Đại phẩm thứ Bảy: Yếu hiệp ngữ, tương ưng ngữ, sở hữu tâm ngữ, ...

Đại phẩm thứ Bảy: Yếu hiệp ngữ, tương ưng ngữ, sở hữu tâm ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
     
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG - (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM THỨ BẢY

    ---

     

    YẾU HIỆP NGỮ (SAṄGAHITA KATHA)

    1127.

    • Tự ngôn: Có phần pháp yếu hiệp với phần pháp không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có phần pháp yếu hiệp đặng sắp vào đầu đề đặng, đã liên quan với phần pháp vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có phần pháp yếu hiệp đặng sắp vào đầu đề đặng, đã liên quan với phần pháp vẫn có thời không nên nói có phần pháp mà Ngài yếu hiệp với phần pháp không có.

    1128.

    • Tự ngôn: Nhãn xứ kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Sắc uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Nhãn xứ kể vào đặng trong Sắc uẩn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Nhãn xứ yếu hiệp vào với Sắc uẩn.
    • Tự ngôn: Nhĩ xứ ... Tỷ xứ ... Thiệt xứ ... Thân xứ kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Sắc uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thân xứ kể vào đặng trong Sắc uẩn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Thân xứ yếu hiệp vào với Sắc uẩn.

    1129.

    • Tự ngôn: Sắc xứ ... Thinh xứ ... Khí xứ ... Vị xứ ... Xúc xứ ... kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Sắc uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Xúc xứ kể vào đặng trong Sắc uẩn, chính do nhân đó Ngài mới nói Xúc xứ yếu hiệp vào với Sắc uẩn.

    1130.

    • Tự ngôn: Lạc thọ kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Thọ uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà lạc thọ kể vào đặng trong Thọ uẩn, chính do nhân đó mới nói rằng lạc thọ yếu hiệp vào với Thọ uẩn.
    • Tự ngôn: khổ thọ ... phi khổ phi lạc thọ kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Thọ uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà phi khổ phi lạc thọ kể vào đặng trong Thọ uẩn, chính do nhân đó mới nói rằng phi khổ phi lạc thọ yếu hiệp vào với Thọ uẩn.

    1131.

    • Tự ngôn: Tưởng sanh từ Nhãn xúc kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: kể vào đặng trong Tưởng uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tưởng sanh từ Nhãn xúc kể vào đặng trong Tưởng uẩn, chính do nhân đó mới nói rằng Tưởng sanh từ Nhãn xúc yếu hiệp vào với Tưởng uẩn.
    • Tự ngôn: Tưởng sanh từ Nhĩ xúc ... Tưởng sanh từ Ý xúc kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Tưởng uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tưởng sanh từ Ý xúc kể vào đặng trong Tưởng chính do nhân đó mới nói rằng Tưởng sanh từ Ý xúc yếu hiệp vào với Tưởng uẩn.

    1132.

    • Tự ngôn: Tư (Cetanā) sanh từ Nhãn xúc ... Tư sanh từ Ý xúc kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: kể vào đặng trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tư sanh từ Ý xúc vào đặng trong Hành uẩn, chính do nhân đó mới nói rằng Tư sanh từ Ý xúc yếu hiệp vào với Hành uẩn.

    1133.

    • Tự ngôn: Nhãn thức ... Ý thức kể vào đặng trong uẩn nào? Phản ngữ: Kể vào đặng trong Thức uẩn.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ý thức kể vào đặng trong Thức uẩn, chính do nhân đó mới nói rằng Ý thức yếu hiệp vào với Thức uẩn. Phản ngữ: Những pháp ấy Ngài yếu hiệp vào với pháp ấy cũng như đôi bò tế, hoặc cùng với vòng hoa hay dây ràng gồm chung lại, hay cái bát và dây áo gồm chung lại, hay chó và dây buộc gồm chung lại.
    • Tự ngôn: Nếu mà đôi bò tế hoặc cùng với vòng hoa hay dây ràng gồm chung lại, hay cái bát và dây áo gồm chung lại, hay chó và dây buộc gồm chung lại. Chính do nhân đó mới nói rằng cũng có những pháp mà Ngài yếu hiệp với những pháp vẫn có.

    Dứt Yếu hiệp ngữ

    TƯƠNG ƯNG NGỮ (SAMPAYUTTA KATHĀ)

    1134.

    • Tự ngôn: Cũng có những pháp mà tương ưng với những pháp không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có những pháp mà đồng sanh, đồng diệt, đồng cảnh và đồng vật với những pháp khác vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cũng có những pháp đồng sanh, đồng diệt, đồng cảnh và đồng vật với những pháp khác vẫn có thời không nên nói hoặc những pháp tương ưng với những pháp không có.

    1135.

