Câu chuyện về trưởng lão Meghiya

Câu chuyện về trưởng lão Meghiya

    HIỂU BIẾT TRỌN VẸN

    Những Bài Pháp Ngắn

    do Hòa Thượng Silānanda giảng

    Hòa thượng Kim Triệu hiệu đính

    Sư Khánh Hỷ soạn dịch

    10. CÂU CHUYỆN VỀ TRƯỞNG LÃO MEGHIYA

     

    Hôm nay, tôi sẽ nói với các bạn về một Nhà Sư có tên là Meghiya.

    Một lần nọ Đức Phật trú tại một nơi với trưởng lão Meghiya. Lúc bấy giờ Đức Phật chưa có thị giả thường trực nên trưởng lão Meghiya là thị giả của Đức Phật. Một hôm Trưởng lão Meghiya muốn vào làng khất thực nên xin phép Đức Phật. Đức Phật đồng ý. Khi khất thực về, trưởng lão đi ngang qua một con sông. Gần sông trưởng lão thấy có một khu rừng thật an tĩnh, an toàn, và đẹp đẽ. Trưởng lão nghĩ rằng, đây là một nơi thích hợp cho một Nhà Sư hành thiền; nếu Đức Phật cho phép trưởng lão sẽ đến đó để hành thiền. Sau khi đi bát về, trưởng lão Meghiya bạch với Đức Phật:

    “Bạch Đức Thế Tôn. Có một khu rừng thật an tịnh, xin Ngài cho con đến đó để hành thiền”.

    Đức Phật nói:

    “Hãy đợi đã,chúng ta chỉ có hai người ở đây. Hãy đợi cho đến khi có một vị Sư khác đến con hãy đi”.

    Nhưng trưởng lão Meghiya xin lần thứ hai. Đức Phật từ chối. Trưởng lão lại xin lần thứ ba. Khi trưởng lão xin đến lần thứ ba, Đức Phật nói:

    “Meghiya, trước đây khi con hỏi về thiền và việc thực hành thiền, Như Lai thường nói với con những gì? Con hãy làm những gì con thấy thích nghi.”

    Sau đó, trưởng lão Meghiya vào trong khu rừng hành thiền. Khi ở trong rừng, trưởng lão bị những dục lạc thế gian tràn ngập trong tâm. Trưởng lão rất ngạc nhiên khi có những tư tưởng này, bởi vì trưởng lão đi xuất gia với lòng tin tưởng nhiệt thành, muốn bỏ tất cả dục lạc thế gian, nhưng vừa vào khu rừng, ngồi xuống, những tư tưởng phiền não tới quấy rối. Thế là, ngay tối hôm đó trưởng lão Meghiya trở về gặp Đức Phật.

    Đức Phật nói:

    “Khi tâm thiếu thuần thục, chưa chín mùi giải thóat cần có năm điều kiện để vun bồi giúp cho tâm thuần thục chín mùi.”

    Đức Phật biết tâm của trưởng lão Meghiya chưa chín mùi nên không cho phép trưởng lão vào rừng hành thiền, nhưng vì trưởng lão Meghiya khẩn khoản mãi nên Đức Phật để trưởng lão đi. Nghe trưởng lão trở về kể lại những tình tiết và diễn trừ bất thiện, và vun bồi những điều thiện. Loại trừ bất thiện là loại trừ những điều xấu đã làm trong quá khứ và tránh những việc làm xấu trong hiện tại, trong tương lai. Vun bồi những việc thiện nghĩa là phải làm những điều thiện chưa làm và phát triển những điều thiện đã làm. Tóm lại, phải nỗ lực tinh tấn tránh xa điều ác và vun bồi những điều thiện.

