Đại phẩm thứ Hai Mươi Mốt: Tông giáo ngữ, bất nghiêm tịnh ngữ, phật ngữ, ...

Đại phẩm thứ Hai Mươi Mốt: Tông giáo ngữ, bất nghiêm tịnh ngữ, phật ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP
    (ABHIDHAMMAPIAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

    Năm 1976

    PHẨM HAI MƯƠI MỐT

    ---

    TÔNG GIÁO NGỮ (SASANAKATHA)

    1833.

    • Tự ngôn: Tông giáo uyển chuyển mới đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Niệm xứ uyển chuyển mới đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tông giáo uyển chuyển mới đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh cần ... Như ý túc ... Quyền ... Lực ... Giác chi uyển chuyển mới đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tông giáo trong khi trước thành bất thiện uyển chuyển cho đặng sau này thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tông giáo thành cảnh lậu ... thành cảnh triền, thành cảnh phược, thành cảnh bộc, thành cảnh phối, thành cảnh cái, thành cảnh khinh thị, thành cảnh thủ ... thành cảnh phiền não trong khi trước uyển chuyển cho đặng thành phi cảnh phiền não sau này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1834.

    • Tự ngôn: Người thế nào mà uyển chuyển Tông giáo của Như Lai đặng mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thế nào mà uyển chuyển Niệm xứ đặng mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hoặc có người uyển chuyển Chánh cần ... Như ý túc ... Quyền ... Lực ... Giác chi đặng mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cũng có người uyển chuyển Tông giáo trong khi trước đã thành bất thiện làm cho sau này thành thiện đặng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cũng có người uyển chuyển Tông giáo vốn thành cảnh lậu ... vốn thành cảnh phiền não trong khi trước mà làm cho đặng thành phi cảnh phiền não sau này vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1835.

    • Tự ngôn: Tông giáo của Đức Thế Tôn sẽ uyển chuyển mới nữa đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Niệm xứ sẽ uyển chuyển mới nữa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh cần, Như ý túc, Quyền, Lực ... Giác chi sẽ uyển chuyển mới nữa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tông giáo mà trong khi trước thành bất thiện sẽ uyển chuyển cho đặng thành thiện sau này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tông giáo mà thành cảnh lậu ... mà thành cảnh phiền não trong khi trước sẽ uyển chuyển cho thành phi cảnh lậu sau này đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tông giáo ngữ

    ---

    BẤT NGHIÊM TỊNH NGỮ (AVIVITTATHA)

    1836.

    • Tự ngôn: Phàm phu đã không vắng lặng lìa pháp có ba giới (dhātu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phàm phu đã không vắng lặng lìa Xúc có ba giới ... lìa Thọ, lìa Tưởng, lìa Tư, lìa Tâm, lìa Tín, lìa Cần, lìa Niệm, lìa Định, lìa Tuệ có ba giới (dhātu) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phàm phu đã không vắng lặng lìa pháp có ba giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trong sát-na nào phàm phu cho y trong sát-na ấy cũng vẫn vào đến Sơ thiền ... cũng vẫn vào đến nhập Không vô biên xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trong sát-na nào phàm phu cho bát ... cho tọa cụ ... cho y dược, vật dụng trong sát-na ấy cũng vào đến Tứ thiền, cũng vẫn vào đến nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1837.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói phàm phu đã không vắng lặng lìa pháp cho tam giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Pháp mà sẽ cho vào đến Sắc giới và Vô sắc giới mà phàm phu chăm chú đã biết phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì phàm phu cũng đã không vắng lặng lìa pháp có tam giới (dhatu) chớ gì.

    Dứt Bất nghiêm tịnh ngữ

    ---

    TRIỀN NGỮ (SAÑÑOJANAKATHA)

    1838.

    • Tự ngôn: Cách mà hành giả chưa đặng trừ triền thứ nào rồi chứng La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách mà hành giả chưa đặng trừ Thân kiến ... chưa đặng trừ Hoài nghi ... chưa đặng trừ Giới cấm thủ ... chưa đặng trừ Ai, chưa đặng trừ Sân, chưa đặng trừ Si ... chưa đặng trừ Vô úy thứ nào rồi đắc chứng La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1839.

