Đại phẩm thứ Ba: Thiên nhãn ngữ, thiên nhĩ ngữ, giải thoát ngữ, ...

Đại phẩm thứ Ba: Thiên nhãn ngữ, thiên nhĩ ngữ, giải thoát ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA 

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP (ABHIDHAMMAPIṬAKA) 

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU) 

    CẢO BẢN 

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Saṅtakicco

    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt 

    --- 

    PHẨM THỨ BA 

     

     

    LỰC NGỮ (BALAKATHĀ)

    696.

    • Tự ngôn: Như Lai lực đi khắp cả Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực cũng là Thinh Văn lực, Thinh Văn lực cũng là Như Lai lực phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    697.

    • Tự ngôn: Như Lai lực đi khắp cả Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực cái đó Thinh Văn lực cũng cái đó ư? Thinh Văn lực cái đó Như Lai lực cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    698.

    • Tự ngôn: Như Lai lực đi khắp cả Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực thế nào Thinh Văn lực cũng thế đó, Thinh Văn lực thế nào Như Lai lực cũng thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    699.

    • Tự ngôn: Như Lai lực đi khắp cả Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Câu khởi, bài khởi, cách thuyết pháp, cách giảng pháp của Như Lai thế nào thì câu khởi, bài khởi, cách thuyết pháp, cách giảng pháp của Thinh Văn cũng thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    700.

    • Tự ngôn: Như Lai lực đi khắp cả Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn là ngôi Tập Tri (Jina), ngôi Giáo chủ, bực Chánh Biến Tri, ngôi Toàn Giác, bực Toàn Kiến, ngôi Pháp Chủ, bực Pháp Sở Y (Dhammapaṭisaraṇa) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh Văn cũng là ngôi Tập Tri (Jina), ngôi Giáo chủ, bực Chánh Biến Tri, ngôi Toàn Giác, bực Toàn Kiến, ngôi Pháp Chủ, bực Pháp Sở Y phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    701.

    • Tự ngôn: Như Lai lực đi khắp luôn Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai là bực có thể cho đạo chưa sanh phát sanh đặng, thành bực có thể cho đạo chưa phát hiện phát hiện đặng, là bực tường thuật đạo mà ai ai không từng tường thuật đặng, là bực biết đạo, là bực rõ đạo, là bực khôn khéo trong đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh Văn là bực có thể cho đạo chưa sanh phát sanh đặng, thành bực có thể cho đạo chưa phát hiện phát hiện đặng, là bực tường thuật đạo mà ai ai không tường thuật đặng, là bực biết đạo, là bực rõ đạo, là bực khôn khéo trong đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    702.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật với sự thái quá và bất cập của quyền (indrīya) đi khắp đến Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh Văn thành bực Toàn Tri, thành bực Toàn Kiến (Sabbadassāvī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    703.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn biết thị sở (ṭhāna) và phi sở (aṭhāna) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Thinh Văn biết thị sở và phi sở, chính do nhân đó, ông mới nói rằng Như Lai lực tức là cách biết theo thật với thị sở và phi sở đi khắp đến bực Thinh Văn như thế.

    704.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn biết dị thục quả thành tựu đặc biệt bằng cách đúng chỗ (ṭhāna), theo nhân nghiệp nguyện sắp (kammasamādāna) theo luôn cả quá khứ, hiện tại, vị lai phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Như Lai biết dị thục quả thành tựu đặc biệt bằng đúng sở (ṭhāna) theo nhân của nghiệp nguyện sắp (kammasamādāna) luôn cả quá khứ, hiện tại và vị lai thì chính do nhân đó, ông mới nói rằng Như Lai lực tức là cách biết theo thật dị thục quả thành tựu đặc biệt bằng phải sở với nhân của nghiệp nguyện sắp luôn cả quá khứ, hiện tại và vị lai đi khắp luôn bực Thinh Văn.

    705.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn biết tiến hành mà dẫn đi đến tất cả thú hướng (gati) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu nói rằng bực Thinh Văn biết tiến hành mà vẫn đi đến tất cả thú hướng (gati), chính do nhân đó, ông mới nói rằng Như Lai lực là cách biết theo thật tiến hành nó sẽ dẫn đi trong tất cả thú hướng (gati) khắp luôn đến Thinh Văn như vậy.

    706.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn biết vũ trụ có giới hạn khác khác, có giới hạn không phải là ít phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu nói rằng bậc Thinh Văn biết vũ trụ có giới hạn khác khác, có giới hạn chẳng phải ít, chính do nhân đó, ông mới nói rằng Như Lai lực tức là cách biết theo thật, chính vũ trụ nó có giới hạn khác khác, có giới hạn không phải ít luôn đến Thinh Văn.

    707.

    • Phản ngữ: Thinh Văn là bực biết nết na khác nhau của tất cả chúng sanh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Thinh Văn biết tánh nết khác nhau nơi tất cả chúng sanh, chính do nhân đó, ông mới nói rằng Như Lai lực là cách biết theo thật cùng tánh nết khác nhau nơi tất cả chúng sanh thì trùm luôn đến Thinh Văn.

    708.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn biết sự phiền muộn, sự hớn hở, cách xuất của thiền, giải thoát, định và nhập thiền phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Thinh Văn biết sự phiền muộn, sự hớn hở, cách xuất của thiền giải thoát, định và nhập thiền; chính do nhân đó, ông mới nói Như Lai lực tức là cách biết theo thật với sự buồn rầu, sự vui vẻ, cách xuất thiền, giải thoát, định và nhập thiền thì trùm khắp với Thinh Văn.

    709.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn Trí biết thành cơ quan nhớ đến uẩn chỗ từng nương ở trong thuở trước phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Thinh Văn Trí biết thành cơ quan nhớ đến uẩn chỗ từng nương ở trong thuở trước; chính do nhân đó, ông mới nói Như Lai lực tức là cách biết theo thật cùng trí thành cơ quan nhớ đến uẩn chỗ từng nương ở trong khi trước thời đi luôn cả với bực Thinh Văn.

    710.

    • Phản ngữ: Bực Thinh Văn biết sanh tử của tất cả chúng sanh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Thinh Văn biết sanh tử của tất cả chúng sanh chính do nhân đó, ông mới nói Như Lai lực là cách biết theo thật sự sanh tử của tất cả chúng sanh thời đi luôn đến bực Thinh Văn.

