Bài 7: Pháp nào bao la khó thông suốt? Đức Phật nói đến hai sự thật nào? Sự biến mất của Pháp Học.

Bài 7: Pháp nào bao la khó thông suốt? Đức Phật nói đến hai sự thật nào? Sự biến mất của Pháp Học.

    BÀI 7:

    1. HỎI: ĐỨC THẾ TÔN KHI THUYẾT PHÁP TẾ ĐỘ CHÚNG SANH, NGÀI NÓI ĐẾN BAO NHIÊU SỰ THẬT?

    Đức Thế Tôn khi thuyết pháp tế độ chúng sanh, Ngài triển khai hai sự thật (sacca), đó là:

    - Sự thật của từ ngữ thông dụng (sammutivohārasacca).

    - Sự thật bản thể thực tính (sabhāvasacca).

    Như trong Sớ giải Manoratthapūranī có ghi:

    “Duve saccāni akkhāsi
    Sambuddho vadataṃ varo
    Sammutiṃ Paramatthañ ca
    Tatiyaṃ nuphalabbhati”.

    “Đức Chánh giác, bậc Tối thượng giữa hàng trí nhân, chỉ nói Pháp theo hai sự thật: Tục đế và chân đế, không tìm thấy điều thứ ba”.

    Gọi là “Sự thật thông thường” tức là những quy ước định đặt thành danh, nghĩa của một điều, một vật nào đó.

    Gọi là “Sự thật bản thể (sabhāvasacca)”, là một thực tại cùng tột, đúng theo thực tướng.

    Tạng luật, Tạng kinh và bộ thứ tư Tạng Thắng pháp (abhidhamma) là bộ Nhân chế định (puggalapaññatti), Đức Thế Tôn thuyết giảng theo sự thật thông thường.

    Còn sáu bộ Thắng pháp còn lại, Ngài thuyết theo sự thật bản thể.

    Tuy Đức Thế Tôn thuyết giảng pháp theo sự thật thông thường, nhưng vẫn có mục đích mang lợi ích đến chúng sanh. Vì sao thế?

    Vì rằng: Có những chúng sanh tuy là người tích trữ duyên lành, hội đủ nhân duyên để chứng đạt Đạo quả, là người hữu duyên (veneyya puggala) đáng được tế độ. Nhưng những vị này chưa từng được nghe pháp chân đế trong thời Phật quá khứ, muốn tế độ họ, Đức Thế Tôn phải dùng sự thật thông thường trước, sau cùng mới dẫn dắt họ tiến lên trình độ trí tuệ về chân pháp (saccadhamma), như kinh Chuyển pháp luân chẳng hạn, Đức Thế Tôn dạy:

    “Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu phải xa lìa là khổ, oán ghét phải gần là khổ, mong muốn không được là khổ. Tóm lại: Chấp Thủ Năm Uẩn Là Khổ”...

    Bảy loại khổ đầu dễ thấy, dễ nhận biết, còn “Chấp Thủ Năm Uẩn Là Khổ” thật vi tế, nhận thức được phải có trí tuệ cao và hướng về chân pháp.

    Đối với những chúng sanh có được hạt giống (bīja) trí tuệ về chân đế thời quá khứ thì Ngài trực tiếp đem lý chân đế giảng cho họ như:

    “Này Bāhiya! Trong cái thấy chỉ là sự thấy (không có người thấy), trong cái nghe chỉ là sự nghe (không có người nghe), trong cái tưởng tri chỉ là sự tưởng tri (không có người tưởng tri), trong cái thức tri chỉ là sự thức tri (không có người thức tri), trong cái liễu tri chỉ là sự liễu tri (không có người liễu tri)”(1).

    Tóm lại, khi Ngài thuyết giảng pháp theo sự thật nào chăng nữa, cũng không ngoài mục đích mang lợi ích đến quần sanh, Ngài luôn luôn nhắm đến lợi ích cho đời.

    Tục đế pháp (sammutisacca dhamma) có hai khía cạnh:

    Tục đế theo ngôn ngữ đời thông thường.

    Tục đế theo ngôn ngữ chư Phật: (như trong Tạng luật, Tạng kinh và bộ Nhân chế định).

    Cũng nên hiểu rằng: hễ còn ngôn ngữ, dù được xem là “chân ngôn” (saccavādī: lời nói thật), cũng chỉ là Chân theo phương diện chế định, vì rằng: Nếu xét theo sự thật bản thể (sabhāvasacca) thì không còn như chân nữa, có “thật” chăng nữa cũng chỉ là “không phải vọng ngữ” mà thôi.

    Còn lý “chân đế” quả thật như chân, bởi nó là một thực tại, là bản chất tuyệt đối không thể thay đổi được nữa. Cũng nên hiểu rằng “không thể thay đổi” không có nghĩa là thường hằng, không bị tiêu hoại, diệt mất.