    Khi hành Thiền Minh Sát, chúng ta cố gắng chánh niệm trên những đối tượng đang xảy ra trong hiện tại và tránh dính mắc ghét bỏ hay không ưa thích những đối tượng đó. Như vậy, nhờ chú tâm vào đề mục bằng chánh niệm khắn khít, chúng ta có thể tránh được hai loại tâm sở bất thiện đối với đề mục. Nếu chúng ta không nỗ lực chánh niệm, nếu chúng ta không cố gắng ghi nhận đề mục khi chúng xuất hiện hay diễn biến thì chúng ta không thể tránh được hai loại tâm sở bất thiện là tham lam, và sân hận đến quấy nhiễu. Cùng lúc, khi tâm chúng ta tránh được các phiền não trên thì tâm sẽ tràn ngập những tâm sở thiện như tín, niệm, định, huệ, xả v.v... Như vậy, khi hành thiền chúng ta cố gắng tuân theo lời Phật dạy, nỗ lực chánh niệm, nỗ lực tránh xa ác pháp, và nỗ lực trao dồi, tích lũy thiện pháp.

    5. Phải có trí tuệ. Đức Phật dạy cho Meghiya là phải có trí tuệ thấy rõ sự sinh diệt của vật chất và tâm. Đây là trí tuệ cao thượng và xuyên thấu vào sự vật để hoàn toàn chấm dứt mọi đau khổ. Ở đây Đức Phật muốn nói đến sự thực hành Tứ Niệm xứ, mặc dầu chữ Vipassanā không dùng khi Đức Phật nói: “Thầy Tỳ Khưu có trí tuệ, được trang bị trí tuệ xuyên thấu vào sự vật để thấy rõ sự sinh diệt.”

    Như vậy, chỉ khi nào hành Thiền Minh Sát bạn mới có thể thấy rõ sự sinh diệt của các đối tượng ghi nhận, sự sinh diệt của vật chất và tâm. Đó là một trong những tầng mức của Tuệ Minh Sát mà thiền sinh sẽ trải qua trên đường thực hành.

    Chỉ khi nào thiền sinh đạt được tầng mức này, thiền sinh mới được gọi là người bắt đầu thực hành Thiền Minh Sát (Āraddha visassaka). Ở tầng mức thấy được sự sinh diệt của vật chất và tâm này thì mới gọi là đạt được tầng mức vững chắc trong việc hành Thiền Minh Sát. Đây là tầng mức được Đức Phật gọi là cao thượng, thánh thiện hay trong sạch, không lẫn lộn những tâm sở bất thiện, và có đặc tính xuyên thấu. Xuyên thấu ở đây là xuyên thấu vào bản chất thật sự của sự vật. Được gọi là xuyên thấu vào bản chất thật sự của sự vật vì khi thấy được sự sinh diệt thì cũng thấy được sự vô thường, khổ và vô ngã, và sự hiểu biết này sẽ đưa đến chỗ hoàn toàn tận diệt mọi đau khổ. Khi thiền sinh thấy được sự sinh diệt của sự vật, nếu tiếp tục thực hành, thiền sinh sẽ thấy được sự diệt mất của tất cả sự vật. Rồi thiền sinh sẽ thấy tất cả sự vật đều đáng sợ, đáng chán v.v... Như vậy, thiền sinh đã tiến bộ từng tầng mức, từ tầng mức này đến tầng mức khác của trí tuệ cho đến khi trí tuệ chín muồi đạt được sự giác ngộ.

    Mặc dầu bài kinh này Đức Phật dạy cho trưởng lão Meghiya, nhưng chúng ta phải hiểu rằng những lời dạy trong kinh này dành cho tất cả chúng ta, đặc biệt là những người đang hành thiền. Bởi vậy, chúng ta phải phát triển năm đặc tính này cho đến lúc chín muồi, thuần thục đạt đến mục tiêu giải thóat cuối cùng.