    711.

    • Phản ngữ: Tất cả lậu của Như Lai và cả bực Thinh Văn đều cũng mất đi hết phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Có nhân chi chi mà làm cho khác nhau giữa sự dứt lậu của Như Lai với sự dứt lậu của bực Thinh Văn hay là trong chặng giữa của sự giải thoát của Như Lai với sự giải thoát của bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không có.
    • Phản ngữ: Nếu mà không có nhân chi chi làm cho khác nhau trong chặng giữa sự dứt lậu của Như Lai với sự dứt lậu của bực Thinh Văn, hay là trong giữa sự giải thoát của Như Lai với sự giải thoát của bực Thinh Văn. Chính do nhân đó, ông mới nói rằng Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt mất của tất cả lậu thời đi luôn với bực Thinh Văn.

    712.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt mất của tất cả lậu luôn khắp đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải sở (ṭhāna) và chẳng phải sở (aṭhāna) đi luôn khắp với bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    713.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt mất của tất cả lậu luôn trùm bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh tử của tất cả chúng sanh luôn trùm đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    714.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải chỗ (ṭhāna) và phi chỗ (aṭhāna) không đi luôn đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt mất của tất cả lậu đó không đi luôn đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    715.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh, không đi luôn đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt tuyệt của tất cả lậu, không đi luôn đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    716.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật đối với sự thái quá và bất cập của quyền, không đi khắp đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở (ṭhāna) và phi cơ sở (aṭhāna), không đi khắp với bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    717.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật đối sự thái quá và bất cập của quyền, không đi luôn đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt mất của tất cả lậu, không đi khắp đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    718.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna), đi khắp đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực là cách biết theo thật đối với sự thái quá và bất cập của quyền, không đi luôn đến bực Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    719.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự dứt mất của tất cả lậu đi khắp đến Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật cùng sự thái quá và bất cập của quyền, đi khắp đến Thinh Văn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Lực ngữ

    ---

    THÁNH CHÚNG NGỮ (ARIYANTIKATHĀ)

    720.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) thành ra Thánh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Dự Lưu, thành quả Dự Lưu, thành đạo Nhứt Lai, thành quả Nhứt Lai, thành đạo Bất Hườn, thành quả Bất Hườn, thành đạo Ứng Cúng, thành quả Ứng Cúng, thành Niệm xứ, thành Chánh cần, thành Như ý túc, thành Quyền, thành Lực, thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    721.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) thành Thánh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có tiêu diệt (suññata) thành cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Có tiêu diệt thành cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Như Lai lưu ý phải xứ sở (ṭhāna) và phi xứ sở luôn, lưu ý lối tiêu diệt luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài lưu ý lối phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) luôn, Ngài lưu ý lối tiêu diệt luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội hiệp của hai cái xúc, của hai cái tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) thành Thánh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có vô chứng (animitta) làm cảnh phải chăng? ... Có phi nội (appaṇihita) làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Có phi nội (appaṇihita) làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai Ngài lưu ý lối phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) luôn, Ngài lưu ý lối phi nội luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Như Lai Ngài lưu ý lối phải cơ sở và phi cơ sở luôn, Ngài lưu ý lối phi nội luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội hiệp của hai thứ xúc, hai cái tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    722.

    • Tự ngôn: Niệm xứ thành Thánh có tiêu diệt (suññata) thành cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh, có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Niệm xứ thành Thánh, có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    723.

    • Tự ngôn: Chánh cần, Như ý túc, Quyền, Lực, Giác chi thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Giác chi thành Thánh có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    724.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh nhưng không nên nói rằng có tiêu diệt thành cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Niệm xứ thành Thánh nhưng không nên nói có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh, nhưng không nên nói có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Niệm xứ thành Thánh nhưng không nên nói có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh nhưng không nên nói có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh cần ... Giác chi thành Thánh nhưng không nên nói có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    725.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Dự Lưu, thành quả Dự Lưu ... thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    726.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Như Lai lưu ý về sanh và tử của tất cả chúng sanh luôn, Ngài lưu ý lối tiêu diệt luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Như Lai lưu ý lối sanh và tử của tất cả chúng sanh luôn, Ngài lưu ý lối tiêu diệt luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự tụ tập của hai thứ xúc, của hai cái tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Như Lai lưu ý lối sanh và tử của tất cả chúng sanh luôn, Ngài lưu ý lối phi nội luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Như Lai Ngài lưu ý lối sanh và tử của tất cả chúng sanh luôn, Ngài lưu ý lối phi nội luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội họp của hai thứ xúc, của hai cái tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    727.

    • Tự ngôn: Niệm xứ thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh, có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh cần ... Giác chi thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh, thành Thánh có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    728.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh, nhưng không nên nói có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Niệm xứ thành Thánh nhưng không nên nói có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    729.

    • Tự ngôn: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh, thành Thánh nhưng không nên nói có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh cần ... Giác chi thành Thánh nhưng không nên nói có phi nội làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    730.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận của tất cả lậu thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    731.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận của tất cả lậu thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    732.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở không nên nói rằng thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu thời không nên nói rằng thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    733.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh, không nên nói rằng thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu thời không nên nói rằng thành Thánh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    734.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở cũng thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu thành Thánh có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong cơ sở trúng và phi cơ sở cũng thành Thánh có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    735.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu thành Thánh có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thời thành Thánh có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    736.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở thành Thánh nhưng không nên nói có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu thành Thánh nhưng không nên nói rằng có tiêu diệt làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách hiểu theo thật trong phải cơ sở và phi cơ sở (aṭhāna) thành Thánh nhưng không nên nói có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận tất cả lậu cũng thành Thánh, nhưng không nên nói có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    737.

    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sanh và tử của tất cả chúng sanh thành Thánh nhưng không nên nói có tiêu diệt làm cảnh ... có vô chứng làm cảnh ... có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như Lai lực tức là cách biết theo thật trong sự tận lậu tất cả cũng thành Thánh nhưng không nên nói có phi nội làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Thánh chúng ngữ

    ---

    GIẢI THOÁT NGỮ (VIMUCCATIKATHĀ)

    738.