    • Tự ngôn: Thọ uẩn đồng sanh với Tưởng uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thọ uẩn đồng sanh với Tưởng uẩn, chính do nhân đó, Ngài mới nói Thọ uẩn tương ưng với Tưởng uẩn.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn đồng sanh với Hành uẩn và Thức uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thọ uẩn đồng sanh với Thức uẩn, chính do nhân đó, Ngài mới nói Thọ uẩn tương ưng với Thức uẩn.
    • Tự ngôn: Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn đồng sanh với Thọ uẩn, Tưởng uẩn và Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thức uẩn đồng sanh với Hành uẩn, chính do nhân đó, Ngài mới nói Thức uẩn tương ưng với Hành uẩn.
    • Phản ngữ: Dầu đang ướt đang tươm trong mè, vị đang ướt đang tươm trong mía như thế nào thì những pháp ấy cũng đang trộn đang tươm với pháp ấy thế đó phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tương ưng ngữ

    ---

    SỞ HỮU TÂM NGỮ (CETASIKA KATHĀ)

    1136.

    • Tự ngôn: Pháp Sở hữu Tâm không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có thứ pháp đồng sanh, đồng diệt, đồng cảnh và đồng vật với tâm cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cũng có thứ pháp đồng sanh, đồng diệt, đồng cảnh và đồng vật với Tâm vẫn có thời không nên nói pháp Sở hữu Tâm không có.

    1137.

    • Tự ngôn: Xúc đồng sanh với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Xúc đồng sanh với Tâm, chính do nhân đó mới nói Xúc là Sở hữu Tâm.
    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Tư ... Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ, Ái, Sân, Si ... Vô úy đồng sanh với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Vô úy đồng sanh với Tâm, chính do nhân đó, Ngài mới nói Vô úy là Sở hữu Tâm.
    • Phản ngữ: Bởi lập chú giải rằng sanh chung với Tâm mới gọi là Sở hữu Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Do lập chú giải rằng sanh chung với Xúc mới gọi là Sở hữu Xúc phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Do lập chú giải rằng sanh chung với Tâm mới gọi là Sở hữu Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Do sắp chú giải rằng sanh chung với Thọ ... với Tưởng ... với Tư ... với Tín, với Cần, với Niệm, với Định, với Tuệ, với Ái, với Sân, với Si ... với Vô úy cũng gọi là Sở hữu Vô úy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp Sở hữu Tâm không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Tâm ấy và bao nhiêu Pháp sở hữu vẫn hiện với người biết rõ bằng sự vô ngã, khi rõ cả hai pháp ấy đều biết thô và tế rồi cũng thành người Chánh kiến biết rõ rằng có cái tiêu mất là lẽ thường”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó, pháp Sở hữu Tâm cũng vẫn có chớ gì!

    1138.

    • Tự ngôn: Pháp Sở hữu Tâm không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Kê Quách (Kevatta) Tỷ Khưu trong pháp luật này có thể độ đoán đặng Tâm, Sở hữu Tâm cho đến cách suy xét nghĩ ngợi của người khác, chúng sanh khác rằng tâm của y hoặc như thế này, hoặc như thế kia, hay như thế nọ”. Đây là bài Kinh hẳn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì pháp Sở hữu Tâm cũng vẫn có chớ gì!

    Dứt Sở hữu Tâm ngữ

    ---

    BỐ THÍ NGỮ (DANA KATHA)

    1139.

    • Tự ngôn: Bố thí tức là pháp Sở hữu Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sẽ cho pháp Sở hữu Tâm với những người khác cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sẽ cho pháp Sở hữu Tâm đến những người khác cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sẽ cho Xúc đến các người khác cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sẽ cho Thọ ... Tưởng, Tư, Tín, Cần, Niệm, Định ... Tuệ đến các người khác cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1140.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bố thí là pháp Sở hữu Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bố thí có quả không đáng mong mỏi, có quả không đáng ưa thích, có quả không đáng vừa lòng, có quả độc hại, có khổ thành lời, có khổ thành dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Bố thí có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng vừa lòng, có quả không độc hại, có lạc làm lời, có lạc thành dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bố thí có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả trổ vừa lòng, có quả không độc hại, có vui làm lời, có vui thành dị thục quả. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bố thí tức là pháp Sở hữu Tâm.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán: “Bố thí có quả đáng mong mỏi và bố thí cũng là y áo” phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bố thí có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng vừa lòng, có quả không độc hại, có vui làm lời, có vui thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán rằng: “Bố thí là quả đáng mong mỏi và bố thí cũng là khất thực, tọa cụ, y dược, vật dụng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Y dược, vật dụng có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả trổ vừa lòng, có quả không độc hại, có vui làm lời, có vui thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1141.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói bố thí tức là pháp Sở hữu Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Những pháp này tức là đức tin, tầm và bố thí thành thiện đi theo trượng phu, chính ba cách này pháp này chư hiền giả tường thuật rằng là con đường đi đến Chư thiên, vì người đã đến Chư thiên đặng bằng ba pháp này”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, bố thí cũng là pháp Sở hữu Tâm chớ gì!

