Tiểu sử Thiền sư Mahasi Sayadaw

gương bậc xuất gia

Cố Trưởng lão Thiền sư Mahasi Sayadaw sinh năm 1904 tại Seikkhun, một ngôi làng lớn, xinh đẹp và trù phú cách thị trấn giàu truyền thống lịch sử Shwebo khoảng bảy dặm về phía Tây thuộc miền Bắc Miến Điện. Ngài xuất thân trong một gia đình khá giả ở vùng nông thôn. Song thân của ngài tên là U Kan Taw và Daw Oke. Lúc sáu tuổi, ngài đã sớm được gửi vào tu viện để tu học dưới sự chỉ giáo của ngài U Adicca, trụ trì tu viện Pyinmana tại Seikkhun.

Sáu năm sau, ngài bắt đầu thọ giới Sadi (sāmaṇera) cũng với vị thầy ấy và có pháp danh là Shin Sobhana (Tịnh hảo). Pháp danh này hợp với bản tính can trường và đạo hạnh của ngài. Ngài là một học trò sáng dạ và có tiến bộ nhanh đáng kể trong việc tìm hiểu nghiên cứu kinh điển. Khi ngài U Adicca không còn đảm nhiệm chức vụ này, sa-di Shin Sobhana tiếp tục việc học tập nghiên cứu của mình dưới sự chỉ giáo của ngài trưởng lão U Parama thuộc tu viện Thugyi-Kyaun ở Ingyintaw-Taik.

Năm mười chín tuổi, ngài phải quyết định có nên tiếp tục ở lại Tăng đoàn và dành phần còn lại của đời mình để phục vụ Giáo pháp Đức Phật (Buddha Sasana) hay quay trở về đời sống thế tục. Sa-di Shin Sobhana biết trái tim của mình đã đặt vào đâu và không ngần ngại chọn con đường phục vụ cho Giáo pháp. Ngài đã được thọ giới tỳ-kheo (Bhikkhu) vào ngày 26 tháng 11 năm 1923, ngài trưởng lão Sumedha Sayadaw và Ashin Nimmala là vị thầy tế độ của ngài.

Trong vòng bốn năm, Đại đức Shin Sobhana đã vượt qua ba cấp của kỳ thi Kinh điển Paḷi do Chính phủ tổ chức. Đại đức Sobhana sau đó chuyển đến thành phố Mandalay, nơi nổi tiếng về việc học tập và nghiên cứu Phật giáo, để theo đuổi việc nghiên cứu sâu hơn về kinh điển dưới sự chỉ dẫn của các vị trưởng lão có tiếng tăm. Tuy nhiên, việc lưu trú của đại đức tại Khinmakan (một tu viện phía tây thành phố) bị cắt ngắn hơn một năm, rồi tiếp đó, ngài được thỉnh mời đến Moulmein. Viện chủ tu viện Taik-Kyaung ở Taungwainggale (người đồng hương với Đại đức Sobhana) muốn Đại đức về hỗ trợ việc giảng dạy cho học sinh của mình. Trong khi giảng dạy tại Taungwainggale, Đại đức Sobhana tiếp tục nghiên cứu kinh điển, với sự chuyên tâm đặc biệt đến Kinh Đại Niệm Xứ (Mahasatipaṭṭhāna Sutta).

Mối quan tâm sâu sắc về phương pháp Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna) của thiền Minh Sát (Vipassana) đưa ngài đến với tu viện láng giềng Thaton, nơi mà trưởng lão nổi tiếng Mingun Jetavan đang giảng dạy. Dưới sự hướng dẫn của ngài Mingun Jetavan, Đại đức Sobhana đã miên mật thực hành thiền Minh Sát (Vipassana).