    • Tự ngôn: Tâm có Ái (rāga) giải thoát đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm đồng sanh với Ái, sanh chung với Ái, hỗn hợp với Ái, tương ưng với Ái, hiện chung với Ái, chuyển đi theo Ái thành bất thiện, thành hiệp thế, thành cảnh của lậu, thành cảnh của triền, thành cảnh của phược, thành cảnh của bộc, thành cảnh của phối, thành cảnh của cái, thành cảnh của khinh thị, thành cảnh của thủ, thành cảnh của phiền não giải thoát đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    739.

    • Tự ngôn: Tâm có Xúc giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là Xúc và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Ái giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là cả Ái và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    740.

    • Tự ngôn: Tâm có Thọ ... Tâm có Tưởng ... Tâm có Tư ... Tâm có Tuệ giải thoát đặng, giải thoát cả hai thứ tức là cả Tuệ và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Ái giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là cả Ái và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    741.

    • Tự ngôn: Tâm có Xúc, có Ái giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là cả Xúc và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải thoát cả hai tức là cả Ái và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    742.

    • Tự ngôn: Tâm có Thọ, có Ái ... Tâm có Tưởng, có Ái ... Tâm có Tuệ, có Ái giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là cả Tuệ và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải thoát cả hai tức là cả Ái và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    743.

    • Tự ngôn: Tâm có Sân giải thoát đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm đồng sanh với Sân, sanh chung với Sân, hỗn hợp với Sân, tương ưng với Sân hiện chung với Sân, biến chuyển đi theo Sân, thành bất thiện, thành vô ký, thành cảnh của lậu ... thành cảnh của phiền não giải thoát đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    744.

    • Tự ngôn: Tâm có Xúc giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là cả Xúc và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Sân giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là cả Sân và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    745.

    • Tự ngôn: Tâm có Thọ ... Tâm có Tưởng ... Tâm có Tư ... Tâm có Tuệ giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Tuệ và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Sân giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Sân và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    746.

    • Tự ngôn: Tâm có Xúc, có Sân giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Xúc và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải thoát cả hai tức là luôn cả Sân và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    747.

    • Tự ngôn: Tâm có Thọ, có Sân ... Tâm có Tưởng, có Sân ... Tâm có Tư, có Sân ... Tâm có Tuệ, có Sân giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Tuệ và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải thoát cả hai tức là luôn cả Sân và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    748.

    • Tự ngôn: Tâm có Si giải thoát đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm đồng sanh với Si sanh chung với Si, hỗn hợp với Si, tương ưng với Si, đồng hiện với Si, chuyển đi theo Si thành bất thiện, thành hiệp thế, thành cảnh của lậu ... thành cảnh của phiền não giải thoát đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    749.

    • Tự ngôn: Tâm có Xúc giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Xúc và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Si giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Si và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    750.

    • Tự ngôn: Tâm có Thọ ... Tâm có Tưởng ... Tâm có Tư ... Tâm có Tuệ giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Tuệ và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Si giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Si và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    751.

    • Tự ngôn: Tâm có Xúc, có Si giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Xúc và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải thoát cả hai tức là luôn cả Si và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    752.

    • Tự ngôn: Tâm có Thọ, có Si ... Tâm có Tưởng, có Si ... Tâm có Tư, có Si ... Tâm có Tuệ, có Si, giải thoát đặng, giải thoát cả hai tức là luôn cả Tuệ và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải thoát cả hai tức là luôn cả Si và Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    753.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tâm có Ái, có Sân, có Si giải thoát đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm xa lìa Ái, xa lìa Sân, xa lìa Si, dứt phiền não là giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó tâm có Ái, có Sân, có Si cũng giải thoát đặng chớ gì !

    Dứt Giải thoát ngữ

    ---

    GIẢI THOÁT NGÃ MẠN NGỮ (VIMUCCAMANAKATHA)

    754.

    • Tự ngôn: Tâm mà đã giải thoát còn đang giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Một phần đã giải thoát, một phần nữa chưa đặng giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    755.

    • Tự ngôn: Một phần đã giải thoát, một phần nữa chưa giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Một phần thành Dự Lưu, một phần nữa không thành Dự Lưu, một phần đến rồi đã đặng, về phần đã đắc chứng, đã làm cho rõ, đang vào đến, đang đụng chạm với thân thuộc quả Dự Lưu, một phần nữa vẫn không đụng chạm với thân cùng quả Dự Lưu, một phần thành bực Thất Lai (Sattakhattuparama), bực Lục Lai (Kolaṅkola), bực Nhứt Lai (Ekabījī) hiệp với sự đức tin mà không lay động trong Phật bảo ... Pháp bảo ... Tăng bảo ... hiệp với Thánh giới nhứt định, một phần nữa không hiệp với Thánh giới nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    756.

    • Tự ngôn: Một phần đã giải thoát, một phần nữa chưa giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Một phần thành Nhứt Lai, một phần nữa không thành Nhứt Lai, một phần đã đến, đã đặng trọn đắc chứng rồi, đã làm cho rõ rệt, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân cùng quả Nhứt Lai, một phần nữa vẫn không đụng chạm với thân cùng quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    757.

    • Tự ngôn: Một phần đã giải thoát, một phần nữa chưa giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Một phần thành bực Bất Lai, một phần không thành bực Bất Lai, một phần đã đến, đã đặng trọn, đã đắc chứng, đã làm cho rõ, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân cùng quả Bất Lai, một phần nữa vẫn không đụng chạm với thân cùng quả Bất Lai, một phần nữa thành Bất Lai, bực Trung bang bất hườn (Antarāparinibbāyī), bực Sanh bang bất hườn (Upahaccaparinibbāyī), bực Vô hành bang bất hườn (Asaṅkhāra-parinibbāyī), bực Hữu hành bang bất hườn (Sasaṅkhārāparinibbāyī), bực Thượng lưu bang bất hườn (Uddhaṅsoto akanitthagāmī), một phần nữa không thành bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    758.

