Đại phẩm thứ Chín: Thành quả ngữ, bất tử cảnh ngữ, sắc hữu tri cảnh ngữ, ...

Đại phẩm thứ Chín: Thành quả ngữ, bất tử cảnh ngữ, sắc hữu tri cảnh ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
     
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)
    BỘ NGỮ TÔNG - (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM THỨ CHÍN

    ---

    THÀNH QUẢ NGỮ (ĀNISAṂSA KATHĀ)

    1306.

    • Tự ngôn: Bực thấy thành quả (trong Níp-bàn) trừ triền đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người đang tác ý đối chư hành theo sự thành của vô thường trừ triền đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người vẫn tác ý với chư hành theo sự thành của vô thường trừ triền đặng thời không nên nói người thấy thành quả (trong Níp-bàn) trừ triền đặng ... Người vẫn tác ý với chư hành theo sự thành khổ não ... theo sự thành bệnh, theo sự thành mụt nhọt, theo sự thành mũi tên, theo sự thành khó khăn, theo sự thành tật nguyền, theo sự thành như người khác, theo sự thành của gạt gẫm, theo sự thành của hẹp hòi, theo sự thành đồ ép uổng, theo sự thành nạn, theo sự thành trở ngại, theo sự thành đồ lay động, theo sự thành đồ mụt lở, theo sự thành đồ không bền vững, theo sự không thành chỗ chống cự, theo sự không thành chỗ ẩn trốn, theo sự không thành chỗ nương tựa, theo sự không thành chỗ hạn chế nạn, theo sự không thành đồ trống, theo sự thành đồ không, theo sự thành đồ tiêu mất, theo sự thành vô ngã, theo sự thành lỗi ... theo sự thành đồ có đổi thay lẽ thường trừ triền đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người vẫn tác ý với chư hành bằng sự thành đồ thay đổi thông thường trừ triền đặng thời không nên nói người thấy thành quả (trong Níp-bàn) trừ triền đặng.
    • Tự ngôn: Người vẫn tác ý với chư hành theo sự thành đồ không bền luôn, thành bực thấy, thành quả trong Níp-bàn luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người vẫn tác ý với chư hành theo sự thành đồ vô thường luôn, thành bực thấy kết quả trong Níp-bàn luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành cách hội hiệp của hai thứ xúc ... của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người vẫn tác ý với chư hành theo sự thành khổ ... theo sự thành bịnh ... theo sự thành của cách biến đi thông thường luôn thấy kết quả trong Níp-bàn luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người vẫn tác ý với chư hành bằng sự thành đồ biến đi thông thường luôn, thành bực thấy kết quả trong Níp-bàn luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành cách hội hiệp của hai thứ xúc ... của hai thứ tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1307.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng người thấy kết quả (trong Níp-bàn) trừ triền đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Phíc-khú trong pháp luật này thành bực quán thấy lạc biết là lạc, có sự ghi nhớ là lạc, chăm chú theo thường thường luôn luôn, không lộn xộn, vẫn để tuệ vào trong Níp-bàn”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó bực thấy kết quả (trong Níp-bàn) cũng trừ triền đặng chớ gì.

    Dứt Thành quả ngữ

    ---

    BẤT TỬ CẢNH NGỮ (AMATĀRAMMAṆAKATHĀ)

    1308.

    • Tự ngôn: triền có bất tử (amata) làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất tử (amata) thành cảnh của triền, thành cảnh của phược, thành cảnh của bộc, thành cảnh của phối, thành cảnh của cái, thành cảnh của khinh thị, thành cảnh của thủ, thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bất tử không thành cảnh của triền, không thành cảnh của phược ... không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất tử không thành cảnh của triền ... không thành cảnh của phiền não thời không nên nói triền có bất tử là cảnh.

    1309.