Trong vòng bốn tháng, Đại đức đã đạt được những kết quả tốt đẹp tới mức có thể hướng dẫn lại một cách đúng đắn cho ba vị đệ tử đầu tiên của mình tại Seikkhun trong chuyến viếng thăm nơi này vào năm 1938. Sau khi từ Thaton trở về Taungwainggale (do trọng bệnh và sau đó là sự viên tịch của ngài trưởng lão Taik-kyaung) để khôi phục công việc giảng dạy và quản lý tu viện, Đại đức Sobhana đã tham dự và xuất sắc vượt qua kỳ thi Dhammacariya (Pháp Sư) do Chính phủ tiến hành năm 1941.

Đêm trước cuộc xâm lược Nhật Bản vào Miến Điện, Đại đức Sobhana phải rời khỏi Taungwainggale và trở về quê hương Seikkhun của mình. Đây là một cơ hội quý cho Đại đức cống hiến hết mình, toàn tâm toàn ý để thực hành thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna vipassana) và để dạy lại cho số môn đệ ngày một tăng. Tu viện Mahasi ở Seikkhun (mà từ đó Ngài được gọi là thiền sư Mahasi) may mắn không bị tác động bởi sự khốc liệt và tàn phá của chiến tranh. Trong thời gian này các đệ tử của ngài đã thuyết phục ngài viết “Hướng dẫn Thiền Minh Sát”, một công việc đòi hỏi sự am hiểu tường tận và toàn diện, trình bày chi tiết các khía cạnh pháp học và pháp hành của thiền Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna).

Ít lâu sau, danh tiếng ngài Mahasi là một thiền sư lão luyện đã lan truyền khắp vùng Shwebo-Sagaing và được sự chú ý của một Phật tử thuần thành và giàu có là ông U Thwin – người mong muốn thúc đẩy Lời dạy của Đức Phật (Phật Pháp: Buddha Sasana) bằng việc thiết lập một trung tâm thiền được dẫn dắt bởi vị thầy có năng lực và đức độ.

Sau khi nghe ngài Mahasi giảng một bài pháp về thiền Minh Sát (Vipassana) cũng như quan sát thái độ tự tại và cao quý của ngài, ông U Thwin đã không khó khăn gì trong việc khẳng định rằng ngài Mahasi chính là vị thiền sư mà mình tìm kiếm bấy lâu nay.

Vào ngày 13 tháng 11 năm 1947, Hiệp hội Giáo Pháp Nuggaha được thành lập tại Rangoon với vị chủ tịch đầu tiên là ông U Thwin và với mục đích là nghiên cứu lý thuyết và thực hành Giáo Pháp Đức Phật (Dhamma). Ông U Thwin đã cúng dường cho Hiệp hội một lô đất chừng năm héc-ta ở đường Hermitage, Rangoon, để xây dựng trung tâm thiền như dự kiến.

Năm 1978, trung tâm chiếm một diện tích 19,6 héc-ta, có một quần thể rộng lớn các tòa nhà và các công trình kiến trúc khác được xây dựng. Ông U Thwin nói với Hiệp hội rằng ông đã tìm thấy một thiền sư đáng tin cậy và đề xuất với Thủ tướng Miến Điện thỉnh mời ngài Mahasi Sayadaw về Trung tâm.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ngài Mahasi thường cư ngụ qua lại giữa quê hương Seikkhun và tu viện Taungwainggale ở Moulmein. Lúc đó, Miến Điện đã giành được độc lập vào ngày 4 tháng 1 năm 1948.

Tháng 5 năm 1949, trong một lần ngụ tại Seikkhun, ngài đã hoàn tất một bản dịch chú giải (nissaya) mới của bài Kinh Đại Niệm Xứ (Mahasatipaṭṭhāna Sutta). Bản dịch này vượt trên một bản dịch kinh tạng thông thường của bài kinh này – là bài kinh rất quan trọng cho những ai cần được hướng dẫn thực hành thiền Minh Sát (Vipassana).

Vào tháng mười một năm đó, theo lời thỉnh mời của cá nhân Thủ tướng U Nu, thiền sư Mahasi đã từ Shwebo và Sagaing đến trung tâm thiền Sasana Yeiktha tại Rangoon, cùng với hai vị trưởng lão thiền sư. Từ đó, ngài bắt đầu giám hộ trung tâm thiền Sasana Yeiktha tại Rangoon.