    • Tự ngôn: Một phần đã giải thoát, một phần nữa chưa giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Một phần thành La Hán, một phần nữa không thành La Hán, một phần đã đến, đã đặng trọn, đã đắc chứng, đã làm cho rõ, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân cùng quả La Hán, một phần nữa vẫn không đụng chạm với thân cùng quả La Hán, một phần đã xa lìa Ái, Sân, Si ... một phần đã làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ, một phần nữa không làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    759.

    • Tự ngôn: Tâm mà đã giải thoát, vẫn còn giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm đã giải thoát trong sát-na sanh, vẫn còn giải thoát trong sát-na diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    760.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tâm đã giải thoát còn đang giải thoát phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng khi người ấy đang biết thế này, đang thấy thế này, tâm vẫn giải thoát xa lìa Dục lậu, tâm vẫn giải thoát xa lìa Hữu lậu, tâm vẫn giải thoát xa lìa Vô minh lậu. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, Tâm đã giải thoát cũng còn đang giải thoát chớ gì!

    761.

    • Tự ngôn: Tâm đã giải thoát còn đang giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Người ấy khi tâm đã đình trụ, thành tâm thanh tịnh trong sạch không có phiền não cơ quan nịnh hót, xa lìa tùy phiền não thành tâm mềm vừa với công chuyện, đến sự thành tâm không lay động đã đình trụ thế này, vẫn hướng tâm đặng đi đến tuệ, thành cơ quan tuyệt mất lậu”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó, thời không nên nói tâm đã giải thoát còn đang giải thoát.

    762.

    • Tự ngôn: Tâm đang giải thoát vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm đang dục vọng, đang chống báng, đang tối tăm, đang phiền muộn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tâm chỉ có đã dục vọng và đã không dục vọng, đã chống đối và đã không chống đối, đã tối tăm và đã không tối tăm, đã dứt và đã không dứt, đã bể và đã không bể mà duyên đã trợ và duyên đã không trợ bao nhiêu đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà tâm chỉ có đã dục vọng và đã không dục vọng, đã chống đối và đã không chống đối, đã tối tăm và đã không tối tăm, đã dứt và đã không dứt, đã bể và đã không bể mà duyên đã trợ và duyên (paccaya), đã không trợ bao nhiêu đó thời không nên nói rằng tâm đang giải thoát vẫn có.

    Dứt Giải thoát ngã mạn ngữ

    ---

    ĐỆ BÁT NGỮ (AṬṬHAMAKA KATHA)

    763.

    • Tự ngôn: Người thứ tám đã bài trừ cơ quan bao trùm tức là Tà kiến đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành bực Dự Lưu, thành bực đã đến, đặng phần rồi, đã đắc chứng, đã làm cho rõ, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân thuộc quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    764.

    • Tự ngôn: Người thứ tám đã bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành Dự Lưu, thành bực đã đến ... vẫn đụng chạm với thân cùng quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    765.

    • Tự ngôn: Người thứ tám đã bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám đã bài trừ tùy miên tức là Tà kiến, đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ tùy miên tức là Hoài nghi ... Giới cấm thủ, khinh thị đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    766.

    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ tùy miên tức là Hoài nghi đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ tùy miên tức là Tà kiến ... Giới cấm thủ, khinh thị đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    767.

    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ tùy miên tức là Tà kiến chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ tùy miên tức là Tà kiến chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ tùy miên tức là Hoài nghi ... Giới cấm thủ, khinh thị chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ Giới cấm thủ, khinh thị chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi chưa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    768.

    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám đã làm cho đạo phát sanh để bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám đã làm cho Niệm xứ phát sanh ... Chánh cần ... Giác chi phát sanh để bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    769.

    • Tự ngôn: Người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám đã làm cho đạo phát sanh ... đã làm cho Giác chi phát sanh để bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    770.

    • Tự ngôn: Người thứ tám không đặng làm cho đạo phát sanh để bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cơ quan vây phủ tức là Tà kiến mà người thứ tám bài trừ đặng rồi với pháp phi đạo thành hiệp thế, thành cảnh của lậu, thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám không đặng làm cho Niệm xứ ... Giác chi sanh ra để bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cơ quan vây phủ tức là Tà kiến mà người thứ tám đã bài trừ đặng bằng pháp phi đạo thành hiệp thế, thành cảnh của lậu ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    771.

    • Tự ngôn: Người thứ tám đã không đặng làm cho đạo phát sanh ... không đặng làm cho Niệm xứ ... không đặng làm cho Giác chi phát sanh để bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi mà người thứ tám đã bài trừ đặng bằng pháp phi đạo thành hiệp thế, thành cảnh của lậu ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    772.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cơ quan vây phủ tức là Tà kiến còn sẽ sanh phải chăng? Tự ngôn: Sẽ không sanh nữa.
    • Phản ngữ: Nếu nói rằng sẽ không sanh nữa, chính do nhân đó mới nói người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi.

    773.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi còn sẽ sanh ra phải chăng? Tự ngôn: Sẽ không phát sanh.
    • Phản ngữ: Nếu mà nói sẽ không phát sanh, chính do nhân đó mới nói người thứ tám bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi.

    774.

    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi do giải rằng sẽ không sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ tùy miên tức là Tà kiến đặng rồi do giải rằng sẽ không sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    775.

    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi do giải rằng sẽ không sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ tùy miên tức là Hoài nghi ... Giới cấm thủ, khinh thị đặng rồi do giải rằng sẽ không sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    776.

    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi do giải rằng sẽ không phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ tùy miên tức là Hoài nghi ... Giới cấm thủ, khinh thị đặng rồi do giải rằng sẽ không phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    777.

    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi do giải rằng sẽ không phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người bực Chuyển Biến (Gotrabhū) gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Tà kiến đặng rồi do giải rằng sẽ không phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    778.

    • Tự ngôn: Người thứ tám gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi do giải rằng sẽ không phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người bực Chuyển Biến (Gotrabhū) gọi là bài trừ cơ quan vây phủ tức là Hoài nghi đặng rồi do giải rằng sẽ không phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Đệ bát ngữ (Aṭṭhamakakathā)

    ---

    ĐỆ BÁT QUYỀN NGỮ (AṬṬHAMAKASSAINDRIYAKATHA)

    779.

    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám không có đức tin phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    780.