    • Tự ngôn: Ái (rāga) mong mỏi bất tử phát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất tử nơi trụ của ái, cái tâm đáng vui phải ưa mến, phải say mê, phải buộc trói, đáng vẫn lún sụp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bất tử không thành nơi trụ của ái mà tâm không đáng vui, không đáng ưa, không đáng say mê, không bị ràng buộc, không phải vẫn lún sụp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất tử không thành nơi trụ của ái mà tâm không đáng vui, không đáng ưa thích, không đáng say mê, không đáng ràng buộc, không phải vẫn lún sụp thời không nên nói ái mong mỏi bất tử phát sanh đặng.

    1310.

    • Tự ngôn: Sân mong mỏi bất tử (amata) phát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất tử thành sở trụ của sanh, thành sở trụ của sự giận duỗi, thành sở trụ của sự quở trách phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bất tử không thành sở trụ của sân, không thành sở trụ của sự giận, không thành sở trụ của sự quở trách phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất tử không thành sở trụ của sân, không thành sở trụ của sự giận, không thành sở trụ của sự quở trách thời không nên nói sân mong mỏi bất tử sanh đặng.

    1311.

    • Tự ngôn: Si mong mỏi bất tử sanh ra đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất tử thành sở trụ của si, làm sự không biết, làm sự không thấy liên quan với sự diệt mất của tuệ, hành động trong phía phá tuệ, không hành động hầu đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bất tử không thành chỗ trụ của si, không làm sự bất tri liên quan với sự tiến hóa của tuệ, không hiện hành trong phía phá tuệ, hành động để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất tử không thành sở trụ của si, không làm sự bất tri ... hành động để đặng Níp-bàn thời không nên nói si mong mỏi bất tử phát sanh đặng.

    1312.

    • Tự ngôn: triền mong mỏi sắc phát sanh đặng và sắc làm cảnh của triền, làm cảnh của phược ... làm cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: triền mong mỏi bất tử sanh ra đặng và bất tử thành cảnh của triền, thành cảnh của phược ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1313.

    • Tự ngôn: Ái mong mỏi Sắc phát sanh đặng, sắc thành sở trụ của ái mà tâm phải vui phải ưa, phải say mê, phải ràng buộc, phải hằng lún sụp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mong mỏi bất tử sanh đặng và bất tử thành sở trụ của ái mà tâm phải vui ... phải hằng lún sụp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1314.

    • Tự ngôn: Sân mong mỏi sắc phát sanh đặng và sắc là nơi trụ của sân, thành nơi trụ của sự giận hờn, thành nơi trụ của sự quở trách phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sân mong mỏi bất tử sanh ra đặng và bất tử thành sở trụ của sân, thành sở trụ của sự giận hờn, thành sở trụ của sự quở trách phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1315.

    • Tự ngôn: Si mong mỏi sắc sanh ra đặng và sắc thành sở trụ của si, làm sự bất tri ... không hành động để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Si mong mỏi bất tử sanh ra đặng và bất tử thành sở trụ của si, làm sự bất tri ... không hành động để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1316.

    • Tự ngôn: triền mong mỏi bất tử sanh ra đặng, nhưng bất tử không thành cảnh của triền, không thành cảnh của phược, không thành cảnh của bộc, không thành cảnh của phối, không thành cảnh của cái, không thành cảnh của khinh thị, không thành cảnh của thủ, không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: triền mong mỏi sắc sanh ra đặng, nhưng sắc không thành cảnh của triền, không thành cảnh của phược ... không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1317.

    • Tự ngôn: Ái mong mỏi bất tử sanh ra đặng, nhưng bất tử không thành sở trụ của ái mà tâm không phải vui mừng, không phải ưa thích, không phải say mê, không đáng ràng buộc, không phải hằng lún sụp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mong mỏi sắc sanh ra đặng nhưng sắc không thành sở trụ của ái mà tâm không đáng vui mừng ... không hay thường lún sụp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1318.

    • Tự ngôn: Sân mong mỏi bất tử sanh ra đặng và bất tử không thành sở trụ của sân, không thành sở trụ của sự giận hờn, không thành sở trụ của sự quở trách phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sân mong mỏi sắc sanh ra đặng, nhưng sắc không thành sở trụ của sân, không thành sở trụ của sự giận hờn, không thành sở trụ của sự quở trách phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1319.