Ngày 4 tháng 12 năm 1949, ngài Mahasi trực tiếp hướng dẫn cho hai mươi lăm thiền sinh đầu tiên thực hành thiền Minh Sát (Vipassana. Việc số thiền sinh ngày càng đông trở thành thách thức không nhỏ đối với ngài trong việc truyền đạt toàn bộ bài giảng cho tất cả các hành giả.

Từ tháng 7 năm 1951, bài thuyết giảng thu âm đã được bật lên cho mỗi nhóm thiền sinh mới cùng với lời giới thiệu ngắn gọn của ngài. Trong vòng một vài năm sau, khi trung tâm thiền Sasana Yeiktha được xây dựng tại Rangoon, các trung tâm thiền tương tự đã được thành lập ở nhiều nơi trên cả nước với các thành viên Tăng đoàn (Saṇgha) được ngài Mahasi đào tạo làm thiền sư. Các trung tâm này không chỉ giới hạn ở Miến Điện mà mở rộng đến các nước láng giềng theo Phật giáo nguyên thủy (Theravāda) như Thái Lan và Sri Lanka. Ngoài ra còn có một số trung tâm ở Campuchia và Ấn Độ.

Theo một điều tra dân số năm 1972, tổng số hành giả được đào tạo ở tất cả các trung tâm này (cả ở Miến Điện và nước ngoài) đã vượt quá 700.000 người. Để ghi nhận trí tuệ xuất chúng và thành tựu tâm linh của ngài, năm 1952, thiền sư Mahasi đã được vinh danh bởi Thủ tướng của Liên bang Miến Điện với danh hiệu uy tín là một Aggamahāpaṇḍita (Bậc trí tuệ cao quý).

Ngay sau khi dành được độc lập, chính phủ Miến Điện đã bắt đầu kế hoạch cử hành Đại hội kết tập Kinh điển Phật giáo (Sañgāyana) lần thứ VI ở Miến Điện có bốn quốc gia Phật Giáo khác (Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia và Lào) cùng tham gia. Với mục đích này thì Chính phủ đã cử một phái đoàn đến Thái Lan và Campuchia, gồm có ngài Nyaungyan, ngài Mahasi và hai vị cư sĩ. Phái đoàn đã thảo luận kế hoạch với các vị chức sắc thuộc Giáo hội Phật giáo của hai quốc gia này. Tại Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ VI lịch sử được tiến hành với tất cả vẻ rực rỡ uy nghi vào ngày 17 tháng 5 năm 1954, trưởng lão Mahasi đã đóng một vai trò xuất sắc, thực hiện các nhiệm vụ chính xác và nặng nề của một Osāna (biên tập viên cuối cùng) và Pucchaka (người chất vấn). Một đặc điểm độc đáo của Đại hội này là kết tập các Chú giải (Aṭṭhakathā) và phụ chú (ṭikā) cũng như các bài kinh.

Trong việc biên tập kinh điển này, ngài trưởng lão Mahasi chịu trách nhiệm thực hiện phân tích mang tính phản biện, giải nghĩa hoàn chỉnh và giảng hòa khéo léo đối với của một số đoạn quan trọng và bất đồng. Một kết quả quan trọng của Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ VI là sự hồi sinh mối quan tâm về Phật giáo Nguyên thủy trong cộng đồng Phật tử theo Phật giáo Đại thừa.

