc ràng, than van, dập tắt khổ, để đạt đạo, quả, thấy rõ Niết-bàn.

    10. Làm cho mình được hưởng phước báu tột cao đắc A-la-hán hoặc A-na-hàm, Tư-đà- hàm, Tu-đà-huờn; sự kết quả thấp hơn hết là chắc chắn, sẽ tái sanh trong cõi vui, như có kệ ngôn rằng:

    iminā pana ñāṇena samannāgato vipassako buddhasāsane laddhassāso laddhapatiṭṭho niyagatico cūḷasotāpānno nāma hoti

    ‒ Hành giả có trí tuệ tiến triển pháp thông tuệ, tự nhiên đắc bậc tiểu Tu-đà-huờn, được nhẹ tâm, được sự nương dựa tối cao trong Phật giáo, chắc chắn sẽ được thọ sanh trong nhàn cảnh.

    Lại nữa, hành giả tu pháp thông tuệ có nhãn trực giác, thấy sự sanh diệt của sắc danh gọi là người có sự sống còn quý cao, như Phạn ngữ rằng:

    yo ca vassasataṃ jīve apassaṃ udayabbayaṃ ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo passato udayabbayaṃ

    ‒ người thấy sự sanh diệt của sắc danh dù là có sanh mạng chỉ trong một ngày, cũng quý báu hơn kẻ không thấy sanh diệt của sắc danh sống đến trăm tuổi.

    Vấn: Sự tu pháp thông tuệ đề mục cách nào, sẽ hành đến bao lâu mới được quả báo như ý nguyện?

    Đáp: Nếu hành liên tiếp đến 7 ngày, 15 ngày, 1 tháng, 2, 3, 4, 5, 6, 7 tháng hoặc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 năm, sẽ được đắc kỳ sở nguyện, tùy duyên lành, ít nhiều, giải như thế đó, là nói về hành giả có duyên lành bậc trung, nếu người đã tạo nhiều phức đức tấn tới buổi sáng, sẽ đắc đạo quả trong buổi tối hoặc hành buổi tối sẽ đắc kỳ sở nguyện buổi sáng, như lời chú giải như vầy:

    Tikkhapaññaṃ pana sandhāya pātova anusiṭṭho sāyaṃ visesaṃ adhigamissati sāyaṃ anusiṭṭho pāto visesaṃ adhigamissatīti vuttaṃ

    ‒ dạy trong buổi sáng sẽ đắc pháp cao quý trong buổi tối, dạy trong buổi tối sẽ đạt pháp tối cao trong buổi sáng.

    Trích: Đường đi niết bàn, soạn giả Tỳ Khưu Hộ Tông

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.