    • Tự ngôn: Si mong mỏi bất tử (amata) sanh ra đặng nhưng bất tử không thành sở trụ của Si, không làm sự bất tri ... hành động để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Si mong mỏi bất tử (amata) sanh ra đặng, nhưng bất tử không thành sở trụ của si, không làm sự bất tri ... hành động để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1320.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng triền có bất tử làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “(Phàm phu...) tưởng tượng biết Níp-bàn theo sự thành Níp-bàn, khi tưởng tượng biết Níp-bàn thành Níp-bàn rồi, vẫn quan trọng Níp-bàn, vẫn quan trọng trong Níp-bàn, vẫn quan trọng thành sự biết Níp-bàn ... vẫn quan trọng biết Níp-bàn là của ta, vẫn thỏa thích Níp-bàn”. Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì triền cũng có bất tử làm cảnh chớ gì.

    Dứt Bất tử cảnh ngữ

    ---

    SẮC HỮU TRI CẢNH NGỮ (RŪPAṂ SĀRAMMAṆANTI KATHĀ)

    1321.

    • Tự ngôn: Sắc thành pháp có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng, sự buộc lòng, sự lưu ý, sự để ý, sự chú ý, sự mong mỏi, sự cố tâm của Sắc đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Sắc đó không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Sắc đó không có thời không nên nói Sắc thành pháp có biết cảnh.

    1322.

    • Tự ngôn: Xúc thành pháp có biết cảnh, sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Xúc đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc thành pháp có cảnh, sự nhớ tưởng, sự buộc lòng, ... sự cố tâm của Sắc đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1323.

    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng, Tư, Tầm, Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ, Ái, Sân, Si, Ngã mạn, Tà kiến, Hoài nghi, Hôn trầm, Điệu cử, Vô tàm ... Vô úy thành pháp có biết cảnh, sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Vô úy đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc thành pháp có biết cảnh, sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Sắc đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1324.

    • Tự ngôn: Sắc thành pháp có biết cảnh nhưng sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Sắc đó không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc thành pháp có biết cảnh, nhưng sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Xúc ấy không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... 

    1325.

    • Tự ngôn: Sắc thành pháp có biết cảnh nhưng sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Sắc đó không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ, Tưởng ... Vô úy thành pháp có biết cảnh, nhưng sự nhớ tưởng, sự buộc lòng ... sự cố tâm của Vô úy đó không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1326.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Sắc thành pháp có biết cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Sắc thành pháp hữu duyên (sapaccaya) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà sắc thành pháp hữu duyên, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc thành pháp có biết cảnh.

    Dứt Sắc hữu tri cảnh ngữ

    ---

    TÙY MIÊN VÔ HỮU CẢNH NGỮ (ANUSAYA ANĀRAMMAṆĀTI KATHĀ)

    1327.

    • Tự ngôn: tùy miên thành pháp không có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1328.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái che đậy (kāmarāgapariyuṭṭhāna), Dục ái triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái che đậy, Dục ái triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái thành pháp có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên thành pháp có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1329.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Liên hệ trong uẩn nào? Phản ngữ: Liên hệ trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Thức uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1330.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái liên quan trong Hành uẩn nhưng thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1331.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng thành pháp không biết cảnh, phần Dục ái liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần thành pháp biết cảnh, nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần thành pháp biết cảnh, nhưng một phần thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Thức uẩn một phần thành pháp biết cảnh nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1332.

    • Tự ngôn: Phẩn tùy miên, Ngã mạn tùy miên, Tà kiến tùy miên, Hoài nghi tùy miên, Hữu ái tùy miên, Vô minh tùy miên thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối, Vô minh tùy miên, Vô minh che ngăn, Vô minh triền, Vô minh cái thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối ... Vô minh cái thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1333.

    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Liên quan trong uẩn nào? Phản ngữ: Liên quan trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Thức uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1334.

    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh liên quan trong Hành uẩn, nhưng thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh liên quan trong Hành uẩn, nhưng thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1335.

    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng thành pháp không biết cảnh, còn phần Vô minh liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần thành pháp biết cảnh nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần thành pháp biết cảnh nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Thức uẩn một phần thành pháp biết cảnh, nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1336.