Năm 1955, trong khi Đại hội đang được tiến hành thì mười hai nhà sư và một nữ cư sĩ Nhật Bản đã đến Miến Điện để nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thủy. Các nhà sư đã được gia nhập Tăng đoàn Phật giáo Nguyên thủy với tư cách sa-di, còn nữ cư sĩ thì trở thành một tu nữ. Sau đó, vào tháng 7 năm 1957, theo lời đề nghị của Hiệp hội Phật giáo Moji, Hội đồng Phật giáo Miến Điện đã cử một phái đoàn Phật giáo Nguyên thủy đến Nhật Bản. Ngài Mahasi là một trong những đại diện dẫn đầu Tăng đoàn Miến Điện trong sứ mệnh đó. Cũng trong năm 1957, ngài Mahasi đã thực hiện nhiệm vụ viết lời giới thiệu bằng tiếng Paḷi cho Chú giải Thanh Tịnh đạo (Visuddhimagga Aṭṭhakathā), để bác bỏ một số nhận định sai trái về tác giả lỗi lạc của cuốn sách này là ngài luận sư Đại đức Buddhaghosa. Ngài trưởng lão Mahasi đã hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này vào năm 1960, công việc của ngài chứa đựng dấu ấn của việc tu học độc đáo và hiểu biết sâu sắc. Đến lúc đó thì ngài cũng đã hoàn tất hai (trong số bốn) tập của bản dịch Chú giải nổi tiếng này sang tiếng Miến cũng như tác phẩm kinh điển về thiền Phật giáo.

Theo lời thỉnh mời của Chính phủ Sri Lanka, một phái đoàn đặc biệt do ngài U Sujata, một đệ tử xuất sắc của trưởng lão Mahasi, đã tới Sri Lanka vào tháng 7 năm 1955 để phát triển thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna). Đoàn ở lại ở Sri Lanka trong hơn một năm và đã làm công việc đáng ngưỡng mộ, đó là thiết lập mười hai trung tâm thiền cố định và mười bảy trung tâm thiền tạm thời.

Sau khi khánh thành một trung tâm thiền trên một khu đất do Chính phủ Sri Lanka cúng dường, một phái đoàn lớn hơn do ngài Mahasi dẫn đầu rời Miến Điện tới Sri Lanka vào ngày 6 Tháng 1 năm 1959, thông qua Ấn Độ. Đoàn ở Ấn Độ khoảng ba tuần và trong thời gian đó các thành viên đã đến thăm một số thánh tích gắn liền với đời sống và hoạt động hoằng pháp của Đức Phật. Họ cũng đã thuyết pháp vào những dịp phù hợp và có cuộc phỏng vấn với Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru, Tổng thống Ấn Độ là Tiến sĩ Rajendra Prasad, phó Tổng thống là Tiến sĩ S. Radhakrishnan.

Một điểm đáng chú ý của chuyến thăm này là sự chào đón nồng nhiệt từ thành viên của các tầng lớp tiện dân theo đạo Phật dưới sự hướng dẫn của nhà lãnh đạo quá cố Tiến sĩ Ambedkar. Phái đoàn bay từ Madras đến Sri Lanka vào ngày 29 tháng 1 năm 1959 và đến Colombo cùng ngày.

Chủ Nhật ngày 1 tháng 2, tại lễ khai mạc trung tâm thiền có tên là ‘Bhavana Majjhathana’, trưởng lão Mahasi đã có bài diễn văn bằng tiếng Paḷi sau khi Thủ tướng Bandaranayake và một số người khác phát biểu. Sau đó, các thành viên của phải đoàn tham gia chuyến tham quan trên hòn đảo và đến thăm một số trung tâm thiền và ở đó, ngài Mahasi đã thuyết giảng về thiền Minh Sát (Vipassana).

Chuyến thăm lịch sử của phái đoàn Miến Điện dưới sự dẫn dắt của trưởng lão Mahasi là biểu tượng của mối quan hệ lâu đời và gần gũi mật thiết của tình hữu nghị giữa hai quốc gia Phật giáo Nguyên thủy này. Lợi ích chuyến thăm đối với phong trào Phật giáo ở Sri Lanka là sự hồi sinh mối quan tâm về thiền mà trước đó dường như có phần giảm sút.

