Đại phẩm thứ Hai Mươi Hai: Tịch diệt ngữ, thiện tâm ngữ, bất động ngữ, ...

Đại phẩm thứ Hai Mươi Hai: Tịch diệt ngữ, thiện tâm ngữ, bất động ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP
    (ABHIDHAMMAPIAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

    Năm 1976

    PHẨM HAI MƯƠI HAI

    --

    TỊCH DIỆT NGỮ (PARINIBBĀNA KATHĀ)

    1855.

    • Tự ngôn: Cách mà La Hán còn trừ triền thứ nào rồi tịch diệt vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách mà vị La Hán còn trừ Thân kiến ... còn trừ Vô úy thứ nào rồi tịch diệt vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1856.

    • Tự ngôn: Cách mà La Hán còn trừ triền thứ nào rồi tịch diệt vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán còn có Ái ... vẫn còn có phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã dứt Ái ... dứt phiền não rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đã dứt Ái ... hết phiền não rồi thời không nên nói cách mà bực La Hán còn trừ triền thứ nào rồi tịch diệt vẫn có.

    1857.

    • Phản ngữ: Không nên nói cách mà La Hán còn trừ triền thứ nào rồi tịch diệt vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán hiểu tất cả bản tánh của Phật phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì cách mà bực La Hán còn trừ triền thứ nào rồi tịch diệt cũng vẫn có chớ gì.

    Dứt Tịch diệt ngữ

    ---

    THIỆN TÂM NGỮ (KUSALACITTA KATHĀ)

    1858.

    • Tự ngôn: Bực La Hán có tâm thành thiện tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán vẫn tạo chứa phước hành (puññābhisaṅkhāra) vẫn tạo chứa bất động hành (āneñjābhisaṅkhāra) vẫn tạo nghiệp mà hành vi để đặng thú hướng (gati), để đặng hữu (bhava), để đặng sự thành to lớn, để đặng sự thành trưởng, để đặng tài sản lớn, để đặng bè đảng nhiều, để đặng sự tốt đẹp nơi tiên, để đặng sự tốt đẹp trong nhân loại tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1859.

    • Tự ngôn: Bực La Hán có tâm thành thiện tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán vẫn tích trữ, vẫn nghỉ tích trữ, vẫn trừ tuyệt, vẫn chấp cứng, vẫn rửa sạch, vẫn trầm miếng, vẫn hạn chế ... vẫn thơm bừng tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán vẫn tích tụ cũng không phải, vẫn nghỉ tích tụ cũng không phải, nhưng thành bực đã nghỉ tích tụ, vẫn bảo trì phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán vẫn tích tụ cũng chẳng phải, vẫn nghỉ tích tụ cũng chẳng phải nhưng thành bực đã nghỉ tích tụ, vẫn bảo trì thời không nên nói bực La Hán có tâm thành thiện tịch diệt.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đang trừ tuyệt cũng chẳng phải, đang chấp cứng cũng chẳng phải, nhưng thành bực đã trừ tuyệt, đang bảo trì mà đang rửa sạch cũng chẳng phải, đang trầm miếng cũng chẳng phải nhưng thành bực đã rửa sạch, vẫn bảo trì, mà đang hạn chế cũng chẳng phải, đang thơm bừng cũng chẳng phải nhưng thành bực đã hạn chế vẫn bảo trì phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đang hạn chế cũng chẳng phải, đang thơm bừng cũng chẳng phải nhưng thành bực đã hạn chế đang bảo trì, nhưng không nên nói bực La Hán có tâm thành thiện tịch diệt.

    1860.

    • Phản ngữ: Không nên nói bực La Hán có tâm thành thiện tịch diệt phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán có Chánh niệm vững vàng, có Chánh niệm Lương Tri tịch diệt phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực La Hán có Chánh niệm vững vàng, có Chánh niệm Lương Tri tịch diệt, chính do nhân đó mới có nói rằng bực La Hán có tâm thành thiện tịch diệt.

    Dứt Thiện tâm ngữ

    ---

    BẤT ĐỘNG NGỮ (ĀNEÑJA KATHĀ)

    1861.

    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong sự thành người có tâm tự nhiên tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đình trụ trong sự thành người có tâm tự nhiên (pakati) Tịch Diệt (Parinibbāna) thời không nên nói bực La Hán đình trụ trong sự thành người không lay chuyển tịch diệt.