    1142.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói bố thí là pháp Sở hữu Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, năm cách bố thí này là đại thí hiện bày rằng đặc biệt, hiện bày bằng ban đêm, hiện bày thành thị tộc, thành pháp cổ truyền mà Sa Môn, Bà La Môn tất cả bực biết không đặng phủ nhận, không từng phủ nhận, vẫn không chê ghét, sẽ không chê ghét, đã không bắt bẻ. Ngũ bố thí là chi? Này chư Phíc-khú, Thánh Tăng trong pháp luật này trừ sát sanh là bực đã tuyệt trừ xa sát sanh, Thánh Tăng bực đã trừ tuyệt xa sát sanh gọi là bố thí vô nạn cho sự thành người không có oan trái, cho sự không ép uổng với vô lượng chúng sanh. Khi bố thí vô nạn cho sự thành người không oan trái, cho sự không ép uổng với vô lượng chúng sanh rồi vẫn thành người có phần nơi không nạn, sự không oan trái, sự khỏi ép uổng vô lượng chúng sanh cũng là bố thí làm đầu mới thành ra đại thí hiện bày là rất đặc biệt, hiện bày trong đêm tối, hiện bày là thị tộc, thành pháp cổ truyền mà Sa Môn, Bà La Môn các bực hiểu biết không đặng xóa bỏ, không từng xóa bỏ, vẫn không chê ghét, vẫn không ghét gớm, sẽ không ghét gớm, đã không phản đối. Này chư Phíc-khú, còn điều khác nữa Thánh Tăng trừ trộm cướp ... trừ tà dâm ... trừ vọng ngôn ... trừ cơ sở mà chỗ trụ của sự dễ duôi tức là uống rượu, ăn men thành bực tuyệt trừ rồi lìa cơ sở mà thành nơi chỗ nương tựa của sự dễ duôi như là uống nước say tức là uống rượu, ăn men, Thánh Tăng bực đã chừa tuyệt rồi lìa cơ sở mà nơi nương tựa của sự dễ duôi như là uống nước say tức là rượu và men; gọi là cho vô nạn, cho sự không oan trái, cho sự không ép uổng với vô lượng chúng sanh. Khi cho vô nạn, cho sự không oan trái, cho sự không ép uổng với vô lượng chúng sanh rồi mới thành bực có phần nơi sự không nạn, sự không oan trái, sự không ép uổng, đặng vô lượng sự không ép uổng. Đây là bố thí năm điều đầy đủ thời thành đại thí hiện bày rằng rất tột, hiện bày đêm tối, hiện bày là thị tộc, thành pháp cổ truyền mà Sa Môn, Bà La Môn và tất cả bực hiểu biết không đặng xóa bỏ, không từng xóa bỏ, vẫn không ghét gớm, sẽ không ghét gớm, đã không chống báng. Này chư Phíc-khú, chính năm cách bố thí này là đại thí hiện bày rằng rất tột, hiện bày bằng ban đêm, hiện rằng là thị tộc, thành pháp cổ truyền mà Sa Môn, Bà La Môn tất cả không đặng xóa bỏ, không từng xóa bỏ, vẫn không ghét gớm, sẽ không ghét gớm, đã không chống báng. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì bố thí cũng là pháp Sở hữu Tâm chớ gì.

    1143.

    • Tự ngôn: Chớ nói rằng bố thí là pháp đồ làm phước (deyyadhamma) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Cũng có người trong đời này vẫn cho cơm, cho nước, cho vải, cho xe tàu, cho bông cây, cho đồ thơm, cho đồ thoa, cho chỗ nằm, cho chỗ nghĩ, cho đèn đuốc”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì bố thí cũng là pháp của Sở hữu Tâm chớ gì.

    1144.

    • Phản ngữ: Bố thí là pháp sự vật làm phước phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Sự vật làm phước có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng vừa lòng, có quả không độc hại, có vui làm lời, có lạc thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bố thí có quả đáng mong mỏi và bố thí cũng là y áo” phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Y áo có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng vừa lòng, có quả không độc hại, có vui làm lời, có lạc thành dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bố thí có quả đáng mong mỏi và bố thí tức là để bát, cho tọa cụ, thuốc men, vật dụng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cho thuốc, cho vật dụng có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả đáng vừa lòng, có quả không độc hại, có vui làm lời, có lạc thành dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

       Nếu thế đó thời không nên nói bố thí là pháp đáng cho (deyyadhamma)

    Dứt Bố thí ngữ

    ---

    HƯỞNG DỤNG THÀNH TỰU PHƯỚC NGỮ (PARIBHOGA MAYAPUÑÑA KATHĀ)

    1145.

    • Tự ngôn: Phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? ... Thọ, Tưởng, Tư, Tâm, Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1146.

