Tiểu sử tóm tắt của Ngài trưởng lão Ashin Kumārābhivaṁsa

Ngai tam tang

Ngài Kumārābhivaṁsa sinh vào ngày 16/09/1929 tại thôn Ywa Be, xã Taung Tha, huyện Min-jan thuộc tỉnh Mandalay. Sau khi học xong lớp 9 trung học phổ thông, Ngài đã xuất gia sa-di. Thầy tế độ là Ngài Paṇḍicca tại chùa Hsin-min. Ở đây, Ngài Kumārābhivaṁsa đã thi đậu lớp sơ cấp (pathama-nge) và trung cấp (pathama-lat) Phật học do chính phủ tổ chức. Sau đó, Ngài học các môn Phật Pháp quan trọng khác như ngữ pháp Pāli Kaccāyana, chú giải Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammattha-vibhāvinī), chú giải Pháp Tụ (Atthasālinī) và luật thơ kệ Pāli (Vuttodaya) với Ngài Sobhita, chú của mình, tại chùa Za-jan-kan Mye.

Ngài được thọ đại giới tỳ khưu vào năm 1949, và thầy tế độ cũng là Ngài Sobhita. Năm 1951, Ngài Kumārābhivaṁsa đến học tại đại học Pāli Dakkhiṇārāma nổi tiếng về sư phạm. Tại đây, Ngài sống dưới sự chỉ dạy của Ngài Medhiyābhivaṁsa, và đã thi đậu lớp cao cấp Phật học (pathama-ji) vào năm 1952.

Năm 1953, Ngài Kumārābhivaṁsa đã thi đậu một trong những kỳ thi khó nhất tại Miến Điện do hội Pariyatti-sāsanahita ở Mandalay bảo trợ tổ chức.

Năm 1954, Ngài thi đậu kỳ thi Dhammācariya (pháp sư) của chính phủ. Trong kỳ thi này, Ngài đã thi đậu một lần chín môn học – ba môn chính và sáu môn phụ – nên Ngài được phong tặng danh hiệu ‘siromaṇi’.

Ba môn chính bao gồm:

  • Luật Tạng bộ Pārājika,
  • Kinh Tạng bộ Sīlakkhandhavagga và
  • Vi Diệu Pháp Tạng bộ Dhammasaṅganī, kèm với Chú Giải (Aṭṭhakathā) và Phụ Chú Giải (Ṭīkā);

Sáu môn phụ là:

  • 4 bộ còn lại của Luật Tạng,
  • Mahāvagga của Trường Bộ Kinh,
  • Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara-nikāya),
  • Tương Ưng Bộ Kinh (Saṁyutta-nikāya),
  • Bộ Phân Tích (Vibhaṅga) của Tạng Vi Diệu Pháp,
  • Bộ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) thuộc Tiểu Bộ Kinh, kèm với Chú Giải và Phụ Chú Giải.

Lại nữa, Ngài thi tất cả các môn bằng tiếng Pāli và đã thi đậu 2 kỳ thi (1953, 1954) liên tiếp nên Ngài được phong tặng thêm danh hiệu ‘vataṁsaka’ với khuôn dấu vàng.

Ngay sau đó Ngài tham gia cuộc kết tập Tam Tạng lần thứ sáu (1954–1956) tại thạch động nhân tạo Mahāpāsāṇa trên đồi Kaba Aye thuộc thủ đô Yangon. Là thành viên trong ban biên khảo, Ngài đã hiệu đính Tam Tạng, Chú Giải và Phụ Chú Giải trong suốt thời gian hơn 5 năm. Vừa hiệu đính kinh thư để xuất bản, Ngài vừa tranh thủ thời gian học tiếp lớp 10 trung học và đã thi đậu vào đại học. Tiếp tục học chương trình đại học, Ngài đã hoàn thành khóa cử nhân phân khoa nghệ thuật tại trường đại học Mandalay. Sau đó Ngài học cổ ngữ Sanskrit, đặc biệt bộ ngữ pháp Pāṇinī, và văn học Veda với Ngài Sīlācāra.

Vào năm 1963 Ngài được đề cử làm trụ trì chùa Bamaw thuộc tỉnh Mandalay. Kể từ đó, Ngài chuyên tâm dạy Phật Pháp cho chư tăng trong học viện, và bắt đầu triển khai chương trình giáo dục Phật giáo cho trẻ em ở các vùng lân cận. Những năm trước đó, Ngài cũng dạy Phật Pháp tại trường đại học Pāli Dakkhiṇārāma; Ngài dạy ngữ pháp Pāli, Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp kèm theo Chú Giải và Phụ Chú Giải. Ngài cũng là người sáng lập hội bảo trợ vật thực cho chư tăng trong khu vực Mandalay.

Khi chính phủ Myanmar khởi đầu dự án biên tập bộ từ điển Tam Tạng Pāli-Myanmar ngay sau cuộc kết tập Tam Tạng lần thứ 6, Ngài được bầu chọn làm thư ký của ban biên tập Dakkhiṇārāma (1 trong 5 ban biên tập được hình thành trong cả nước).

Với vai trò đó, Ngài luôn sử dụng những tài liệu quan trọng từ các nguồn tiếng Anh, và các cổ ngữ Prakrit, Sanskrit và Ardhamāgadhi. Ngoài ra, Ngài là tác giả và dịch giả của nhiều đầu sách liên quan đến ngữ pháp và kinh thư Pāli. Nổi bậc nhất là cuốn chú giải ngữ pháp Pāli Moggallāna bằng tiếng Miến, bản dịch từ tiếng Miến sang tiếng Pāli “Phương Pháp Thực Hành Thiền Tuệ” (2 tập) của Thiền sư Mahāsi và cuốn chú giải Therī-apadāna-dīpanī bằng tiếng Pāli mà từ trước đến nay trong chú giải Pāli chưa có. Ngài thường được các học giả xuất gia cũng như tại gia đến tham vấn những điểm khúc mắc trong ngữ pháp và kinh điển Pāli.

Năm 1980 khi ban lãnh đạo Tăng già toàn quốc soạn thảo và bổ sung các điều luật và hiến chương Giáo hội, Ngài Kumārābhivaṁsa được bầu làm thư ký của ban soạn thảo. Để tán thán và tuyên dương công đức của Ngài đối với cuộc kết tập Tam Tạng lần thứ 6 và các Phật sự nổi bậc khác, chính phủ Miến Điện dâng tặng danh hiệu Aggamahāganthavācakapaṇḍita (Bậc Đại Thượng Trí về Pháp Học) vào năm 1988. Ngưỡng mộ kiến thức uyên bác về văn chương và từ nguyên học, trường đại học Yangon cũng dâng tặng Ngài bằng tiến sĩ văn từ danh dự (D. Lit.) vào năm 2005.

Cho đến nay Ngài vẫn còn làm viện trưởng Phật học viện Bamaw tại Mandalay. Bên cạnh Phật sự giáo dục chư tăng trong học viện, Ngài còn dạy bộ Duyên Hệ (Paṭṭhāna) – bộ cuối cùng và khó nhất của Tạng Vi Diệu Pháp – cho các vị tham gia chương trình thi Tam Tạng.

Nguồn: Trung Tâm Hộ Tông

Để lại bình luận tại đây!