    1862.

    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong sự thành người không lay động (āneñja) tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong tâm tố (kiriyā) tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong tâm quả tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đình trụ trong tâm quả tịch diệt thời không nên nói bực La Hán đình trụ trong sự thành người bất động tịch diệt (āneñjaparinibbāna) như thế.

    1863.

    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong sự thành người bất động tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong tâm mà thành vô ký tố (abyākatakiriyā) tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong tâm mà thành phần vô ký quả tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đình trụ trong tâm mà thành vô ký quả tịch diệt thời không nên nói bực La Hán đình trụ trong sự thành người bất động tịch diệt

    1864.

    • Tự ngôn: Bực La Hán đình trụ trong sự thành người bất động tịch diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn xuất Tứ thiền rồi mới tịch diệt trong thứ lớp từ từng thời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn xuất Tứ thiền rồi mới tịch diệt trong thứ lớp từ từng thời không nên nói bực La Hán đình trụ trong sự thành người bất động tịch diệt.

    Dứt Bất động ngữ

    ---

    CHỨNG THẬT PHÁP NGỮ (DHAMMĀBHISAMAYAKATHĀ)

    1865.

    • Tự ngôn: Cách chứng pháp có với chúng sanh người ở trong thai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách thuyết Pháp, cách thính Pháp, cách đàm luận Pháp, cách gạn hỏi, cách nguyện giới, sự thu thúc dè dặt trong tất cả quyền, sự tri độ thực, cách hiệp tinh tấn cơ quan vẫn thức trong sơ canh và mạt canh của đêm có với chúng sanh người ở trong thai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách thuyết Pháp ... cách hiệp tinh tấn cơ quan thức trong sơ canh và mạt canh của đêm không có với chúng sanh bực ở trong thai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách thuyết Pháp, cách thính Pháp ... cách hiệp tinh tấn cơ quan thức trong sơ canh và mạt canh của đêm không có với chúng sanh người ở trong thai thời không nên nói cách chứng pháp có với chúng sanh người ở trong thai.

    1866.

    • Tự ngôn: Cách chứng Pháp có với chúng sanh người ở trong thai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: duyên để đặng sự phát sanh ra của Chánh kiến có hai thứ, tức là thinh từ nơi người khác và tác ý khéo (yoniso manasikāra) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà duyên để đặng sự phát sanh của Chánh kiến có hai, tức là thinh từ nơi người khác và tác ý khéo thời không nên nói cách chứng Pháp có với chúng sanh người ở trong thai.

    1867.

    • Tự ngôn: Cách chứng pháp có với chúng sanh người ở trong thai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách chứng pháp có với bực người đã ngủ, người đã dễ duôi, người thất niệm, người không có lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Chứng thật Pháp ngữ

    ---

    TAM TOÀN NGỮ (TISSOPI KATHĀ)

    1868.

    • Tự ngôn: Cách đắc quả La Hán có với chúng sanh người ở trong thai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách đắc quả La Hán có với người đang ngủ, người đang dễ duôi, người thất niệm, người vô lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách chứng pháp có với người chiêm bao phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách chứng pháp có với người ngủ mê, người dễ duôi, người thất niệm, người vô lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đắc quả La Hán có với người chiêm bao phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách chứng quả La Hán có với người ngủ mê, người dễ duôi, người thất niệm, người vô lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói như thế ...

    Dứt Tam toàn ngữ

    ---

    VÔ KÝ NGỮ (ABYĀKATA KATHĀ)

    1869.

    • Tự ngôn: Tâm của người chiêm bao mỗi thứ đều thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người chiêm bao sát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người chiêm bao có thể sát sanh đặng thời không nên nói tâm của người chiêm bao mỗi thứ đều là vô ký.

    1870.