    • Tự ngôn: Phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tiến hóa đặng như mây bò, mây leo, như cây cối, như cỏ, như ruột của đăng tâm thảo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1147.

    • Tự ngôn: Phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trẻ con bố thí rồi không lưu ý, cũng thành tựu phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tựu đặng với người không nhớ, thành đặng với người không bận bịu, thành đặng với người không lưu ý, thành đặng với người không để vào lòng, thành đặng với người không chủ ý, thành đặng với người không mong mỏi, thành đặng với người cố tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phước thành đặng với người nhớ đến, thành đặng với người bận bịu, thành đặng với người lưu ý, thành đặng với người để trong lòng, thành đặng với người chú ý, thành đặng với người mong mỏi, thành đặng với người cố tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà phước thành đặng với người nhớ đến, thành đặng với người bận bịu, thành đặng với người lưu ý, thành đặng với người để trong lòng, thành đặng với người chú ý, thành đặng với người mong mỏi, thành đặng với người cố tâm thời không nên nói phước thành tựu từ cách hưởng dụng tiến hóa đặng.

    1148.

    • Tự ngôn: Phước thành đặng từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trẻ nhỏ dâng cúng đang nghĩ ngợi dục tầm (kāmavitakka) đang nghĩ ngợi Sân độc tầm, đang nghĩ ngợi đố kỵ tầm cũng thành phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành cách hội hiệp của nhị xúc, nhị tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành cách hội hiệp của nhị xúc ... của nhị tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp mà thành thiện và bất thiện, chỗ có lỗi và không lỗi, nơi thô và tế, chỗ thành phía đen và phía trắng, gồm nhau lại đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp mà thành thiện và bất thiện, chỗ có lỗi và không lỗi, nơi ty hạ và tinh lương, chỗ thành phía đen và phía trắng, gồm chung nhau đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, bốn cách xa nhau rất xa nhau. Bốn cách đó như thế nào? Một là trời và đất xa nhau rất xa nhau, hai là bờ biển bên này và bên kia xa nhau rất xa nhau, ba là phía mặt trời mọc và phía mặt trời lặn xa nhau rất xa nhau, bốn là pháp của hiền triết và pháp của phi hiền triết xa nhau rất xa nhau. Này chư Phíc-khú, bốn pháp này đây xa nhau rất xa nhau. Trên trời với mặt đất xa nhau, mé biển nó cũng là xa nhau, phía Đông và phía Tây cũng xa nhau, pháp của hiền triết với pháp của phi hiền triết nên nói là xa nhau hơn đó nữa. Hội hợp của nhóm hiền triết vĩnh viễn nhất định vẫn đặng luôn cho đến trọn đời. Nhưng hội hiệp của đám phi hiền triết vẫn hư mau lẹ, vì thế đó cho nên pháp của hiền triết mới xa cách phi hiền triết”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp chỗ thành thiện và bất thiện, nơi có lỗi và không lỗi, chỗ ty hạ và tinh lương, nơi thành phía đen và phía trắng gôm lại nhau đặng.

    1149.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Những người nào lập vườn, tạo rừng, bắc cầu, đào hồ nước, giếng nước, tạo chỗ nghĩ ngơi để làm phước, thì phước vẫn tiến hóa nhiều với những người ấy mỗi khi, luôn cả ngày đêm. Những người đó vững vàng trong pháp, đầy đủ giới, sẽ đến Thiên đường”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng chớ gì!

    1150.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói phước từ nơi cách hưởng dụng thành tựu đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, đường nước là phước, đường nước tức là thiện, bốn cách này đem lại sự an vui, có cảnh tốt, có dị thục quả lạc, còn làm cho chúng sanh đến Thiên đường, đều để quả đáng mong mỏi, đặng quả đáng ưa thích, đặng quả đáng vừa lòng, đặng lợi ích, đặng sự an vui. Bốn cách như thế nào? Này chư Phíc-khú, Phíc-khú khi dùng y của người nào, họ vẫn đặng tâm định vô lượng. Con đường nước là phước, con đường nước là thiện của người ấy cũng đặng không lường, dẫn đến sự an vui có cảnh tốt đẹp, có dị thục quả lạc, còn làm cho chúng sanh đến Thiên đường, đồng đều đặng quả đáng mong mỏi, đặng quả đáng ưa thích, đặng quả đáng vừa lòng, đặng lợi ích, đặng sự an vui, mà Phíc-khú khi thọ hưởng ... khi dùng tọa cụ ... khi dùng thuốc men vật dụng của người nào thì họ vẫn đặng tâm định vô lượng như là con đường nước tức là phước, con đường nước tức là thiện của người ấy cũng đặng vô lượng đưa đến sự an vui có cảnh tốt đẹp, có dị thục quả lạc, còn làm cho chúng sanh đi Thiên đường vẫn đồng đều đặng quả đáng mong mỏi, đáng ưa thích, đặng quả đáng vừa lòng, đặng lợi ích, hầu đặng sự an vui. Này chư Phíc-khú, con đường nước tức là phước, con đường nước tức là thiện; bốn cách này vậy nó đưa đến sự an vui có cảnh giới tốt đẹp, có dị thục quả lạc, còn làm cho chúng sanh đi Thiên đường, vẫn đồng đều đặng quả đáng mong mỏi, đặng quả đáng ưa thích, đặng quả đáng vừa lòng, đặng lợi ích hầu đặng sự an vui”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì phước cũng thành tựu từ nơi cách hưởng dùng tiến hóa đặng chớ gì.