    • Tự ngôn: Cách mà hành giả chưa đặng trừ triền thứ nào rồi đắc chứng La Hán quả vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán còn có Ái, còn có Sân, còn có Si, còn có Ngã mạn, còn có vong ân, còn có bực tức, còn có phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã hết Ái, đã hết Sân, đã hết Si, đã hết Ngã mạn, đã hết vong ân, đã hết so sánh (paḷasa), đã hết bực tức, đã hết phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán đã hết Ái ... đã hết phiền não thời không nên nói cách mà hành giả chưa trừ triền thứ nào rồi đắc quả La Hán vẫn có.

    1840.

    • Phản ngữ: Không nên nói cách mà hành giả chưa đặng trừ triền thứ nào rồi đắc chứng quả La Hán vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán biết tất cả bản tánh của Phật phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì cách mà hành giả chưa đặng trừ triền thứ nào rồi đắc chứng La Hán vẫn có chớ gì.

    Dứt triền ngữ

    ---

    THẦN THÔNG NGỮ (IDDHIKATHA)

    1841.

    • Tự ngôn: Thần thông thành nhân, thành tựu sự mong mỏi của Đức Phật phải chăng? Của Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thần thông thành nhân thành tựu sự mong mỏi như vầy: “Cây trọn không có lá hằng thường như đây của Đức Phật? Của Thinh Văn vẫn có” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thần thông thành nhân thành tựu sự mong mỏi là cây trọn không có lá hằng thường như đây của Đức Phật phải chăng? Của Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thần thông thành nhân thành tựu sự mong mỏi của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thần thông thành nhân thành tựu sự mong mỏi như vầy: “Xúc đã phát sanh đừng diệt mất như đây của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thần thông thành nhân thành tựu sự mong mỏi như vầy: “Thọ ... Tưởng ... Tư ... Tâm, Tín, Cần, Niệm, Định ... Tuệ đã phát sanh đừng diệt mất đi như đây của Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1842.

    • Tự ngôn: Thần thông làm nhân thành tựu sự mong mỏi nhu yếu của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thần thông làm nhân thành tựu sự nhu yếu như vầy: “Sắc trọn thành đồ trường tồn, Thọ, Tưởng, Hành, Thức trọn thành đồ trường tồn như đây của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1843.

    • Tự ngôn: Thần thông làm nhân thành tựu sự nhu yếu của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thần thông làm nhân thành tựu sự nhu yếu như vầy: “Tất cả chúng sanh có sự sanh theo lẽ thường đừng sanh ghen như đây ... rằng tất cả chúng sanh vẫn có sự già là thường đừng cho già như đây ... rằng tất cả chúng sanh vẫn có sự đau là lẽ thường đừng đau ghen như đây ... rằng tất cả chúng sanh phải có sự chết theo lẽ thường đừng chết ghen như đây của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1844.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói thần thông làm nhân thành tựu sự nhu yếu của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài Pilindavaccha có nguyện: “Hoàng cung của Đức vua bực Đại Nguyên Soái hiệu là Bimbīsāra (Bình Sa Vương) rằng trọn thành vàng như thế và hoàng cung ấy cũng đặng thành vàng thật” phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài Pilindavaccha có nguyện Hoàng Cung của Đức vua Ma Khất bực Đại Nguyên Soái hiệu Bình Sa Vương rằng trọn thành vàng như thế và hoàng cung ấy cũng đặng thành vàng chắc chắn, chính do nhân đó mới có nói rằng thần thông làm nhân thành tựu sự nhu yếu của Đức Phật hoặc của Thinh Văn vẫn có.

    Dứt Thần thông ngữ

    ---

    PHẬT NGỮ (BUDDHAKATHA)

    1845.

    • Tự ngôn: Phật cùng Phật với nhau còn có dư thiếu khác nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bằng Niệm xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bằng Chánh cần phải chăng? ... bằng Như ý túc, bằng Quyền, bằng Lực, bằng Giác chi, bằng sự chuyên môn ... bằng tri kiến Toàn Giác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Phật ngữ

    ---

    CHƯ PHƯƠNG NGỮ (SABBAD DISĀKATHĀ)

    1846.