    Như thế, từ ngữ Tục đế là của chư Phật, chư Thánh nhân, không nên hiểu là vọng ngữ, vì muốn diễn đạt chân đế pháp phải dùng ngôn từ, không có ngôn từ, không thể diễn đạt chân pháp. Như vậy, Tục đế chỉ là phương tiện để vận chuyển chân đế, như trong sự giao dịch thông thường, nhà khoa học gọi nước, nhưng trong phòng thí nghiệm thì gọi là H2O.

    Cũng như thế ấy, Đức Phật dùng Tục đế trong Tạng kinh, Tạng luật và bộ Nhân chế định (Puggalapaññatti) như người, chư thiên, cảnh giới, cây đại giác, quốc độ Bārāṇasī... Còn trong sáu bộ Thắng pháp còn lại, Ngài dùng phương pháp phân tích những từ ngữ trừu tượng như: UẨN, XỨ, GIỚI, QUYỀN...

    Trong Aṅguttara atthakathā có ghi rằng:

    “Tasmā vohāra kusalassa
    Lokanāthassa jantino
    Sammutiṃ voharantassa
    Amhāvādo na jāyati.

    “Chính vì những lý do vừa nêu trên, khi Đức Phật nói pháp theo từ ngữ Tục đế, không phải là vọng ngữ”.

    Chân đế pháp cũng có hai là:

    Sự thật bản thể (sabhāvasacca), tức là sự thật tướng trạng (lakkhaṇa sacca) của danh sắc như: tâm, tâm sở, sắc pháp và Níp bàn...

    Thánh đế (ariyasacca) là sự thật mà bậc Thánh thấu triệt rõ ràng với các phận sự, tức là Tứ Thánh đế: Khổ Thánh đế, Tập Thánh đế, Diệt Thánh đế và Đạo Thánh đế.

    Sở dĩ, gọi là Thánh đế, vì vị hành giả hành vipassanā, chứng ngộ Níp bàn, khi ấy cả bốn phận sự đồng có mặt: Khổ đế được thắng tri (hiểu biết cao tột), tập đế được đoạn trừ, đạo đế được tiến tu, diệt đế được tác chứng.

    2. HỎI: SỰ TIÊU HOẠI PHÁP HỌC NHƯ THẾ NÀO? HÃY DIỄN TIẾN SỰ TIÊU HOẠI TAM TẠNG?

    Pháp học tức là Phật ngôn trong Tam tạng Pāli và Sớ giải (aṭṭhakathā). Khi Pāli ngữ còn tồn tại hưng thịnh thì Pháp học còn hưng thịnh.

    Theo các Giáo thọ sư tiền bối, thì Pāli ngữ là tiếng nói của nhân loại thời Sơ kiếp, Phạm thiên hay chư Phật đều dùng Pāli ngữ để giao tiếp, thuyết pháp.

    Trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế, tiếng Pāli là ngôn ngữ chánh của dân nước Magadha. Khi Đức Thế Tôn Níp bàn rồi, chư Thánh tăng quyết định dùng Pāli ngữ để kết tập Phật ngôn, nhằm bảo tồn Pháp học đến năm ngàn năm.

    Pāla + I = Pāli (tiếng bảo vệ, hộ trì).

    Pāli từ chữ Pāla nghĩa là hộ trì, gìn giữ, không cho thất thoát Phật ngôn, không cho sai lệch ý nghĩa Phật ngôn. Pāli có thể dịch là Hộ nghĩa, Trì nghĩa.

    Thời gian trôi qua, vào thời mạt pháp (kaliyuga), các vị vua rơi vào ác pháp, dần dần các quan Đại thần, dân chúng cũng như thế.

    Do ác pháp tăng khiến phát sanh nhiều thiên tai như hạn hán, lũ lụt... vật thực trở nên khan hiếm, các hộ độ gia không thể cúng dường tứ sự đến chư Tăng như trước, chư Tăng khó khăn về vật thực nên không thể tế độ cho nhóm đệ tử cộng trú được.

    Rồi thời gian sau, không còn ai có thể thọ trì nghĩa lý của Phật ngôn, chỉ thọ trì được văn tự Pāli (như học thuộc lòng nhưng không thông nghĩa lý).

    Thế rồi, trải qua một thời gian sự thọ trì văn tự Pāli cũng không còn, khi ấy gọi là hoại Pháp học. Sự hoại Giáo pháp (Pháp học) theo trình tự: Tạng Thắng pháp (Abhidhamma) hoại trước, đến Tạng Kinh, sau cùng là Tạng Luật.

    Khoảng 2000 - 3000 năm (Phật lịch), hoại Tạng Thắng pháp, hoại từ ngọn đến gốc, tức là bộ Paṭṭhāna hoại trước, đến bộ Yamaka, Kathāvatthu, Puggalapaññatti, Dhātukathā, Vibhaṅga, sau cùng là bộ Dhammasaṅganī.

    Khoảng 3000 - 4000 năm Tạng kinh hoại, Tạng Kinh gồm có 5 bộ: bộ Dīghanikāya (Trường Bộ Kinh), Majjhimanikāya (Trung Bộ Kinh), Saṃyuttanikāya (Tương Ưng Kinh), Aṅguttaranikāya (Tăng Chi Bộ Kinh) và Khuddakanikāya (Tiểu Bộ Kinh).