    • Tự ngôn: Người chiêm bao có thể trộm cắp ... chiêm bao có thể vọng ngôn, chiêm bao có thể lưỡng thiệt, chiêm bao có thể nói ác khẩu, chiêm bao có thể ỷ ngữ, chiêm bao có thể khoét vách, chiêm bao có thể ăn cướp to, chiêm bao có thể ăn cướp chỉ một nhà, chiêm bao có thể đón đường vắng, chiêm bao có thể tà dâm, chiêm bao có thể giết chòm xóm, chiêm bao có thể giết dân thôn quê, chiêm bao có thể hành dâm, tinh của người chiêm bao có thể chảy ra đặng, chiêm bao có thể bố thí, chiêm bao có thể dưng y, chiêm bao có thể dưng bát, chiêm bao có thể tọa cụ, chiêm bao có thể dưng y dược vật dụng, chiêm bao có thể cho đồ nhai, chiêm bao có thể cho đồ ăn, chiêm bao có thể cho đồ uống, chiêm bao có thể lạy tháp, chiêm bao có thể đem đồ trang sức, chiêm bao có thể đem đồ thơm, chiêm bao có thể đem đồ thoa nơi bảo tháp ... chiêm bao có thể cúng dường Bảo Tháp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà người chiêm bao có thể cúng dường bảo tháp thời không thể nói tâm của người chiêm bao mỗi thứ đều là vô ký.

    1871.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói tâm của người chiêm bao mỗi thứ đều thành vô ký phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài phán: “Tâm của người chiêm bao là thành không nên chỉ chút lỗi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài phán tâm của người chiêm bao rằng là không nên chỉ chút lỗi, chính do nhân đó mới có nói tâm của người chiêm bao mỗi thứ đều là vô ký.

    Dứt Vô ký ngữ

    CỐ HƯỞNG DUYÊN NGỮ (ĀSEVANAPACCAYATĀ KATHĀ)

    1872.

    • Tự ngôn: Sự thành Cố Hưởng duyên (Āsevanapaccaya) không có những chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, sát sanh mà người đã giao kết, đã huấn luyện làm cho nhiều rồi vẫn phải đi luôn đến Địa ngục, hành vi đầy đủ hầu sanh bàng sanh, hành vi đầy đủ để đặng bản chất của ngạ quỉ, quả của sát sanh mà rất nhẹ nhàng cũng hành vi đều để sự thành người sanh trong nhân loại đoản thọ”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì sự thành Cố Hưởng duyên có thứ cũng vẫn có chớ gì.

    1873.

    • Tự ngôn: Sự thành Cố Hưởng duyên không có những chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, trộm cướp mà người đã giao kết, đã huấn luyện làm cho nhiều rồi vẫn thành đều đi để đến Địa ngục, hành vi đều đặng đầu thai bàng sanh hành vi đều đặng bản chất của ngạ quỉ, dù quả của trộm cướp thứ mà nhẹ tột thời cũng đều để tàn hại vật thực khi làm nhân loại ... Quả của tà dâm cách nhẹ tột bực cũng hành vi đều để sự thành người có cừu thú, có oan trái trong khi làm người ... Quả của vọng ngôn thứ nhẹ tột bực cũng hiện hành đều bị sự nói dối với lời không thật trong khi làm nhân loại ... Quả của lưỡng thiệt cách nhẹ tột bực cũng hiện hành đồng để sự chia rẽ bạn trong khi sanh làm nhân loại ... Quả của sự ác khẩu thứ nhẹ tột bực cũng hiện hành đều để sự bị tiếng không vừa lòng trong khi sanh làm nhân loại ... Quả của cách ỷ ngữ thứ nhẹ tột bực cũng hiện hành đều để sự thành người nói ra không ai tin cậy trong khi sanh làm nhân loại ... Cách ẩm tửu mà người đã hưởng ... Quả của sự ẩm tửu thứ nhẹ tột bực cũng hiện hành đều để thành người điên trong khi sanh làm nhân loại”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì sự thành Cố Hưởng duyên mỗi thứ nào đều cũng vẫn có chớ gì.

    1874.

    • Tự ngôn: Sự thành Cố Hưởng duyên không có những chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Tà kiến mà người đã huấn luyện làm cho nhiều rồi vẫn hiện hành hầu đến Địa ngục thành nơi đều đủ để đầu thai bàng sanh, hiện hành đều để bản chất nơi ngạ quỉ”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì sự thành Cố Hưởng duyên cũng vẫn có chớ gì.

    1875.