    1151.

    • Tự ngôn: Phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trẻ em bố thí đến bực đáng thọ hưởng rồi không hưởng dùng mà hủy bỏ thành phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà trẻ nhỏ bố thí cho hạng đáng thọ rồi không hưởng dùng mà hủy bỏ hư hao mất cũng thành phước đặng thời không nên nói phước thành tựu từ nơi cách hưởng dụng tiến hóa đặng.

    1152.

    • Tự ngôn: Phước thành tựu từ cách hưởng dụng tiến hóa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trẻ nhỏ bố thí trong khi kẻ đáng thọ, rồi bị vua, quan thâu đi mất, hoặc bị cướp giựt đi mất hoặc lửa cháy tiêu, hoặc nước cuốn đi mất, hoặc người thừa kế không ưa thích đem đi mất rồi cũng thành phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà trẻ nhỏ bố thí đến hạng đáng thọ rồi bị vua, quan thâu đi mất hoặc bị trộm cướp mất, hoặc lửa cháy tiêu, hoặc nước cuốn đi mất, hoặc kẻ thừa kế không ưa thích đem đi mất cũng thành phước đặng thời không nên nói phước thành tựu chỉ có cách hưởng dụng mới tiến hóa đặng.

    Dứt Hưởng dụng thành tựu phước ngữ

    ---

    TỰ THỬ THÍ NGỮ (ITODINNAKATHĀ)

    1153.

    • Tự ngôn: Những người đi đến đời khác còn cho thân thể hiện hành đặng trong đời khác đó do người ấy bố thí trong đời này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bố thí y từ đời này thì hưởng dụng y đó trong đời sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi để bát từ đời này ... khi dâng tọa cụ từ đời này ... khi dâng thuốc ngừa bệnh từ đời này ... khi cho đồ nhai từ đời này ... khi cho đồ ăn từ đời này ... khi cho đồ uống từ đời này cũng hưởng đồ uống đó trong đời sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1154.

    • Tự ngôn: Những người đi đến đời khác đặng còn thân thể hiện hành đặng trong đời khác do người đã bố thí từ đời này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người khác thành người làm cho người khác vui và khổ, người khác làm cho người khác hưởng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1155.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng những người đi đến đời khác còn thân thể hiện hành đặng trong đời khác đó do người ấy đã bố thí từ đời này phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Loài Ngạ quỉ thấy họ bố thí hầu lợi ích cho mình vẫn tùy hỷ, vẫn làm cho tâm tín ngưỡng, vẫn còn làm cho hỷ phát sanh vẫn đặng vui phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngạ quỉ thấy họ bố thí hầu lợi ích cho mình, vẫn có tâm trong sạch, vẫn phát sanh mừng, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng những người đi đến đời khác còn thân thể hiện hành đi đặng trong đời khác đó do người đã bố thí từ đời này.

    1156.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng những người đi đến đời khác còn thân thể hiện hành trong đời khác đó do người đã bố thí từ đời này phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Mưa rớt xuống nơi gò vẫn chảy đến xuống chỗ hũng như thế nào thì người đã bố thí từ đời này vẫn vào đến thành tựu cho những người đã quá vãng chính như thế vậy. Đường nước đầy đủ chảy luôn đến biển cho đầy đủ đặng như thế nào thì người đã bố thí từ đời này vẫn vào đến thành tựu cho những người đã quá vãng như thế đó vậy. Nông nghiệp không có trong thế giới Ngạ quỉ đâu, chăn nuôi cũng không có nơi đó, thương nghiệp cũng như thế đó, cách mua bán bằng tiền bạc cũng không có với người khác rồi tức là người đã chết vẫn còn thân hiện hành trong thế giới Ngạ quỉ đó, do người đã bố thí từ đời này”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó những người đi vào đời khác cũng còn thân thể hiện hành trong đời khác đó do người đã bố thí từ đời này chớ gì!