    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Cần quyền ... không có Niệm quyền ... không có Định quyền ... không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám không có tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    781.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám có Cần ... có Niệm ... có Định ... có Tuệ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    782.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có ý, có Ý quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin, có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám có ý, có Ý quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có tuệ, có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    783.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có hỷ (thọ), có Hỷ quyền ... có Mạng quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám có mạng, có Mạng quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có cần ... có tuệ, có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    784.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin nhưng không có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có ý nhưng không có Ý quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    785.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin nhưng không có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có hỷ (thọ) nhưng không có Hỷ quyền ... có mạng nhưng không có Mạng quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    786.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có tuệ nhưng không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có ý nhưng không có Ý quyền ... có hỷ (thọ) nhưng không có Hỷ quyền ... có mạng nhưng không có Mạng quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    787.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành người không có đức tin phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Cần quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành người lười biếng, bỏ sự Tinh tấn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Niệm quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành người thất niệm, không có lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Định quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành người không có định, có tâm yếu ớt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    788.

    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành người có trí thô sơ, khờ khạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    789.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin và đức tin ấy thành nhân xuất luân hồi (niyyānika) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói rằng người thứ tám có đức tin và đức tin ấy thành cơ quan xuất luân hồi thời không nên nói người thứ tám không có Tín quyền.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có cần và cần ấy thành nhân xuất luân hồi ... có niệm và niệm ấy thành nhân xuất luân hồi, có định và định ấy thành nhân xuất luân hồi, có tuệ và tuệ ấy thành nhân xuất luân hồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói rằng người thứ tám có tuệ và tuệ ấy thành nhân xuất luân hồi thời không nên nói người thứ tám không có Tuệ quyền.

    790.

    • Tự ngôn: Người bực thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai (Sakadāgāmiphala) có đức tin có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin, có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực Tiến Hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai có tuệ, có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có tuệ, có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    791.

    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai ... Bực thật hành để làm cho rõ quả La Hán có đức tin, có Tín quyền ... có tuệ, có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám có tuệ, có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    792.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin nhưng không có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai có đức tin nhưng không có Tín quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thứ tám có tuệ nhưng không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai có tuệ nhưng không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    793.

    • Tự ngôn: Người thứ tám có đức tin nhưng không có Tín quyền ... có tuệ nhưng không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai ... bực thật hành để làm cho rõ quả La Hán có tuệ nhưng không có Tuệ quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    794.

    • Tự ngôn: Người thứ tám không có Ngũ quyền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Quyền đây có năm cách. Năm cách đó ra sao? Một là Tín quyền, hai là Cần quyền, ba là Niệm quyền, bốn là Định quyền, năm là Tuệ quyền. Đây là Ngũ quyền, này chư Phíc-khú, do sự đầy đủ của năm quyền này mới thành La Hán, sụt hơn đó cũng thành bực thật hành để làm cho rõ quả La Hán, sụt hơn đó cũng thành bực Bất Lai, sụt hơn đó cũng thành bực thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai, sụt hơn đó cũng thành Nhứt Lai, sụt hơn đó cũng thành bực thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai, sụt hơn nữa cũng thành bực Thất Lai, sụt hơn đó cũng thành bực thật hành để làm cho rõ quả Thất Lai. Này chư Phíc-khú, người nào không có Ngũ quyền này thì đối với các cách Như Lai gọi người ấy là người bên ngoài, thành bực đình trụ trong phía phàm phu”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thứ tám thành người bên ngoài, thành bực đình trụ trong phía phàm phu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó người thứ tám cũng có Ngũ quyền chớ gì !

    Dứt Đệ bát quyền ngữ

    ---

    THIÊN NHÃN NGỮ (DIBBACAKKHUKATHA)

    795.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn (Maṅsacakkhu) đã có pháp ủng hộ thì thành Thiên nhãn (Dibbacakkhu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhục nhãn cũng là Thiên nhãn, Thiên nhãn cũng là Nhục nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    796.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn đã có pháp bảo trợ thời thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhục nhãn như thế nào thời Thiên nhãn cũng như thế ấy, Thiên nhãn như thế thì Nhục nhãn cũng như thế ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    797.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn đã có pháp bảo trợ thời thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhục nhãn cái đó Thiên nhãn cũng cái đó, Thiên nhãn cái đó Nhục nhãn cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    798.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã ủng hộ thời thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tánh chất quyền lực cảnh giới (gocara) của Nhục nhãn như thế nào thời tánh chất quyền lực cảnh giới của Thiên nhãn cũng như thế ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    799.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã ủng hộ thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành do thủ rồi thành phi do thủ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    800.

    • Tự ngôn: Thành do thủ rồi thành phi do thủ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Dục giới rồi thành Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    801.

    • Tự ngôn: Thành Dục giới rồi thành Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc giới rồi thành Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    802.

    • Tự ngôn: Thành Sắc giới rồi thành Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành liên quan luân hồi (pariyāpannā) rồi thành bất liên quan luân hồi (apariyāpannā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    803.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã ủng hộ thời thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiên nhãn mà pháp đã ủng hộ rồi cũng thành Nhục nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    804.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp đã ủng hộ rồi thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiên nhãn mà pháp đã ủng hộ rồi thành Tuệ nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    805.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp hộ trợ rồi thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiên nhãn mà pháp bảo trợ rồi thành Nhục nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    806.

    • Tự ngôn: Nhục nhãn mà pháp bảo trợ rồi thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn chỉ có hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    807.

    • Tự ngôn: Nhãn chỉ có hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Nhãn có ba tức là Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng nhãn có ba tức là Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn thì cũng không nên nói rằng nhãn chỉ có hai thứ đó.

    808.

    • Tự ngôn: Nhãn chỉ có hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nhãn theo đây có ba thứ. Ba thứ đó ra sao? Nhục nhãn, Thiên nhãn,Tuệ nhãn; nhãn có ba thứ như đây vậy.
    • Tự ngôn: Đức Phật - bực Thượng Thiện (Purisuttama)- có phán: “Nhãn đây có ba tức là Nhục nhãn, Thiên nhãn và Tuệ nhãn đã sắp chót vót, sự phát sanh của Nhục nhãn thành nẻo của Thiên nhãn thời khi nào trí tức là Tuệ nhãn chót vót đã phát sanh lên thì khi ấy vẫn vượt khỏi tất cả khổ do cách đặng nhãn ấy”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó không nên nói nhãn chỉ có hai thứ đó.