    • Phản ngữ: Chẳng nên nói tùy miên thành pháp không biết cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu khi tâm thành thiện và vô ký đang hiện hành có thể nói đặng rằng thành người có tùy miên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cảnh của tùy miên ấy vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tùy miên cũng thành pháp không biết cảnh chớ gì.

    1337.

    • Tự ngôn: Phàm phu khi tâm thành thiện và vô ký đang hiện hành nên nói đặng rằng thành người hữu ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cảnh của ái đó vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó ái cũng thành pháp không biết cảnh chớ gì.

    Dứt tùy miên bất tri cảnh ngữ

    ---

    TRÍ BẤT TRI CẢNH NGỮ (ÑĀṆAṂ ANĀRAMMAṆANTIKATHĀ)

    1338.

    • Tự ngôn: Trí là pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí thành pháp bất tri cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ, Tuệ quyền, Tuệ lực, Chánh kiến, Trạch pháp Giác chi thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ, Tuệ quyền, Tuệ lực, Chánh kiến, Trạch pháp Giác chi thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1339.

    • Tự ngôn: Trí thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Liên quan trong uẩn nào? Phản ngữ: Liên quan trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Thức uẩn thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1340.

    • Tự ngôn: Trí liên quan trong Hành uẩn, nhưng thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ liên quan trong Hành uẩn, nhưng thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí liên quan trong Hành uẩn thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1341.

    • Tự ngôn: Trí liên quan trong Hành uẩn nhưng thành pháp không biết cảnh, phần tuệ liên quan trong Hành uẩn và thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần thành pháp biết cảnh nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần thành pháp biết cảnh nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Thức uẩn một phần thành pháp biết cảnh, nhưng một phần nữa thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1342.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng trí thành pháp không biết cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán, người đáo bỉ ngạn bằng Nhãn thức mới nên nói rằng có trí phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cảnh của trí đó có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, trí cũng thành pháp không biết cảnh chớ gì.
    • Tự ngôn: Bực La Hán người đáo bỉ ngạn bằng Nhãn thức mới nên nói có tuệ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cảnh của tuệ đó có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó tuệ cũng thành pháp không biết cảnh chớ gì.

    Dứt Trí bất tri cảnh ngữ

    ---

    QUÁ KHỨ CẢNH NGỮ (ATĪTĀRAMMAṆAKATHĀ)

    1343.

    • Tự ngôn: Tâm mà biết cảnh quá khứ thành pháp bất tri cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có cảnh quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có cảnh quá khứ thời không nên nói tâm biết cảnh quá khứ thành pháp không biết cảnh và thế đó cách tường thuật rằng tâm biết cảnh quá khứ thành pháp không biết cảnh mới sai, hoặc nếu mà tâm thành pháp không biết cảnh thời không nên nói có cảnh quá khứ và thế đó cách tường thuật rằng tâm mà thành pháp không biết cảnh, thành pháp biết cảnh quá khứ mới sai.

    1344.

    • Tự ngôn: Tâm mà biết cảnh quá khứ thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm và mong mỏi quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự nhớ tưởng ... sự cố tâm và sự mong mỏi quá khứ vẫn có thời không nên nói tâm biết cảnh quá khứ thành pháp không biết cảnh.

    Dứt Quá khứ cảnh ngữ

    ---

    VỊ LAI CẢNH NGỮ (ANĀGATĀRAMMAṆA KATHĀ)

    1345.

    • Tự ngôn: Tâm biết cảnh vị lai thành pháp bất tri cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có cảnh vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có cảnh vị lai thời không nên nói tâm biết cảnh vị lai là pháp bất tri cảnh và như thế cách tường thuật rằng tâm biết cảnh vị lai là pháp không biết cảnh mới sai! Hoặc nếu mà tâm là pháp không biết cảnh thời không nên nói tâm biết cảnh vị lai và như thế cách tường thuật rằng tâm thành pháp không biết cảnh là pháp biết cảnh vị lai mới sai.

    1346.