    1157.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói những người đi đến đời khác còn thân thể cho hiện hành đặng trong đời khác đó, do người đã bố thí từ đời này phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, cha mẹ nhận thấy cơ nguyên năm cách mới hy vọng con thời sẽ sanh trong thân tộc. Năm nguyên sở như thế nào? (1) Ta đã nuôi y rồi y sẽ đáp lại nuôi ta; (2) y sẽ giúp làm việc cho ta; (3) tông tộc sẽ vẫn còn lâu dài; (4) y sẽ coi chừng của cải tài sản nối truyền; (5) hoặc khi ta đã qua đời thì y sẽ làm phước hồi hướng cho. Này chư Phíc-khú, cha mẹ ngó thấy năm cách sở nhân này đây mới hy vọng con thì sẽ sanh trong thân tộc. Trí thức nhìn thấy năm sở nhân mới hy vọng con như là ta nuôi y đã; rồi y sẽ nuôi ta đáp lại. Y sẽ giúp việc cho ta, thân tộc sẽ trường tồn vĩnh viễn, y sẽ chăm nom tài sản nối truyền, hoặc khi ta quá vãng rồi y sẽ làm phước hồi hướng cho; tất cả trí thức ngó thấy năm sở nhân này mới hy vọng con. Vì thế đó người hiền triết bực hoàn toàn mới thành người thi ân đáp nghĩa, khi nhớ đến ơn bảo vệ mà Ngài đã làm trước vẫn nuôi cha mẹ, làm việc của Ngài theo cơ sở mà Ngài là tổ tiên người con giữ chức ngôn thì cha mẹ đã nuôi rồi nuôi đáp lại, không làm cho giồng giống điêu tàn, có đức tin, đầy đủ giới, thành người con đáng khen ngợi. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì những người đi đến đời khác còn thân thể hiện hành đặng trong đời khác do người đã bố thí từ đời này chớ gì.

    Dứt Từ thứ thí ngữ

    ---

    ĐẠI ĐỊA NGHIỆP QUẢ NGỮ (PATHAVĪKAMMAVIPĀKATIKATHĀ)

    1158.

    • Tự ngôn: Đại địa là quả của nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đại địa có lạc thọ, có khổ thọ, có phi khổ phi lạc thọ, tương ưng lạc thọ, tương ưng khổ thọ, tương ưng phi khổ phi lạc thọ, tương ưng Xúc, tương ưng Thọ, tương ưng Tưởng, tương ưng Tư, tương ưng Tâm, có biết cảnh, có nhớ tưởng, có sự bận lòng, sự lưu ý, sự để lòng, sự chú tâm, sự mong mỏi, sự cố tâm của Đại địa ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đại địa không có lạc thọ, không có khổ thọ, không có phi khổ phi lạc thọ, bất tương ưng lạc thọ, bất tương ưng khổ thọ, bất tương ưng phi khổ phi lạc thọ, bất tương ưng Xúc, bất tương ưng Thọ, bất tương ưng Tưởng, bất tương ưng Tư (cetanā), bất tương ưng Tâm, không biết cảnh, có sự nhớ tưởng, có sự bận lòng, có sự lưu tâm, có sự chứa để trong tâm, có sự chú ý, sự hy vọng, sự cố tâm, của Đại địa ấy đều không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đại địa không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không có biết cảnh, không có sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Đại địa ấy đều không có thời không nên nói Đại địa là quả của nghiệp.

    1159.

    • Tự ngôn: Xúc là quả của nghiệp và Xúc có lạc thọ, có khổ thọ, có phi khổ phi lạc thọ, tương ưng lạc thọ, tương ưng khổ thọ, tương ưng phi khổ phi lạc thọ, tương ưng Xúc, tương ưng Thọ, tương ưng Tưởng, tương ưng Tư, tương ưng Tâm, biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự cố ý của Xúc ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đại địa là quả của nghiệp và Đại địa có lạc thọ, có khổ thọ, có phi khổ phi lạc thọ, tương ưng lạc thọ, tương ưng khổ thọ, tương ưng phi khổ phi lạc thọ, tương ưng Xúc, tương ưng Thọ, tương ưng Tưởng, tương ưng Tư (Cetanā), tương ưng Tâm, có biết cảnh, sự nhớ tưởng, sự bận lòng, sự lưu ý, sự để ý, sự chú ý, sự mong mỏi, sự cố tâm của Đại địa vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1160.

    • Tự ngôn: Đại địa là quả của nghiệp, nhưng Đại địa không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không biết cảnh, không có sự nhớ tưởng ... sự cố ý của Đại địa ấy đều không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc là quả của nghiệp, nhưng Xúc không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... sự cố ý của Xúc ấy đều không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1161.

    • Tự ngôn: Đại địa thành nghiệp quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đại địa cử động đặng, bước đạp đặng, chặc đặng, phá hoại đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp quả cử động đặng, dậm bước đặng, chặc đặng, phá hoại đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1162.