    Dứt Thiên nhãn ngữ

    ---

    THIÊN NHĨ NGỮ (DIBBASOTA KATHĀ)

    809.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ mà pháp đã hộ trợ thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhục nhĩ cũng là Thiên nhĩ, Thiên nhĩ cũng là Nhục nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    810.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ (Maṅsato) mà pháp đã hộ trợ thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhục nhĩ như thế nào thì Thiên nhĩ cũng như thế đó; Thiên nhĩ như thế nào thì Nhục nhĩ cũng như thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    811.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ mà pháp đã hộ trợ thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhục nhĩ cái đó Thiên nhĩ cũng cái đó vậy. Thiên nhĩ cái đó, Nhục nhĩ cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    812.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ mà pháp đã hộ trợ thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tánh chất quyền lực cảnh giới của Nhục nhĩ như thế nào thời tánh chất quyền lực cảnh giới của Thiên nhĩ cũng như thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    813.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ mà pháp hộ trợ rồi thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành do thủ rồi thành phi do thủ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    814.

    • Tự ngôn: Thành do thủ rồi thành phi do thủ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Dục giới rồi thành Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    815.

    • Tự ngôn: Thành Dục giới rồi thành Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc giới rồi thành Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    816.

    • Tự ngôn: Thành Sắc giới rồi thành Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành liên quan luân hồi rồi thành bất liên quan luân hồi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    817.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ mà pháp hộ trợ rồi thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiên nhĩ mà pháp hộ trợ rồi cũng thành Nhục nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    818.

    • Tự ngôn: Nhục nhĩ mà pháp hộ trợ rồi thành Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhĩ chỉ có một thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    819.

    • Tự ngôn: Nhĩ chỉ có một thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Nhĩ chỉ có 2 thứ tức là Nhục nhĩ và Thiên nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng nhĩ chỉ có 2 thứ tức là Nhục nhĩ và Thiên nhĩ thời không nên nói nhĩ chỉ có 2 thứ đó!

    Dứt Thiên nhĩ ngữ

    ---

    TÙY NGHIỆP HÀNH TRÍ NGỮ (YATHAKAMMUPAGATAÑAṆAKATHA)

    820.

    • Tự ngôn: Tùy nghiệp hành trí thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Làm để trong lòng cùng sự mà chúng sanh hành vi theo nghiệp luôn, thấy sắc đặng bằng Thiên nhãn luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    821.

    • Tự ngôn: Làm để trong lòng cùng sự mà chúng sanh hành vi theo nghiệp luôn, thấy sắc đặng bằng Thiên nhãn luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành cách tập hợp của 2 cái xúc, của 2 thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    822.

    • Tự ngôn: Tùy nghiệp hành trí thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Làm trong tâm cùng nói rằng: “Chúng sanh những đây hả các Ngài”, luôn như thế làm trong tâm cùng nói rằng: “Thành người hiệp với thân ác”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người hiệp với khẩu ác”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người hiệp với ý ác”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người mắng nhiếc chư Thánh”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành Tà kiến”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Nguyện sắp đặt nghiệp tức là Tà kiến”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Những chúng sanh đó đã vào đến nơi khổ thú, cảnh khổ Ngạ quỉ, Địa ngục sau khi chết”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Hay là những chúng sanh này các Ngài”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người hiệp với thân thiện”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người hiệp với khẩu thiện”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người hiệp với ý thiện”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành người không mắng nhiếc chư Thánh”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Thành Chánh kiến”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Nguyện sắp nghiệp tức là Chánh kiến”, luôn như thế làm để trong tâm cùng nói rằng: “Những chúng sanh đó đã vào đến nơi lạc thú, thiên đường lúc sau khi chết rồi”, như thế luôn thấy sắc bằng Thiên nhãn luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    823.

    • Tự ngôn: Tùy nghiệp hành trí thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Làm để trong tâm cùng nói rằng: “Những chúng sanh đây hả các Ngài”, như thế luôn ... làm để trong tâm cùng nói rằng: “Những chúng sanh đó đã đặng vào đến nơi lạc thú, thiên đường sau khi chết rồi”, như thế luôn thấy sắc bằng Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành cách hội hiệp của hai thứ xúc, của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    824.

    • Tự ngôn: Tùy nghiệp hành trí thành Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có người thành bực không có Thiên nhãn, thành bực đã không đắc trọn phần, không đắc chứng, đã không làm cho tỏ Thiên nhãn nhưng biết đặng sự vật nơi tất cả chúng sanh hiện hành theo nghiệp vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói cũng có người thành bực không có Thiên nhãn, thành bực đã không đắc trọn, đã không chứng, đã không làm cho tỏ Thiên nhãn nhưng đặng biết sự vật nơi tất cả chúng sanh hiện thành theo nghiệp vẫn có thời không nên nói rằng tùy nghiệp hành trí là Thiên nhãn.

    825.

    • Tự ngôn: Tùy nghiệp hành trí là Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta) biết sự vật nơi tất cả chúng sanh hiện hành theo nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ngài Xá Lợi Phất biết sự vật nơi tất cả chúng sanh hiện hành theo nghiệp thời không nên nói tùy nghiệp hành trí là Thiên nhãn.

    826.

    • Tự ngôn: Ngài Xá Lợi Phất biết sự vật nơi tất cả chúng sanh hiện hành theo nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngài Xá Lợi Phất có Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    827.

    • Tự ngôn: Ngài Xá Lợi Phất có Thiên nhãn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngài Xá Lợi Phất có nói lời như vầy: “Cách lập hy vọng hầu đặng tiền kiếp trí (pubbenivāsañāṇa), thiên nhãn trí (dibbacakkhuñāṇa), tha tâm trí (cetopariyañāṇa), thần túc (iddhividhi), sự trong ngần của nhĩ giới và trí tử sanh (cutūppātañāṇa) của ta chưa có”. Như đây thật là bài Kinh vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói tùy nghiệp hành trí là Thiên nhãn như đây.