Vào tháng 2 năm 1954, những ai viếng thăm trung tâm Sasana Yeiktha có thể thấy một người đàn ông trẻ tuổi Trung Quốc đang hành thiền Minh Sát (Vipassana). Vị thiền sinh đó là một đạo sĩ quan tâm đến thiền Minh Sát (Vipassana) đến từ Indonesia tên là Bung An. Dưới sự hướng dẫn của ngài trưởng lão Mahasi và ngài U Ñanuttara, Bung An đã tiến bộ xuất sắc tới mức mà sau mới hơn một tháng, ngài thiền sư Mahasi đã thuyết giảng cho vị này chi tiết về phát triển tuệ giác. Sau đó, Bung An được thọ giới tỳ kheo (bhikkhu) và có pháp danh là Đại đức Jinarakkhita, với vị thầy tế độ là ngài trưởng lão Mahasi.

Sau khi Đại đức về Indonesia với tư cách là một tu sĩ đạo Phật, Giáo hội Phật giáo nhận được yêu cầu cử một tu sĩ Phật giáo Miến Điện để thúc đẩy sứ mệnh truyền giáo ở Indonesia. Người ta quyết định trưởng lão thiền sư Mahasi, là thầy tế độ và cố vấn của Đại đức Ashin Jinarakkhita sẽ thực hiện sứ mệnh này.

Với mười ba tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy Theravāda khác, trưởng lão Mahasi đã tiến hành các hoạt động truyền giáo chính như kiết giới Sīmā, truyền giới tỳ – kheo (bhikkhu), truyền giới sa-di và thuyết pháp, nhất là hướng dẫn thiền Minh Sát (Vipassana).

Qua những hoạt động đầy kết quả trong việc thúc đẩy Phật giáo ở Indonesia và Sri Lanka, chúng ta có thể mô tả sứ mệnh của trưởng lão thiền sư Mahasi ở các nước này là những hành trình của ‘Dhamma-vijaya ‘ (sự chiến thắng của Pháp).

Đầu năm 1952, theo lời thỉnh mời của Bộ Tăng sự (Saṇgha Affairs) Thái Lan, trưởng lão thiền sư Mahasi đã cử các ngài thiền sư U Asabha và U Indavamsa đến Thái Lan để phát triển thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Vipassana). Nhờ những nỗ lực của hai vị Thiền sư mà phương pháp của ngài Mahasi được đón nhận rộng rãi ở Thái Lan.

Đến năm 1960, nhiều trung tâm thiền đã được thành lập và số lượng của các thiền sinh theo phương pháp thiền Mahasi đã vượt quá một trăm nghìn. Với tinh thần cống hiến vô tư và chuyên tâm cho sự truyền bá Phật Pháp (Buddha Sasana) là đặc tính của ngài, bất chấp tuổi cao, sức yếu, trưởng lão thiền sư đã thực hiện thêm ba sứ mệnh nữa tới phương Tây (Anh, châu Âu và Mỹ) cũng như Ấn Độ và Nepal trong ba năm (1979, 1980 và 1981) trước khi ngài viên tịch.

Trưởng lão Abhidhajamaharatthaguru Masoeyein, người chủ trì Ban chấp hành Sanghanayaka tại Đại hội tập kết Kinh điển lần thứ VI, thúc giục thiền sư Mahasi Sayadaw dạy hai Chú giải cho Tăng đoàn tại Sasana Yeiktha. Chú giải Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga Aṭṭhakathā) của ngài Đại đức Buddhaghosa và Đại chú giải Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga Mahaṭikā) của ngài Đại đức Dhammapala chủ yếu đề cập đến pháp học và pháp hành của thiền minh sát trong Phật giáo và cũng đưa ra giảng giải hữu ích các điểm giáo lý mấu chốt nên rất quan trọng đối với các thiền sư tương lai.

