Đại phẩm thứ Hai Mươi Ba: Đồng nhu yếu ngữ, la hán nhãn sắc ngữ, dục tác vương hồn ngữ, ...

Đại phẩm thứ Hai Mươi Ba: Đồng nhu yếu ngữ, la hán nhãn sắc ngữ, dục tác vương hồn ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP
    (ABHIDHAMMAPIAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

    Năm 1976

    PHẨM HAI MƯƠI BA

    ---

    ĐỒNG NHU YẾU NGỮ (EKĀDHIPPĀYA KATHĀ)

    1882.

    • Tự ngôn: Người có thể hưởng pháp hành dâm (methuno) với sự nhu yếu đồng nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có thể thành người Phi Sa Môn, có thể thành người Phi Phíc-khú, có thể thành người đã đứt rễ, có thể thành bất cộng trụ (pārājika) bằng sự nhu yếu đồng nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1883.

    • Tự ngôn: Người có thể hưởng pháp hành dâm bằng sự nhu yếu đồng nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có thể sát sanh, có thể trộm cướp, có thể vọng ngôn, có thể lưỡng thiệt, có thể ác khẩu, có thể ỷ ngữ, có thể cắt vách, có thể cướp lớn, có thể cướp chỉ một nhà, có thể chặn đường nguy, có thể tà dâm, có thể giết chòm xóm, có thể giết dân thôn quê bằng sự nhu yếu đồng nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Đồng nhu yếu ngữ

    ---

    LA HÁN NHÃN SẮC NGỮ (ARAHANTAVAṆṆA KATHĀ)

    1884.

    • Tự ngôn: Tất cả phi nhân hành dâm với La Hán đều đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả phi nhân sát sanh ... trộm cướp, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, cách vách, ăn cướp lớn, ăn cướp 1 nhà, chận đường nguy, tà dâm, giết chòm xóm ... giết thôn quê bằng hạng La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt La Hán nhan sắc ngữ

    ---

    DỤC TÁC VƯƠNG HỒN NGỮ (ISSARIYAKAMAKARIKAKATHA)

    1885.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đi đến khổ hình nhân làm cho sự ưa trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đi đến Địa ngục như là đi đến Địa ngục Đẳng Hượt, đi đến Địa ngục Hắc Thằng, đi đến Địa ngục Chúng Hiệp, đi đến Địa ngục Hào Kiếu, đi đến Địa ngục Đại Kiếu, đi đến Địa ngục Viêm Nhiệt ... đi đến Địa ngục Vô Gián do nhân làm sự ưa trong thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1886.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đi đến khổ hình nhân làm cho sự ưa trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng Đức Bồ tát đi đến khổ hình nhân làm cho ưa trong sự thành lớn. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng Đức Bồ tát đi đến khổ hình nhân làm cho ưa trong sự thành lớn. Như đây không thành bài Kinh thật có thời không nên nói Đức Bồ tát đi đến khổ hình nhân làm cho mến trong sự thành lớn.

    1887.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát cương quyết đến sự thành người nằm trong thai nhân làm cho ưa mến trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát phải đi đến Địa ngục, phải vào đến đầu thai bàng sanh nhân làm cho ưa thích trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1888.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát quyết đến thành người nằm trong thai nhân ưa mến trong sự làm lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát có thần thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát có thần thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng huấn luyện Như ý túc tức là Dục (Chanda) phải chăng? ... đặng huấn luyện Như ý túc tức là Cần ... Như ý túc tức là Tâm ... Như ý túc tức là Thẩm (Vimaṅsā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát quyết đến thành người nằm trong thai nhân ưa thích trong sự làm lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng Đức Bồ tát quyết định đến sự thành người nằm trong thai nhân làm ưa thích trong sự lớn. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng cương quyết thành người vào nằm trong thai nhân ưa thích sự làm lớn. Như đây không phải là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói Đức Bồ tát cương quyết sự thành người vào nằm trong thai nhân ưa thích sự làm lớn.

    1889.

    • Tự ngôn: Bồ tát làm khổ hạnh nhân ưa sự làm lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bồ tát trở lại sự nhận thấy như vầy: “Trong đời trường tồn, trở lại nhận thấy như vầy đời vô thường, rằng đời có chỗ tột ... rằng đời không có chỗ tột; rằng mạng sống (sarīra) cái đó sinh mạng (sarīra) cũng cái đó; rằng mạng sống là khác, sinh mạng cũng là khác; rằng chúng sanh sau khi chết sanh nữa, rằng chúng sanh sau khi chết không sanh nữa; rằng chúng sanh sau khi chết sanh nữa cũng có, không sanh nữa cũng có; rằng chúng sanh sau khi chết sanh nữa cũng chẳng phải, không sanh nữa cũng chẳng phải”. Như đây là nhân làm cho ưa thích trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1890.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát thành khổ hạnh nhân làm cho ưa trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng Đức Bồ tát hành khổ hạnh thành nhân làm cho ưa trong sự thành lớn. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói Đức Bồ tát hành khổ hạnh nhân làm ưa trong sự thành lớn không phải bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói Đức Bồ tát hành khổ hạnh nhân làm ưa thích trong sự thành lớn.