    Dứt Tùy nghiệp hành trí ngữ

    THU THÚC NGỮ (SAṂVARAKATHA)

    828.

    • Tự ngôn: Sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc cũng vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    829.

    • Tự ngôn: Sự không thu thúc không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc cũng không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    830.

    • Tự ngôn: Giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc phải chăng? Sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc nào thì sự không thu thúc ấy cũng vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ngài nên lãnh hội chinh lệ (niggaha) nếu mà giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc, thời sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên. Chính do nhân đó (Ngài) mới nói rằng giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc nào thì sự không thu thúc ấy cũng vẫn có trong hàng Chư thiên, mà Ngài nói trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói rằng giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc mà sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên nhưng không nên nói giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc nào thì sự không thu thúc ấy cũng vẫn có trong hàng Chư thiên như thế là sai! Nhưng nếu không nên nói rằng giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc nào thì sự không thu thúc ấy cũng vẫn có trong hàng Chư thiên, cũng không nên nói giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc mà sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên. Chỗ Ngài nói trong vấn đề đó như vầy: “Nên nói đặng rằng giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc mà sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên, nhưng không nên nói rằng giới là sự thu thúc từ nơi sự không thu thúc nào thì sự không thu thúc ấy cũng vẫn có trong hàng Chư thiên như thế vậy là sai!

    831.

    • Tự ngôn: Sự thu thúc vẫn có trong nhân loại, sự không thu thúc cũng vẫn có trong đám nhân loại ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên, sự không thu thúc cũng vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    832.

    • Tự ngôn: Sự thu thúc vẫn có trong hàng Chư thiên, sự không thu thúc vẫn không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc vẫn có trong nhân loại, sự không thu thúc không có trong nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    833.

    • Tự ngôn: Cách tránh xa sát sanh vẫn có trong Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sát sanh cũng vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách tránh xa nhân thành cơ sở của sự dễ duôi như là uống nước say tức là rượu và men vẫn có trong Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhân thành chỗ cơ sở của sự dễ duôi như là uống nước say tức là rượu và men cũng vẫn có trong Chư thiên ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    834.

    • Tự ngôn: Sát sanh vẫn không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tránh xa sát sanh cũng không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tránh xa nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men cũng không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    835.

    • Tự ngôn: Cách tránh xa sát sanh vẫn có trong nhân loại, sát sanh cũng vẫn có trong nhân loại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tránh xa sát sanh vẫn có trong hàng Chư thiên, sát sanh cũng vẫn có trong hàng Chư thiên ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách tránh xa nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men vẫn có trong nhân loại, thành nhân cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men cũng vẫn có trong nhân loại đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tránh xa nhân cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men vẫn có trong hàng Chư thiên, nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men cũng vẫn có trong hàng Chư thiên ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    836.

    • Tự ngôn: Cách tránh xa sát sanh vẫn có trong hàng Chư thiên, sát sanh không có trong hàng Chư thiên ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tránh xa sát sanh vẫn có trong nhân loại, sát sanh không có trong nhân loại ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách tránh xa nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men vẫn có trong hàng Chư thiên; nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men không có trong hàng Chư thiên đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tránh xa nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men vẫn có trong nhân loại; nhân thành cơ sở của sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men không có trong nhân loại ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    837.

    • Phản ngữ: Sự thu thúc không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Tất cả Chư thiên thành bực sát sanh, thành bực thu đạo, thành bực tà dâm, thành bực vọng ngữ, thành bực đình trụ trong sự dễ duôi là uống nước say tức là rượu và men phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu cách ấy thời sự thu thúc cũng vẫn có trong hàng Chư thiên chứ gì!

    Dứt Thu thúc ngữ

    VÔ TƯỞNG NGỮ (ASAÑÑAKATHA)

    838.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong chúng sanh vô tưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tưởng hữu (saññābhava), thành tưởng thú hướng (saññāgati), thành tưởng ngã trụ (saññāsattāvāsa), thành tưởng luân hồi, thành tưởng sinh (saññāyoni), thành tưởng tự thân báo (saññāttabhāvapaṭilābha) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    839.

    • Tự ngôn: Thành vô tưởng hữu, thành vô tưởng thú hướng, thành vô tưởng tự trụ, thành vô tưởng luân hồi, thành vô tưởng sinh, thành vô tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành vô tưởng hữu, thành vô tưởng thú hướng (gati), thành vô tưởng tự trụ, thành vô tưởng luân hồi, thành vô tưởng sinh, thành vô tưởng tự thân báo thời không nên nói tưởng vẫn có trong chúng sanh vô tưởng.

    840.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong chúng sanh vô tưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Ngũ uẩn hữu, thành ngũ uẩn thú (gati), chúng sanh trụ (sattāvāsa), luân hồi, sinh (yoni), ngã thân báo (attabhāvapaṭilābha) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    841.

    • Tự ngôn: Thành Nhứt uẩn hữu, thành nhứt uẩn thú (gati), chúng sanh trụ, luân hồi, sinh (yoni), ngã thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành nhứt uẩn hữu, thú (gati), chúng sanh trụ, luân hồi, sinh (yoni), ngã thân báo thời không nên nói tưởng vẫn có trong chúng sanh vô tưởng.

    842.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong chúng sanh vô tưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Làm việc mà phải làm với tưởng, đặng với tưởng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    843.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả nhân loại và đó thành tưởng hữu, thành tưởng thú (gati), thành tưởng chúng sanh trụ, thành tưởng luân hồi, thành tưởng sinh (yoni), thành tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong chúng sanh vô tưởng và đó thành tưởng hữu, thành tưởng thú (gati), thành tưởng chúng sanh trụ, thành tưởng luân hồi, thành tưởng sinh (yoni) thành tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    844.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả nhân loại và đó thành Ngũ uẩn hữu, thú (gati), chúng sanh trụ, luân hồi, sinh (yoni), ngã thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả vô tưởng và thành Ngũ uẩn hữu, thú (gati), chúng sanh trụ, luân hồi, sinh (yoni), tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    845.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả nhân loại, làm việc mà phải làm với tưởng, đặng với Tưởng ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong cả người vô tưởng, làm việc mà phải làm với tưởng, đặng với tưởng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    846.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng và đó thành vô tưởng hữu, thành vô tưởng thú (gati), thành vô tưởng chúng sanh trụ, thành vô tưởng luân hồi, thành vô tưởng sinh (yoti), thành vô tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả nhân loại và đó thành vô tưởng hữu, thành vô tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... .