    • Tự ngôn: Tâm mà biết cảnh vị lai thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm và mong mỏi vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự nhớ tưởng ... sự cố tâm và sự mong mỏi vị lai vẫn có thời không nên nói tâm biết cảnh vị lai là pháp không biết cảnh.

    1347.

    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, sự mong mỏi hiện tại vẫn có và tâm biết cảnh hiện tại thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, sự mong mỏi quá khứ vẫn có và tâm biết cảnh quá khứ thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1348.

    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm hy vọng hiện tại vẫn có và tâm biết cảnh hiện tại thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, hy vọng vị lai vẫn có và tâm biết cảnh vị lai thành pháp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1349.

    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, sự mong mỏi quá khứ vẫn có, nhưng tâm biết cảnh quá khứ thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, sự hy vọng hiện tại vẫn có nhưng tâm biết cảnh hiện tại thành pháp bất tri cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1350.

    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, sự mong mỏi vị lai vẫn có, nhưng tâm biết cảnh vị lai thành pháp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, sự mong mỏi hiện tại vẫn có nhưng tâm biết cảnh hiện tại thành pháp bất tri cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1351.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tâm biết cảnh quá khứ vị lai là pháp bất tri cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Quá khứ và vị lai vẫn không có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà quá khứ và vị lai vẫn không có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tâm biết cảnh quá khứ và vị lai thành pháp không biết cảnh ...

    Dứt Vị lai cảnh ngữ

    ---

    TẦM LIÊN QUAN NGỮ (VITAKKĀNUPATITA KATHĀ)

    1352.

    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm đều liên quan với Tầm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm đều liên quan với Tứ, liên quan với (pháp) hỷ, liên quan với lạc, liên quan với khổ, liên quan với Hỷ thọ, liên quan với Ưu thọ, liên quan với Xả thọ, liên quan với Tín, liên quan với Cần, liên quan với Niệm, liên quan với Định, liên quan với Tuệ, liên quan với Ái, liên quan với Sân ... liên quan với Vô úy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1353.

    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm đều liên quan với Tầm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Định mà không có Tầm, chỉ có Tứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu định mà không có Tầm chỉ có Tứ vẫn có, thời không nên nói rằng mỗi cái tâm đều liên quan với Tầm.
    1.  
    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm đều liên quan với Tầm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Định mà không có Tầm, không có Tứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà định không có Tầm không có Tứ vẫn có thời không nên nói mỗi cái tâm đều liên quan với Tầm.

    1355.

    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm liên quan với Tầm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán: “Định có ba thứ như là: định có Tầm có Tứ, định không Tầm có Tứ, định không Tầm không Tứ” thời không nên nói rằng mỗi cái tâm đều liên quan với Tầm.

    Dứt Tầm liên quan ngữ

    ---

    TẦM BÁ THINH NGỮ (VITAKKAVIPPHĀRASADDA KATHĀ)

    1356.

    • Tự ngôn: Trong mỗi khi suy xét, đang nghĩ ngợi sự Tầm phún ra phát sanh tiếng (nói) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi khi đang đụng chạm Xúc bủa ra mới sanh tiếng, mỗi khi hưởng cảnh, mỗi khi nhớ cảnh, trong khi chú ý, trong khi nghĩ ngợi, trong khi nhớ tưởng, trong khi hiểu rõ sự phún ra của Thọ, Tưởng, Tư, Tâm, Niệm, Tuệ mới sanh ra tiếng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1357.

    • Tự ngôn: Mỗi khi nghĩ ngợi, đang suy xét thời sự phún ra của Tầm phát sanh thành tiếng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự phún ra của Tầm thành tiếng mà phải biết đặng với Nhĩ thức, chạm nhĩ vào đến suối của nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự phún ra của Tầm không thành tiếng mà phải biết đặng với Nhĩ thức, không đối chiếu với nhĩ, không vào đến suối của nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự phún ra của Tầm không thành thinh mà phải biết đặng với Nhĩ thức, không xúc chạm với nhĩ, không đến vào suối của nhĩ thời không nên nói trong mỗi khi suy xét, mỗi khi nghĩ ngợi thì sự phún ra của Tầm phát sanh thành thinh.