    1891.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng hành tinh tấn thứ khác nữa, phụng hiến Giáo chủ khác nhân làm ưa trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát trở lại nhận thấy rằng đời trường tồn ... thấy rằng chúng sanh sau khi chết sanh nữa cũng chẳng phải, không sanh nữa cũng chẳng phải. Như đây là nhân làm cho ưa thích trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát phụng hiến Giáo chủ khác nhân làm ưa thích trong sự thành lớn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng Đức Bồ tát phụng hiến Giáo chủ khác nhân làm cho ưa thích trong sự thành lớn. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng Đức Bồ tát phụng hiến Giáo chủ khác làm nhân ưa thích trong sự thành lớn. Như đây không thành bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói Đức Bồ tát phụng hiến Giáo chủ khác làm nhân cho ưa thích trong sự thành lớn.

    Dứt Dục tác vương hồn ngữ

    ---

    ÁI THÍCH HỢP HÀNH NGỮ (RĀGAPAṬIRŪPAKĀDIKATHĀ)

    1892.

    • Tự ngôn: Pháp chẳng phải Ái nhưng so sánh với Ái vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp chẳng phải Xúc nhưng so sánh với Xúc vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Thọ nhưng so sánh với Thọ vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Tưởng nhưng so sánh với Tưởng vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Tư nhưng so sánh với Tư vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Tâm nhưng so sánh với Tâm vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Tín nhưng so sánh với Tín vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Cần nhưng so sánh với Cần vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Niệm nhưng so sánh với Niệm vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Định nhưng so sánh với Định vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Tuệ nhưng so sánh với Tuệ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp chẳng phải Sân nhưng tương đương với Sân vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải Si mà tương đương với Si vẫn có phải chăng? Pháp chẳng phải phiền não mà tương đương với phiền não vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp chẳng phải Xúc mà tương đương với Xúc vẫn có phải chăng? ... Pháp chẳng phải Tuệ nhưng tương đương với Tuệ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Ái thích hợp hành ngữ

    ---

    BẤT HIỂN MINH NGỮ (APARINIPPHANNA KATHĀ)

    1893.

    • Tự ngôn: Sắc thành bất hiển minh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc phi vô thường, phi hữu vi, phi pháp y sinh, phi pháp tận, phi pháp tiêu hoại, phi pháp đạm bạc, phi pháp diệt tận, phi pháp chuyển biến phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc thành vô thường, thành hữu vi, thành y sinh, thành pháp tiêu hoại, thành pháp tận tuyệt, thành pháp đạm bạc, thành pháp diệt vong, thành pháp biến chuyển phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sắc thành vô thường, thành hữu vi ... thành pháp biến chuyển thời không nên nói sắc thành bất hiển minh như thế.

    1894.

    • Tự ngôn: Bao nhiêu khổ đó thành hiển minh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thứ nào vô thường thứ ấy Đức Thế Tôn Ngài nói là khổ, sắc cũng vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thứ nào vô thường thứ đó Đức Thế Tôn Ngài nói rằng khổ và sắc cũng vô thường thời không nên nói những khổ ấy là hiển minh.

    1895.

    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng, Hành, Thức ... Nhãn xứ ... Pháp xứ ... Nhãn giới ... Pháp giới ... Nhãn quyền ...

    1896.

    • Tự ngôn: Tri cụ tri quyền (aññātāvindriya) thành Phi hiển minh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tri cụ tri quyền chẳng phải pháp vô thường ... chẳng phải pháp Biến chuyển phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tri cụ tri quyền thành pháp vô thường, thành hữu vi ... thành pháp có biến chuyển phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tri cụ tri quyền thành pháp vô thường, thành hữu vi, thành y sinh, thành pháp tận tuyệt, thành pháp tiêu hoại, thành pháp đạm bạc, thành pháp diệt vong, thành pháp biến chuyển thời không nên nói Tri cụ tri quyền thành bất hiển minh.

    1897.

    • Tự ngôn: Những khổ ấy thành hiển minh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thứ nào vô thường thứ đó Đức Thế Tôn Ngài nói là khổ, Tri cụ tri quyền cũng vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thứ nào vô thường thứ đó Đức Thế Tôn Ngài mới nói là khổ, Tri cụ tri quyền cũng vô thường thời không nên nói những khổ ấy thành hiển minh.

    Dứt bất hiển minh ngữ

    Hoàn tất phẩm thứ hai mươi ba

    ---

    HOÀN MÃN BỘ NGỮ TÔNG

    Ngày 18 – 11 – 2519, năm Ất Mão

    Mong cầu quý vị hảo tâm ủng hộ!

    Hồi hướng phước đến Tứ đại thiên vương, và tất cả chúng sanh, nhất là các vị Chư thiên có oai lực hộ trì tạng Diệu Pháp đặng thạnh hành.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.