    847.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng và đó thành nhất uẩn hữu, thú (gati), chúng sanh trụ, luân hồi, sinh, tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả nhân loại và đó thành Nhất uẩn hữu ... tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    848.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng nhưng làm việc mà phải làm với tưởng không đặng với tưởng ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả người nhân loại, nhưng làm việc chổ phải làm với tưởng mà không đặng với tưởng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    849.

    • Phản ngữ: chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Chư thiên gọi chúng sanh vô tưởng vẫn có, thời những Chư thiên ấy vẫn tử biệt loại ấy do sự phát sanh của tưởng”. Như đây là bài Kinh vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu cách đó, tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng chớ gì!

    850.

    • Tự ngôn: Tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng phải chăng? Phản ngữ: Có lúc có, có lúc không có.
    • Tự ngôn: Có lúc thành chúng sanh hữu tưởng, có lúc thành chúng sanh vô tưởng, có lúc thành tưởng hữu, có lúc thành vô tưởng hữu, có lúc thành Ngũ uẩn hữu, có lúc thành nhất uẩn hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    851.

    • Tự ngôn: Tưởng có lúc có, có lúc không có trong tất cả người vô tưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vẫn có trong lúc nào, không có trong lúc nào? Phản ngữ: Vẫn có trong lúc tử, trong lúc sinh, không có trong lúc trụ.
    • Tự ngôn: Thành người vô tưởng trong khi tử, trong khi sanh, thành người vô tưởng trong khi trụ; thành người tưởng hữu trong khi tử, trong khi sanh; thành Vô tưởng hữu trong khi trụ, thành Ngũ uẩn hữu trong khi tử, trong khi sanh; thành nhất uẩn hữu trong khi trụ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Vô tưởng hữu ngữ

    ---

    PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG NGỮ (NEVASAÑÑĀNASAÑÑĀYATANAKATHĀ)

    852.

    • Tự ngôn: Không nên nói rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành vô tưởng hữu, thành vô tưởng thú (gati), thành vô tưởng sinh y, thành vô tưởng luân hồi, thành vô tưởng sinh (yoni), thành vô tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    853.

    • Tự ngôn: Thành tưởng hữu, tưởng thú, tưởng sanh y (sattavāsa), tưởng luân hồi, tưởng sinh, tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành tưởng hữu, thành tưởng thú ... thành Tưởng tự thân báo thời không nên nói không cho rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu.

    854.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành nhứt uẩn hữu, thú (gati) ... tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Tứ uẩn hữu, thành tứ uẩn thú ... tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành Tứ uẩn hữu, thú ... Ngã thân báo thời không nên nói rằng không cho rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu.

    855.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng và đó thành vô tưởng hữu, thành vô tưởng thú, thành vô tưởng sinh y, thành vô tưởng luân hồi, thành vô tưởng sinh, thành vô tưởng tự thân báo phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi....
    • Phản ngữ: Chớ nói tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu và đó cũng là Vô tưởng hữu, thành vô tưởng thú, thành vô tưởng sinh y, thành vô tưởng luân hồi, thành vô tưởng sinh, thành vô tưởng tự thân báo phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Chớ nói rằng tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng và đó, thú ... tự thân báo phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi...
    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu và đó cũng là nhứt uẩn hữu, thú, sinh y, luân hồi, sinh, tự thân báo phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    856.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu và đó là tưởng hữu, tưởng thú ... Tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi...
    • Tự ngôn: Không nên nói rằng tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng và đó là tưởng hữu, tưởng thú ... Tưởng tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    857.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu và đó là Tứ uẩn hữu, thú (gati) ... tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi...
    • Tự ngôn: Không nên nói rằng tưởng vẫn có trong tất cả người vô tưởng và đó là Tứ uẩn hữu ... tự thân báo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    858.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu thời không nên nói: “Chớ cho rằng tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu”.

    859.

    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu nhưng không nên nói tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Không vô biên xứ hữu là Tứ uẩn hữu nhưng không nên nói tưởng vẫn có trong Không vô biên xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    860.

    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu nhưng không nên nói tưởng vẫn có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thức vô biên xứ hữu ... Vô sở hữu xứ hữu là Tứ uẩn hữu nhưng không nên nói tưởng vẫn có trong Vô sở hữu xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    861.

    • Tự ngôn: Không vô biên xứ hữu là Tứ uẩn hữu, Tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu thì tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thức vô biên xứ hữu, ... Vô sở hữu xứ hữu là Tứ uẩn hữu, Tưởng vẫn có trong Hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu thì tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    862.

    • Tự ngôn: Chớ nói rằng tưởng vẫn có hoặc là không có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu thời cũng không nên nói: “Chớ nói rằng tưởng vẫn có hay là không có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu”.

    863.

    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu nhưng không nên nói tưởng vẫn có hay là không có trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Không vô biên xứ hữu, ... Thức vô biên xứ hữu, ... Vô sở hữu xứ hữu là Tứ uẩn hữu nhưng không nên nói rằng tưởng vẫn có hay là không có trong Vô sở hữu xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    864.

    • Tự ngôn: Không vô biên xứ hữu là Tứ uẩn hữu thì tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu thì tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thức vô biên xứ hữu ... Vô sở hữu xứ hữu là Tứ uẩn hữu thì tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu là Tứ uẩn hữu, tưởng vẫn có trong hữu ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    865.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu không đáng nói có tưởng hoặc không có tưởng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thành Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu nói thành Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu chính do nhân đó mới nói rằng trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu chẳng đáng nói có tưởng hoặc không Tưởng.

    866.

    • Tự ngôn: Do giải rằng thành Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu mới chẳng đáng nói vẫn có tưởng hay không có tưởng trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Do giải rằng thành phi khổ phi lạc thọ mới chẳng đáng nói là thọ hay phi thọ trong phi khổ phi lạc thọ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Phi tưởng phi phi tưởng xứ ngữ

    Dứt phẩm thứ ba.

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.