    Tóm lại năm điều kiện cần thiết hay năm đặc tính cần có của một thiền sinh là:

    1. Có người bạn lành, người bạn thánh thiện.

    2. Giữ gìn giới luật trong sạch.

    3. Nói những lời nói đưa đến thiểu dục, tri túc, tĩnh lặng, độc cư, lời nói giúp ta tinh tấn thực hành giới, định, huệ.

    4. Nỗ lực loại trừ điều ác và vun bồi điều thiện.

    5. Hành Thiền Minh Sát để đạt đến chỗ thấy được sự sinh diệt của các hiện tượng.

    Nếu bạn tu tập vun bồi năm điều kiện như Đức Phật đã dạy, tâm của bạn sẽ thuần thục, chín muồi và sẽ giải thóat mọi đau khổ.

    Đức Phật lại dạy tiếp tục:

    “Này Meghiya người nào có được một người bạn thánh thiện, người đồng hành cao thượng, người hợp tác cao thượng thì có thể kỳ vọng rằng người đó cũng giữ giới trong sạch”.

    Nếu một vị Sư có bạn lành, bạn thánh thiện thì có thể kỳ vọng rằng vị Sư sẽ đó có đạo đức, vị Sư đó sẽ nói những gì thích hợp cho đời sống độc cư, giúp cho tâm trong sáng, vị Sư đó sẽ tinh tấn, định tâm, loại trừ bất thiện pháp và vun bồi thiện pháp, vị Sư đó sẽ có trí tuệ xuyên thấu, dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Như vậy, trong năm điều kiện trên, có người bạn lành là điều kiện căn bản. Một người có bạn lành thì sẽ hy vọng có được những điều kiện khác. Vậy chúng ta cần có một người bạn thánh thiện, một người bạn lành hay một vị thầy. Chúng ta có thể học hỏi nhiều từ người bạn lành, người bạn lành có thể dẫn dắt chúng ta trên chánh đạo và có thể giúp ta khỏi lạc đường. Vì vậy có một người bạn lành là một điều rất quan trọng.

    Một lần đại đức Ānanda bạch với Đức Phật:

    “Bạch Ngài, theo thiển ý con, người bạn lành đã hướng dẫn, hỗ trợ cho chúng ta một nửa đời sống”.

    Đức Phật trả lời:

    “Ānanda đừng nói vậy, Người bạn lành không phải hướng dẫn, hỗ trợ một nửa mà là hướng dẫn và hỗ trợ tòan thể đời sống thánh thiện".

    Không có người bạn lành nào bằng Đức Phật bởi vì Ngài đã khám phá ra Tứ Diệu Đế, bốn chân lý cao thượng bao gồm Bát Chánh Đạo. Và Đức Phật đã đem Bát Chánh Đạo ra hướng dẫn cho thế gian. Như vậy, Đức Phật là người bạn tốt nhất, thánh thiện nhất trong số các bạn tốt, bạn thánh thiện. Mặc dầu Đức Phật không còn tại thế, nhưng những lời dạy của Ngài còn đó. Điều tốt lành nhất là chúng ta hãy thân cận với chính Đức Phật. Đối với Đức Phật tôi không dám dùng chữ người bạn tốt. Chúng ta có Ngài là bậc thầy tốt, bậc thầy cao thượng, bậc thầy đáng tin cậy. Nếu chúng ta theo lời dạy dỗ của Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ hết đau khổ.

    Tiếp theo đó Đức Phật dạy:

    “Khi một Nhà Sư đã vững chắc trên năm điều kiện này cần phải vun bồi bốn điều khác nữa.”

    Đó là:
    1. Phải quán tưởng đến sự ô trược của cơ thể (Asubha).

    Vậy Đức Phật cũng đã khuyên Meghiya thực hành niệm thân ô trược để loại trừ tham ái, dính mắc vào cơ thể ta hay cơ thể người khác.

    2. Phải vun bồi và phát triển tâm từ.

    Vậy Đức Phật cũng đã khuyên Meghiya thực hành thiền niệm tâm từ để loại trừ sân hận. Hành thiền niệm tâm từ sẽ giúp chúng ta loại bỏ được sân hận, ác tâm, buồn rầu, chán ghét.