    Dứt Tầm bá thinh ngữ

    ---

    DẪN TÂM NGÔN NGỮ (NA YATHACITTASSA VACATI KATHA)

    1358.

    • Tự ngôn: Người không có nghĩ ngợi chi cũng có nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người không có Xúc, không có Thọ, không có Tưởng, không có Tư, không có Tâm cũng nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người có Xúc, có Thọ, có Tưởng, có Tư, có Tâm mới nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người có Xúc ... có Tâm mới nói năng đặng thời không nên nói người không có nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng.

    1359.

    • Tự ngôn: Người không có nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người trong khi không nghĩ ngợi, không bận lòng ... không cố ý cũng nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người đang nghĩ ngợi, đang bận lòng, đang cố tâm mới nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người đang nghĩ ngợi, đang bận lòng mới nói năng đặng thời không nên nói người không có sự nghĩ ngợi chi có nói năng đặng.

    1360.

    • Tự ngôn: Người không có sự nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói năng có tâm làm nhân sở sanh chung với tâm, sanh đồng sát-na với tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói năng có tâm làm nhân sở sanh đồng với tâm sanh chung sát-na với tâm thời không nên nói rằng người không có sự nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng.

    1361.

    • Tự ngôn: Người không có sự nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người không có mong mỏi sẽ nhắc cũng nhắc đặng, không mong mỏi sẽ trình bày cũng trình bày đặng, không mong mỏi sẽ kêu cũng kêu đặng, không mong mỏi sẽ nói cũng nói đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người mong mỏi sẽ tường thuật mới tường thuật đặng, mong mỏi sẽ trình bày mới trình bày đặng, mong mỏi sẽ kêu mới kêu đặng, mong mỏi sẽ nói mới nói đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu người mong mỏi sẽ tường thuật mới tường thuật đặng, mong mỏi sẽ trình bày mới trình bày đặng, mong mỏi sẽ kêu mới kêu đặng, tính nói mới nói đặng thời không nên nói rằng người không có sự nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng.

    1362.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng người không có sự nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cũng có người tính sẽ nói tường thuật cách này rồi tường thuật sai cách khác, tính sẽ kêu bằng cách này rồi kêu sai cách khác, tính sẽ kêu cách này rồi kêu sai cách khác, tính sẽ nói cách này rồi nói sai cách khác vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà cũng có người tính sẽ trình bày cách này mà trình bày sai cách khác ... tính sẽ nói cách này mà nói sai cách khác vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng người có sự nghĩ ngợi chi cũng nói năng đặng.

    Dứt Tâm ngôn ngữ

    ---

    TÂM DẪN THÂN NGHIỆP NGỮ (NA YATHĀ CITTASSA KĀYAKAMMANTIKATHĀ)

    1363.

    • Tự ngôn: Người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người không có Xúc ... không có Tâm cũng có thân nghiệp đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người có Xúc ... có Tâm mới có thân nghiệp đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người có Xúc ... có Tâm mới có thân nghiệp đặng thời không nên nói người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng.

    1364.

    • Tự ngôn: Người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người đang không nghĩ ngợi ... đang không cố tâm cũng có thân nghiệp đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người đang nghĩ ngợi ... đang cố tâm mới có thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người đang nghĩ ngợi, đang cố tâm mới có thân nghiệp thời không nên nói rằng người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng.

    1365.

    • Tự ngôn: Người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân nghiệp có tâm làm nhân sở sanh chung với tâm, sanh đồng sát-na với tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thân nghiệp có tâm làm nhân sở sanh chung với tâm, sanh đồng sát-na với tâm thời không nên nói người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng.

    1366.

