Cúng dường Pháp bảo

Tam Bảo - Tỳ Khứu Hộ Pháp

Trong thời Đức-Phật còn hiện hữu trên thế gian, có một vị Bà-la-môn đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, bạch rằng:

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con thành kính cúng dường Đức-Phật-bảo, cúng dường Đức-Tăng-bảo thì có Đức-Phật, chư tỳ-khưu-Tăng thọ nhận rõ ràng, còn thành kính cúng dường đến Đức-Pháp-bảo, thì con phải cúng dường bằng cách nào? Bạch Ngài.

Đức Phật truyền dạy rằng:

– Sacepi Brahmaṇa Dhammaratanaṃ pūjetukāmo ekaṃ bahussutaṃ pūjehi. (1)

– Này Bà-la-môn! Nếu con muốn cúng dường đến Đức-Pháp-bảo thì con nên cúng dường đến vị Đa-văn túc-trí (bahussuta).
Ông Bà-la-môn đảnh lễ Đức-Phật xong, xin phép lui ra và đi hỏi chư tỳ-khưu để biết vị nào là bậc Đa-văn túc-trí học nhiều hiểu rộng.

Chư tỳ-khưu chỉ dẫn, giới thiệu đến Ngài Trưởng-lão Ānanda là bậc Đa-văn-túc-trí (bahussuta) bậc Thủ-kho-tàng Pháp-bảo.

Ông Bà-la-môn tìm đến đảnh lễ Ngài Trưởng-lão Ānanda, rồi kính dâng đến Ngài Trưởng-lão bộ y trị giá 1.000 kahāpana (tiền Ấn-Độ ngày xưa). Ngài Trưởng-lão Ānanda thọ nhận bộ y quý giá ấy. Sau đó, Ngài Trưởng-lão Ānanda kính dâng bộ y ấy đến Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta là bậc Thống-lĩnh-pháp (Dhammasenāpati).

Hiện nay, Phật-giáo tại Myanmar còn có những Bậc Tipiṭakadhara và Tipiṭakakovida là Bậc cao-thượng-thông-thuộc và thấu-suốt Tam-tạng Pāḷi, và đặc biệt có những bậc Tipiṭakadhara Dhammabhaṇḍāgārika: Bậc cao-thượng-thấu-suốt Tam-tạng Pāḷi, Bậc thủ-kho-tàng Pháp-bảo Tam-tạng Pāḷi. Nếu thí-chủ có tác-ý đại-thiện-tâm hướng tâm đến cúng dường Đức-Pháp-bảo thì nên cúng dường đến các Bậc cao thượng ấy, gọi là cúng dường Đức-Pháp-bảo. Hoặc thí-chủ cúng dường đến Ngài Trưởng-lão Tipiṭakadhara: Bậc thông-thuộc Tam-tạng Pāḷi, hoặc Ngài Trưởng-lão Dvipiṭakadhara: Bậc thông-thuộc Nhị-tạng Pāḷi hoặc Ngài Trưởng-lão Ekapiṭakadhara: Bậc thông-thuộc Nhất-tạng Pāḷi, v.v… thậm chí quý vị sa-di, tỳ-khưu đang ngày đêm kiên trì học thuộc lòng Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi để tham dự kỳ thi Tam-tạng Pāḷi, cũng gọi là cúng dường Đức-Pháp-bảo.

Ghi chú (1). Bộ Chú-giải Pāthikavaggaṭṭhakathā, phần Dhammaratanapūjā (91).

Exit mobile version