    • Tự ngôn: Sự thành Cố Hưởng duyên không có những chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, sự nghĩ ngợi sai (micchāsaṅkappa) ... sự cố quyết sai (micchāsamādhi) mà người đã hưởng, đã huấn luyện làm cho nhiều rồi ... Hiện hành đều để tánh chất nơi ngạ quỉ”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì thứ thành Cố Hưởng duyên cũng vẫn có chớ gì.

    1876.

    • Tự ngôn: Sự thành Cố Hưởng duyên chẳng có chi chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Chánh kiến mà người đã hưởng, đã huấn luyện làm cho nhiều rồi vẫn cương quyết đến bất tử (amata), có bất tử là nơi đi phía trước, có bất tử là hoàn tất”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì sự thành Cố Hưởng duyên cũng vẫn có chớ gì.

    1877.

    • Tự ngôn: Sự thành Cố Hưởng duyên không có những chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Chánh tư duy mà người đã hưởng, đã huấn luyện làm cho nhiều rồi ... Chánh tinh tấn mà người đã hưởng phần nhiều, đã huấn luyện làm cho nhiều rồi, vẫn cương quyết đến bất tử (amata), có bất tử làm nơi hiện hành trong phía trước, có bất tử là hoàn toàn tốt”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó hoặc thứ thành Cố Hưởng duyên cũng vẫn có chớ gì.

    Dứt Cố Hưởng duyên ngữ

    ---

    NHỨT SÁT-NA NGỮ (KHAṆIKA KATHĀ)

    1878.

    • Tự ngôn: Pháp tất cả hiện hành trong một cái sát-na tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đại địa, Đại Hải, núi Tu Di, nước, lửa, gió, cỏ cây và tòng lâm vẫn toàn bảo trì trong tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1879.

    • Tự ngôn: Pháp tất cả hiện hành trong một sát-na của tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn xứ đồng sanh với Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhãn xứ đồng sanh với Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Xá Lợi Phất có lưu ngôn như vầy: “Này em, nhãn mà thành pháp bên trong còn chưa diệt mất nhưng sắc mà thành pháp bên trong chưa đặng đến dòng sông và cách gom mà hòa hợp cũng chưa có sự hiện bày đặng thành Thức mà hòa hợp cũng chưa có trước. Nhãn mà thành pháp bên trong còn chưa đặng diệt với Sắc mà thành pháp bên ngoài lại đến với dòng, nhưng cách gom mà hòa hợp nhau chưa có sự hiện của sự thành thức mà hòa hợp nhau cũng chưa có trước thời chính trong khi nào nhãn mà thành pháp bên trong còn không đặng hoại đi luôn. Sắc mà thành pháp bên ngoài cũng lại đến xuống giòng luôn, cách gom góp mà hòa hợp nhau cũng có luôn thế này, sự hiện bày của sự thành thức mà hòa hợp nhau mới có”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói Nhãn xứ sanh chung với Nhãn thức.

    1880.

    • Tự ngôn: Nhĩ xứ ... Tỷ xứ ... Thiệt xứ ... Thân xứ sanh chung với Thân thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thân xứ sanh chung với Thân thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Xá Lợi Phất có để lời như vầy: “Này em, thân mà thành pháp bên trong chưa đặng hoại đi nhưng Xúc mà thành pháp bên ngoài chưa đến vào giòng và cách tom góp mà hòa hợp nhau cũng chưa có ... Thân mà thành pháp bên trong chưa đặng diệt hoại với Xúc mà thành pháp bên ngoài cũng lại đến giòng luôn nhưng cách tom góp mà hòa hợp nhau chưa có ... thời chính trong khi nào thân mà thành pháp bên trong chưa đặng hoại mất, Xúc cũng lại đến giòng luôn, cách tom góp mà hòa hợp nhau cũng có luôn thế này, sự hiện bày của sự thành Thức mà hòa trộn nhau mới có”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói Thân xứ sanh đồng chung với Thân thức.

    1881.

    • Phản ngữ: Nên nói pháp tất cả hiện hành trong một sát-na tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Pháp tất cả trường tồn vĩnh viễn nhứt định có cái không đổi thay đi thành lẽ thường phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tất cả pháp cũng hiện hành trong một sát-na tâm chớ gì.

    Dứt Sát-na ngữ

    Rồi Phẩm thứ hai mươi hai

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.