    • Tự ngôn: Đại địa sẽ tăng gia, sẽ gia bội, sẽ đa lượng, kẻ kiến trúc, sẽ tăng cường cũng làm đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp quả người sẽ gia tăng, sẽ gia bội, sẽ chế tạo, sẽ kiến trúc, sẽ tăng cường cũng làm đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1163.

    • Tự ngôn: Đại địa đi khắp cho mọi người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp quả đi khắp cho mọi người phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1164.

    • Tự ngôn: Nghiệp quả đi khắp cho mọi người phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Hầm của tức là phước không đi khắp mọi người, trộm cướp không đặng, người có nó sẽ nên chết thành thật tướng, đáng làm phước, người ấy phải thành thiện”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói nghiệp quả đi khắp cho mọi người.

    1165.

    • Tự ngôn: Đại địa thành nghiệp quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đại địa sẵn có trước, vững vàng sau rồi tất cả chúng sanh mới sanh ra phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả phát sanh trước, qua sau tất cả chúng sanh mới làm nghiệp để đặng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1166.

    • Tự ngôn: Đại địa thành quả nơi nghiệp của tất cả chúng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả chúng sanh hưởng dụng Đại địa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả chúng sanh hưởng dụng Đại địa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có thứ hưởng dụng Đại địa rồi viên tịch vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có thứ chưa hết nghiệp quả cũng viên tịch vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1167.

    • Tự ngôn: Đại địa thành quả nơi nghiệp của chúng sanh bực sẽ thành Chuyển luân thánh vương phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi chúng sanh hưởng dụng Đại địa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi chúng sanh hưởng dụng quả nơi nghiệp của bực sẽ thành Chuyển luân thánh vương phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Mỗi chúng sanh hưởng dụng quả nơi nghiệp của bực sẽ thành Chuyển luân thánh vương phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi chúng sanh hưởng dụng Xúc, Thọ, Tư, Tâm, Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ của bực sẽ thành Chuyển luân thánh vương phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1168.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Đại địa thành nghiệp quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nghiệp có thể làm cho chúng sanh đều đồng đặng thành lớn lao, nghiệp có thể làm cho chúng sanh đều đồng đặng, sự thành Đại chủ vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà nghiệp có thể làm cho chúng sanh đều đồng đặng lớn lao, nghiệp có thể làm cho chúng sanh đều đồng đặng thành Đại chủ vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Đại địa thành nghiệp quả.

    Dứt Đại địa nghiệp quả ngữ

    ---

    LÃO TỬ QUẢ NGỮ (JARĀMARAṆAVIPĀKOTIKATHĀ)

    1169.

    • Tự ngôn: Lão tử thành quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử có lạc thọ, có khổ thọ, có phi khổ phi lạc thọ, tương ưng lạc thọ, tương ưng khổ thọ, tương ưng phi khổ phi lạc thọ, tương ưng Xúc, tương ưng Thọ, tương ưng Tưởng, tương ưng Tư, tương ưng Tâm, có biết cảnh, có sự nhớ tưởng, có bận lòng, sự lưu ý, sự để ý, sự chú ý, sự mong mỏi, sự quyết tâm của Lão tử đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không biết cảnh, không có sự nhớ tưởng ... sự cố ý của Lão tử đó đều có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Lão tử không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không có biết cảnh, không có nhớ tưởng ... và sự cố ý của Lão tử đó đều không có thời không nên nói rằng Lão tử thành quả.

    1170.

    • Tự ngôn: Xúc thành quả và Xúc có lạc thọ, có khổ thọ ... có biết cảnh, có nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Xúc ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử thành quả và Lão tử có lạc thọ, có khổ thọ ... có biết cảnh, có sự nhớ tưởng ... và sự cố ý của Lão tử vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1171.

    • Tự ngôn: Lão tử thành quả nhưng Lão tử không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không biết cảnh, không có nhớ tưởng ... và có sự quyết tâm của Lão tử đó đều không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc thành quả nhưng Xúc không có lạc thọ, không có khổ thọ ... không biết cảnh, không có nhớ tưởng ... sự cố tâm của Lão tử ấy đều không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó?

    1172.

    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp bất thiện thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện thành quả của nghiệp thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1173.

    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện không nên nói thành quả của nghiệp thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp bất thiện không nên nói thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1174.

    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp bất thiện thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1175.

    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp bất thiện không thể nói thành quả của nghiệp thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện không thể nói thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1176.

    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện và nghiệp bất thiện thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện và nghiệp bất thiện thành quả của nghiệp thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1177.

    • Tự ngôn: Lão tử nơi nghiệp thiện và nghiệp bất thiện không thể nói thành quả của nghiệp thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử của nghiệp thiện và nghiệp bất thiện không thể nói thành quả của nghiệp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1178.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Lão tử thành quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nghiệp có thể làm cho chúng sanh thành người màu da xấu xa, nghiệp có thể làm cho chúng sanh thành người chết yểu vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà nghiệp có thể làm cho chúng sanh thành người nước da xấu xa, nghiệp có thể làm cho chúng sanh thành người đoản thọ; chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Lão tử thành quả.