Thiền sư Mahasi bắt đầu dạy hai tác phẩm này vào ngày 2 tháng 2 năm 1961 trong vòng một tiếng rưỡi đến hai tiếng mỗi ngày. Dựa trên những ghi chép bài giảng được thực hiện bởi học trò của mình, ngài thiền sư bắt đầu viết bản phụ chú giải (nisaya) bộ Thanh Tịnh Đạo Mahaṭikā (Visuddhimagga Mahaṭikā) và hoàn tất vào ngày 4 Tháng 2 năm 1966. Bản phụ chú giải (nisaya) này là một thành quả lớn lao. Phần về các quan điểm khác nhau của các tôn giáo khác đòi hỏi nhiều kham nhẫn nhất vì ngài trưởng lão đã phải làm quen với triết lý Hindu cổ đại và các thuật ngữ bằng cách nghiên cứu tất cả các tài liệu tham khảo sẵn có, bao gồm cả các công trình trong tiếng Phạn và tiếng Anh. Thật đáng ngưỡng mộ vì đến nay, thiền sư Mahasi đã có được công trình gồm 67 cuốn văn học Phật giáo Miến Điện. Không gian cuốn sách không cho phép chúng tôi liệt kê tất cả các cuốn sách của ngài ở đây, nhưng danh sách cập nhật hoàn chỉnh nhất được bổ sung vào ấn phẩm mới nhất của ngài có tên là “Giảng giải kinh Đế thích sở vấn” (A Discourse on Sakkapanha Sutta) (xuất bản tháng 10 năm 1978).

Có một thời gian thiền sư Mahasi đã bị chỉ trích nặng nề ở một số nơi do chủ trương của ngài về phương pháp ghi nhận phồng xẹp của bụng trong thiền Minh Sát được cho là không chính thống. Người ta đã nhầm lẫn cho rằng phương pháp này là một sự sáng tạo của ngài, trong khi trước đó, phương pháp này đã được thừa nhận vài năm trước khi thiền sư Mahasi theo học. Bởi phương pháp ghi nhận sự phồng-xẹp này giống với phương pháp mula (gốc) của thiền sư Mingun Jetavan, mà phương pháp ghi nhận, chú tâm vào sự phồng-xẹp ở bụng không có gì trái với lời dạy của Đức Phật về chủ đề này. Lý do mà phương pháp Mahasi được ưa chuộng là hành giả bậc trung thấy dễ dàng ghi nhận biểu hiện của yếu tố chuyển động (vāyodhātu: phong đại).

Tuy nhiên, không thể áp đặt lên tất cả những ai đến thực hành ở bất cứ trung tâm thiền Mahasi nào. Một người có thể thực hành quán niệm hơi thở (Ānāpānasati) nếu muốn. Thiền sư Mahasi không tham gia với các nhà phê bình của mình về chủ này, nhưng hai vị thiền sư lỗi lạc đã cho ra những cuốn sách để bảo vệ cho phương pháp của ngài, do đó cho phép những người quan tâm đến vấn đề tranh cãi kia có thể có đánh giá cho riêng mình.

Tranh cãi này nảy sinh ở Sri Lanka nơi một số thành viên của Tăng đoàn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về thiền ứng dụng đã công khai đả kích phương pháp của thiền sư Mahasi trên các báo và tạp chí. Kể từ khi những lời chỉ trích này được phát đi bằng tiếng Anh với phạm vi phủ sóng trên toàn thế giới thì sự im lặng không còn được duy trì và ngài thiền sư U Ñanuttara của Kaba-aye (chùa Hòa Bình Thế giới) buộc phải có phản ứng với những lời chỉ trích trên các trang của ‘Thế giới Phật giáo’, một ấn phẩm về Phật giáo của Sri Lanka.

Uy tín quốc tế của ngài thiền sư Mahasi đã thu hút nhiều du khách và các hành giả từ nước ngoài, một số tìm kiếm sự sáng tỏ cho các vấn đề tôn giáo của họ, còn một số người khác thì có mong muốn thực hành thiền dưới sự hướng dẫn trực tiếp từ ngài thiền sư. Trong số các thiền sinh đầu tiên từ nước ngoài có cựu Chuẩn Đô đốc E.H. Shattock người Anh đi nghỉ phép từ Singapore đến hành thiền tại trung tâm Sasana Yeiktha năm 1952. Khi trở về Anh, ông đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Cuộc thử nghiệm trong chánh niệm” (An Experiment in Mindfulness) trong đó đề cập đến những trải nghiệm của mình bằng những ngôn từ đầy cảm kích.