    - Trường Bộ Kinh là những bài kinh dài, có 3 tập, gồm 33 bài kinh.

    - Trung Bộ Kinh là những bài kinh trung bình, có 3 tập, gồm 152 bài kinh.

    - Tương Ưng Kinh là những bài kinh có tính hòa hợp với các Pháp khác, có 5 tập với 7762 bài kinh, với 56 chủ đề.

    - Tăng Chi Kinh là những bài kinh đi từ pháp 1 chi đến pháp 11 chi, có 11 chương, từ chương 1 pháp đến chương 11 pháp, mỗi chương có nhiều phẩm (vagga), với 9557 bài kinh. - Tiểu Bộ Kinh là những bài kinh ngắn, gồm có 15 tập như sau:

    1. Khuddakapāṭha (Tiểu Tụng) gồm 9 bài kinh và kệ ngôn do Đức Phật thuyết về Tam Quy, 10 Giới, Kinh Hạnh Phúc, Kinh Châu Báu, Kinh Tâm Từ...

    2. Dhammapada (Pháp Cú) gồm 423 câu kệ có trong 26 phẩm.

    3. Udāna (Cảm Hứng Ngữ) gồm 82 bài kinh có trong 8 phẩm.

    4. Itivutaka (Như Thị Thuyết) gồm 110 bài kinh có trong 4 chương.

    5. Suttanipāta (Kinh Tập) gồm 71 bài kinh có trong 5 chương.

    6. Vimānavatthu (Chuyện Thiên Cung) gồm 85 chuyện có trong 7 chương.

    7. Petavatthu (Chuyện Ngạ Quỷ) gồm 51 chuyện có trong 4 chương.

    8. Theragāthā (Kệ Trưởng Lão Tăng) gồm 1360 kệ ngôn do 264 vị Tỳ Khưu cảm tác (TỳKhưu ALaHán).

    9. Therīgāthā (Kệ Trưởng Lão Ni) gồm 524 bài kệ do 73 vị Tỳ Khưu Ni A La Hán cảm tác.

    10. Jātaka (Chuyện Tiền Thân của Đức Phật) gồm 550 câu chuyện có trong 22 chương.

    11. Nidesa (Nghĩa Tích hay là Phân Tích Về Nghĩa Lý) gồm 2 tập là Tiểu Nghĩa Tích (Cūḷanidesa) và Đại Nghĩa Tích (Mahānidesa).

    12. Paṭisambhidāmagga (Đạo Vô Ngại Giải).

    13. Apadāna (Ký Sự) gồm 4 phần: Ký Sự của Đức Phật Gotama, Ký Sự của 41 vị Độc Giác Phật, Ký Sự của 559 Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni.

    14. Buddhavaṃsa (Phật Sử) nói về sự tích của 24 vị cổ Phật từ Đức Phật Dipaṇkara cho đếnĐức Phật Kassapa.

    15. Cariyāpiṭaka (Hạnh Tạng) gồm 35 câu chuyện tiền thân của Đức Phật được kể lại theo lời thỉnh cầu của Ngài Xá Lợi Phất.

    Khi Tạng Kinh mất, trước tiên là Bộ Tăng Chi Kinh mất từ chương 11 pháp cho đến chương 1 pháp, sau đó đến Tương Ưng Kinh, Trung Bộ Kinh, Trường Bộ Kinh là sau cùng.

    Bấy giờ, chư Tỳ Khưu chỉ thọ trì được Bổn sanh (jātaka) mà thôi. Khi bộ Dīghanikāya (Trường Bộ) hoại, được kể là Tạng kinh (suttanta pitaka) bị hoại.

    Khoảng 4000 - 5000 năm Tạng luật bị hoại; Tạng Luật gồm có 5 bộ và 9 tập:

    - Bhikkhusīlavibhaṅga (Phân tích giới Tỳ Khưu) gồm 2 tập.

    - Bhikhunīsīlavibhaṅga (Phân tích giới Tỳ Khưu Ni) có 1 tập.

    - Mahāvagga (Đại Phẩm) gồm 2 tập.

    - Cūḷavagga (Tiểu Phẩm) gồm 2 tập.

    - Parivāra (Tiểu Tụng) gồm 2 tập.

    Khi Tạng Luật hoại khởi đầu là bộ Parivāra (Tiểu Tụng), rồi đến Cūḷavagga (Tiểu phẩm), đến Mahāvagga (Đại phẩm), Bhikkhunīsīlavibhaṅga, Bhikkhusīlavibhaṅga.

    Chư Tỳkhưu chỉ còn nhớ được Uposathakkhandha (cách hành lễ Bố Tát) mà thôi, nhưng như thế cũng chưa gọi là hoại Pháp học, bao giờ bài kệ bốn câu còn trong nhân giới, bấy giờ vẫn còn Pháp học.

    ---

    (1) Tiểu bộ kinh (Khuddakanikāya).

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.