    Dứt Lão tử quả ngữ

    ---

    THÁNH NGHIỆP QUẢ NGỮ (ARIYADHAMMA VIPĀKA KATHĀ)

    1179.

    • Tự ngôn: Quả nơi Thánh nghiệp không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sa Môn quả có quả nhiều, Phạm Thiên quả có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Sa Môn quả có quả nhiều, Phạm Thiên quả có quả nhiều thời không nên nói rằng quả nơi Thánh nghiệp không có.

    1180.

    • Tự ngôn: Quả của Thánh nghiệp không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà quả Dự Lưu vẫn có thời không nên nói quả của Thánh nghiệp không có.
    • Tự ngôn: Quả Nhứt Lai ... quả Bất Lai, quả La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà quả La Hán vẫn có thời không nên nói quả của Thánh nghiệp không có.

    1181.

    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả của bố thí không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả của giới ... quả của tu tiến không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả Nhứt Lai ... quả Bất Lai ... quả La Hán không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả của bố thí không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả La Hán không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả của giới ... quả của tu tiến không thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1182.

    • Tự ngôn: Quả của bố thí thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả của bố thí thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Nhứt Lai ... quả Bất Lai ... quả La Hán thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả của giới ... quả của tu tiến thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả của tu tiến thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Nhứt Lai ... quả Bất Lai ... quả La Hán thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1183.

    • Tự ngôn: Thiện Dục giới có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện siêu thế có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiện Sắc giới, Thiện Vô sắc giới có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện siêu thế có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1184.

    • Tự ngôn: Thiện siêu thế không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện Dục giới không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiện siêu thế không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện Sắc giới ... Thiện Vô sắc giới không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1185.

    • Phản ngữ: Thiện Dục giới có dị thục quả thành nhân sanh tử (ācayagāmino) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi
    • Phản ngữ: Thiện siêu thế thành pháp có dị thục quả thành nhân sanh tử phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Thiện Sắc giới ... Thiện Vô sắc giới thành pháp có dị thục quả thành nhân sanh tử (ācayagāmino) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thiện siêu thế thành pháp có dị thục quả thành nhân sanh tử phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    1186.

    • Phản ngữ: Thiện siêu thế thành pháp có dị thục quả nhưng thành nhân đến Níp-bàn (Apacayagamino) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thiện Dục giới thành pháp có dị thục quả nhưng thành nhân có đến Níp-bàn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Thiện siêu thế thành pháp có dị thục quả nhưng thành nhân đến Níp-bàn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thiện Sắc giới ... Thiện Vô sắc giới thành pháp có dị thục quả mà thành nhân đến Níp-bàn phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Thánh nghiệp quả ngữ

    ---

    PHÁP DỊ THỤC QUẢ NHÂN NGỮ (VIPĀKO VIPĀKADHAMMADHAMMOTI KATHĀ)

    1187.

    • Tự ngôn: Dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dị thục quả cũng thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dị thục quả đó cũng thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi thành như thế dị thục quả đó cũng không có cách làm nơi tột khổ, không có sự đứt đoạn của luân hồi, không có phi y sinh nhập Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1188.

    • Tự ngôn: Dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng dị thục quả hay là pháp mà thành nhân của quả cũng vậy, nói rằng pháp mà thành nhân của quả hay là dị thục quả cũng vậy, hai câu này cũng một cách như nhau, đồng nhau, bằng nhau, giống nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1189.

    • Tự ngôn: Dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dị thục quả với pháp mà làm nhân của quả; pháp làm nhân của quả với dị thục quả đồng sanh chung nhau, hòa nhau, tương ưng nhau, đồng sanh, đồng diệt, đồng vật, đồng cảnh với nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1190.

    • Tự ngôn: Dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất thiện cái đó, dị thục quả của bất thiện cũng cái đó vậy. Thiện cái đó, dị thục quả của thiện cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1191.

    • Tự ngôn: Dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người sát sanh bằng cái tâm nào cũng cháy trong Địa ngục bằng cái tâm ấy vậy, người bố thí bằng cái tâm nào cũng vui vầy trong Thiên đường bằng cái tâm đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1192.

    • Phản ngữ: Không nên nói dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Dị thục quả tức là Tứ uẩn, phần pháp danh (nāmadhamma) thành Hổ tương duyên (Aññamaññapaccaya) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà dị thục quả tức là Tứ uẩn, phần pháp danh thành Hổ tương duyên, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng dị thục quả thành pháp mà làm nhân của quả.

    Dứt Pháp dị thục quả, dị thục nhân ngữ

    Dứt Phẩm thứ bảy

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.