    • Tự ngôn: Người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người không hy vọng, người không tính sẽ bước đi tới cũng bước đi tới đặng, không tính sẽ thối lui cũng thối lui đặng, không tính sẽ dòm ngó cũng dòm ngó đặng, không tính nghiêng xem cũng nghiêng xem đặng, không tính sẽ co tay cũng sẽ co tay đặng, không tính sẽ ngay tay cũng ngay tay đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người tính sẽ bước tới mới bước tới đặng, tính sẽ thối lui mới thối lui đặng, tính sẽ dòm ngó mới dòm ngó đặng, tính sẽ nghiêng xem mới nghiêng xem đặng, tính sẽ co tay mới co tay đặng, tính sẽ ngay tay mới ngay tay đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người tính sẽ bước tới mới bước tới đặng ... tính sẽ ngay tay mới ngay tay đặng thời không nên nói người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng.

    1367.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cũng có người tính sẽ đi một nơi rồi đi sai một nẻo ... tính sẽ ngay tay một phía rồi ngay tay sai phía khác vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà cũng có người tính đi một nơi rồi đi sai một nẻo khác ... tính sẽ ngay tay một phía rồi ngay tay sai phía khác vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng người không có sự nghĩ ngợi chi cũng có thân nghiệp đặng.

    Dứt Dẫn tâm thân nghiệp ngữ

    ---

    QUÁ KHỨ VỊ LAI HIỆN TẠI NGỮ (ATITANAGATAPACCUPANNA KATHA)

    1368.

    • Tự ngôn: Người thành bực hiệp với quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quá khứ diệt rồi, lìa khỏi rồi, biến mất rồi, trời lặn rồi, tiêu mất đi rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà quá khứ đã diệt đi rồi, lìa mất rồi, biến mất rồi, trôi lặn rồi, đã tiêu diệt rồi thời không nên nói người thành bực hiệp với quá khứ.

    1369.

    • Tự ngôn: Người thành bực hiệp với vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị lai chưa đặng sanh, chưa đặng thành, chư đặng sanh đủ, chưa đặng sanh ra, chưa đặng sanh lên, chưa đặng hiện bày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà vị lai chưa sanh, chưa thành, chưa sanh đều, chưa đặng sanh ra, chưa đặng phát, chưa đặng hiện bày thời không nên nói người thành bực hiệp với vị lai.

    1370.

    • Tự ngôn: Người thành bực hiệp với Sắc uẩn nơi quá khứ, thành bực hiệp với Sắc uẩn nơi vị lai, thành bực hiệp với Sắc uẩn nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành bực hiệp với 3 Sắc uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với ngũ uẩn nơi quá khứ, thành người hiệp với ngũ uẩn nơi vị lai, thành người hiệp với ngũ uẩn nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 15 uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1371.

    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với Nhãn xứ nơi quá khứ, thành người hiệp với Nhãn xứ nơi vị lai, thành người hiệp với Nhãn xứ nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 3 Nhãn xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với Thập nhị xứ nơi quá khứ, thành người hiệp với Thập nhị xứ nơi vị lai, thành người hiệp với Thập nhị xứ nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 16 xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1372.

    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với Nhãn giới nơi quá khứ, thành người hiệp với Nhãn giới nơi vị lai, thành người hiệp với Nhãn giới nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 3 Nhãn giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với Thập bát giới nơi quá khứ, thành người hiệp với Thập bát giới nơi vị lai, thành người hiệp với Thập bát giới nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 54 giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1373.

    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với Nhãn quyền nơi quá khứ, thành người hiệp với Nhãn quyền nơi vị lai, thành người hiệp với Nhãn quyền nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 3 Nhãn quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực thành người hiệp với Nhị thập nhị quyền nơi quá khứ, thành người hiệp với hai Nhị thập nhị quyền nơi vị lai, thành người hiệp với Nhị thập nhị quyền nơi hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành người hiệp với 66 Quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1374.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng người hiệp với quá khứ và vị lai phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người có thường chăm chú Bát giải thoát (Bát thiền) người đặng theo mong mỏi là Tứ thiền, người có thường đặng Tùng tiền trụ cửu thiền vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực người có thường chăm chú Bát giải thoát, người đặng theo mong mỏi là Tứ thiền, người có thường đặng Tùng tiền trụ cửu thiền vẫn có, chính do nhân đó, mới nói rằng bực người hiệp với quá khứ và vị lai.

    Dứt Quá khứ, vị lai, hiện tại ngữ

    Hết phẩm thứ chín

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.