    3. Phải tu tập pháp niệm hơi thở.

    Như vậy, Đức Phật cũng dạy cho Meghiya thực hành niệm hơi thở Anapanasati. Niệm hơi thở để chấm dứt tư tưởng bông lung, lang bạt thường đến với chúng ta. Khi chánh niệm vào hơi thở có thể chấm dứt sự phóng tâm hay vọng tâm. Vậy chánh niệm vào hơi thở là phương pháp chấm dứt sự loạn tâm một cách tốt đẹp.

    4. Phải tu tập để thấy rõ vô thường.

    Muốn thấy rõ vô thường chúng ta phải hành Thiền Minh Sát, chỉ có Thiền Minh Sát mới giúp giác ngộ lý vô thường. Khi thiền sinh hành Thiền Minh Sát, thiền sinh thấy đối tượng một cách rõ ràng. Thiền sinh sẽ thấy đối tượng sinh diệt, và sẽ hiểu được sự vật là vô thường. Khi có tri giác về vô thường, thiền sinh có thể loại trừ được ngã mạn, tự cao tự đại. Đức Phật dạy rằng: “Người nào thấy được vô 

    thường thì ý niệm vô ngã sẽ được thiết lập vững chắc”. Có nghĩa là khi thấy bản chất vô thường của sự vật, bạn cũng thấy bản chất vô ngã của sự vật. Bản chất vô ngã là không thể kiểm soát, không thể điều khiển được. Ở đây, Đức Phật nói rằng: “Người nào thấy được vô thường thì thấy được vô ngã”. Khi bản chất vô ngã thấy rõ thì ngã mạn "tôi, ta" sẽ được loại trừ hoàn toàn. Khi ngã mạn đã được loại trừ hoàn toàn thì người đó đã đạt quả A La Hán, giác ngộ Niết Bàn.

    Trong bài này đầu tiên Đức Phật nói về năm điều kiện giúp cho tâm đi đến chín muồi giải thóat. Đức Phật nhấn mạnh đến người bạn tốt, người bạn thánh thiện. Khi có người bạn tốt thì hy vọng sẽ có bốn điều kế tiếp. Sau đó Đức Phật dạy Tỳ Khưu Meghiya Niệm Thân Ô Trược, Niệm Tâm Từ, Niệm Hơi Thở và cuối cùng là hành Thiền Minh Sát để thấy được vô thường của sự vật. Khi thấy được bản chất vô thường thì sẽ loại trừ được ngã mạn, tự kiêu, tự đại. Khi thấy vô thường của sự vật thì cũng thấy được vô ngã của sự vật. Khi thấy được bản chất vô ngã của sự vật thì sẽ loại trừ hoàn toàn ngã mạn nghĩa là sẽ đạt đến quả A La Hán.

    Tóm lại, trong khi hành thiền chúng ta phải cố gắng phát triển năm đặc tính: Có bạn lành.
    Giữ giới trong sạch.
    Nói lời thích hợp (là lời nói giúp ta tinh tấn thực hành giới, định, huệ).

    Nỗ lực loại trừ điều ác và vun bồi điều thiện.
    Hành Thiền Minh Sát đạt đến chỗ thấy được sự sinh diệt.

    Tiếp theo, chúng ta phải hành thiền trên những đề mục được Đức Phật khuyến khích. Trong bài giảng này Đức Phật khuyến khích chúng ta:

    Niệm Thân Ô Trược,

    Niệm Tâm Từ,

    Niệm Hơi Thở, và cuối cùng là

    Hành Thiền Minh Sát để thấy được vô thường của sự vật.

    Chỉ khi thấy được vô thường thì ta mới thấy bản chất vô ngã của sự vật. Khi thấy được bản chất vô ngã ta mới đạt Niết Bàn hay A La Hán đạo.

    Với sự kiên trì hành thiền, với sự nỗ lực tinh tấn tôi hy vọng các bạn sẽ đạt được mục đích tối thượng, giải thóat khỏi mọi đau khổ ngay trong kiếp sống này.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.