Một người nước ngoài khác là ông Robert Duvo, một người Mỹ gốc Pháp, từ California. Ông đến và hành thiền tại trung tâm, ban đầu với tư cách là một hành giả cư sĩ, rồi sau là một Tỳ kheo (bhikkhu). Về sau, ông xuất bản một cuốn sách ở Pháp về kinh nghiệm của mình và phương pháp thiền Minh Sát – Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Vipassana). Đáng chú ý nhất là Anagarika Munindra Shri từ Buddha Gaya, Ấn Độ, người đã trở thành một đệ tử thân cận của ngài thiền sư Mahasi, đã dành nhiều năm bên ngài tìm hiểu kinh Phật và hành thiền Minh Sát. Sau đó, ông được bổ nhiệm để điều hành một trung tâm thiền quốc tế tại Buddha Gaya, nơi nhiều người từ phương Tây đến tu thiền.

Trong số những hành giả này có một thanh niên Mỹ tên là Joseph Goldstein, người đã viết một cuốn sách sâu sắc về thiền Minh Sát mang tựa đề ‘Kinh nghiệm Thiền quán: Một hé mở tự nhiên ” (The Experience of Insight: A Natural Unfolding).

Một số tác phẩm của ngài thiền sư Mahasi đã được xuất bản ở nước ngoài, chẳng hạn như ‘Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ’ (The Satipaṭṭhāna Vipassana Meditation)‘ và ‘Thiền quán thực hành (Practical Insight Meditation) bởi Unity Press, San Francisco, California, Hoa Kỳ, và ‘Tiến trình phát triển của tuệ giác’ (The Progress of Insight) bởi Hiệp hội Xuất bản Phật giáo, Kandy, Sri Lanka.

Với trợ giúp của hai vị cư sĩ là ông U Pe Thin (nay đã qua đời) và Myanaung U Tin đã giúp cho việc trình pháp của các thiền sinh nước ngoài với Ngài Mahasi được thuận lợi hơn, đồng thời, hai vị này cũng phụ trách việc dịch thuật sang tiếng Anh một số bài giảng của thiền sư về thiền Minh Sát (Vipassana). Cả hai vị này đều là những thiền sinh giỏi. Trưởng lão thiền sư Mahasi được tôn kính và tri ân sâu sắc bởi vô số các thiền sinh ở Miến Điện và nước ngoài. Mặc dù mong muốn tha thiết của các thiền sinh trung thành của ngài là muốn vị thầy của mình có thể sống thêm vài năm nữa và tiếp tục hoằng truyền Giáo Pháp (Buddha Dhamma) cho những người ai đang tìm kiếm tự do và giải thoát, nhưng luật vô thường đã chấm dứt cuộc sống đầy vị tha và cống hiến của ngài.

Thiền sư Mahasi viên tịch vào ngày 14 tháng 8 năm 1982. Là một đệ tử thực thụ của Đức Phật, ngài sống can trường, truyền bá lời dạy của bậc Đạo sư khắp thế giới và đã trợ duyên hàng ngàn và hàng chục ngàn người đi trên Con đường Giác ngộ và Giải Thoát.

U Nyi Nyi (Hành giả và đệ tử của ngài Mahasi) Thành viên của Ủy ban chấp hành Yangon, Miến Điện Hiệp hội Phật pháp Nuggaha ngày 18 tháng 10 năm 1978

Những vị học trò xuất sắc của Ngài thiền sư Mahasi Sayadaw:

Freda Bedi G. V. Desani Joseph Goldstein Anagarika MunindraAchan Sobin S. Namto Sayādaw U Paṇḍita (Panditārāma) Sharon Salzberg Jack Kornfield Chanmyay Sayādaw (U Janakabhivamsa)Ashin Jinarakkhita Nguồn: buddhanet & Wikimedia

Đã dịch lại: Admin Phatgiaonguyenthuy.org

Để lại bình luận tại đây!