    • Tự ngôn: Phật Ngài ngự trong tất cả hướng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phật Ngài ngự hướng Đông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Phật Ngài ngự trong hướng Đông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Phật vị ấy hiệu là chi? Sanh ra sao? Giòng giống chi? Mẹ cha của Đức Phật ấy có tên là chi? Đôi Thinh Văn của Phật ấy có tên là chi? Người ủng hộ của Đức Phật ấy tên là chi? Đức Phật vị ấy mặc y thế nào? Mang bát như thế nào? Ngự nơi nhà nào? Hoặc trong xã nào? Hoặc trong thành nào? Hoặc trong nước nào? Hoặc trong thôn quê nào? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Phật Ngài ngự trong hướng Nam ... hướng Tây ... hướng Bắc ... hướng Dưới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Phật Ngài ngự ở hướng Dưới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Phật ấy hiệu là chi? ... Ngự trong thôn quê nào? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Phật Ngài ngự trong hướng Trên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Phật Ngài ngự trong hướng Trên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngự ở từng Tứ thiên vương phải chăng? Ngự ở trong từng Đao Lợi phải chăng? Ngự ở trong từng Dạ ma phải chăng? Ngự ở trong từng Đẩu xuất phải chăng? Ngự trong từng Hóa lạc phải chăng? Ngự trong từng Tha hóa tự tại phải chăng? ... Ngự trong cõi Phạm Thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Chư phương ngữ

    PHÁP NGỮ (DHAMMAKATHĀ)

    1847.

    • Tự ngôn: Tất cả pháp thành nhứt định (niyata) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khối mà thành bất định không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khối mà thành bất định vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà khối mà thành bất định vẫn có thời không nên nói pháp tất cả thành nhứt định.

    1848.

    • Tự ngôn: Pháp tất cả thành nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Phật có thuyết ba khối (rāsī): Một là khối tà nhứt định, hai là khối chánh nhứt định, ba là khối mà thành bất định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn có thuyết ba khối như là: Một là khối thành tà nhứt định, hai là khối thành chánh nhứt định, ba là khối thành bất định thời không nên nói pháp tất cả thành nhứt định.

    1849.

    • Tự ngôn: Sắc thành nhứt định theo nghĩa là Sắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức thành nhứt định theo ý nghĩa là Thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1850.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Sắc thành nhứt định theo ý nghĩa là Sắc ... Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức thành nhứt định theo ý nghĩa Thức phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Sắc thành Thọ, thành Tưởng, thành Hành, thành Thức, Thọ, Tưởng, Hành ... Thức thành Sắc, thành Thọ, thành Tưởng, thành Hành phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì Sắc cũng thành nhứt định theo ý nghĩa là Sắc, Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức thành nhứt định bằng ý nghĩa là Thức chớ gì.

    Dứt Pháp ngữ

    ---

    NGHIỆP NGỮ (KAMMAKATHĀ)

    1851.

    • Tự ngôn: Nghiệp tất cả thành nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khối mà thành bất định không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khối mà thành bất định vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói khối mà thành bất định vẫn có thời không nên nói nghiệp tất cả thành nhứt định.

    1852.

    • Tự ngôn: Nghiệp tất cả thành nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn có nói ba khối là khối tà nhứt định, khối chánh nhứt định và khối bất định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài nói có ba khối như là khối tà nhứt định, khối chánh nhứt định và khối bất định thời không nên nói nghiệp tất cả thành nhứt định.

    1853.

    • Tự ngôn: Kim thế hiện tại nghiệp (diṭṭhadhammavedanīya) thành nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hậu sanh nghiệp (Upapajjavedanīyakamma) ... Hậu hậu thế nghiệp (aparāpariyavedanīyakamma) thành nhứt định bằng ý nghĩa Hậu hậu thế (aparāpariyavedanīya) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành tà nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1854.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Kim thế hiện tại nghiệp (diṭṭhadhammavedanīyakamma) thành nhứt định bằng ý nghĩa Kim thế hiện tại, Hậu sanh nghiệp (diṭṭhadhammavedanīya uppajjavedanīyakamma) ... Hậu thế nghiệp (aparāpariyavedanīyakamma) thành nhứt định bằng ý nghĩa Hậu hậu thế (Aparāpariyavedanīya) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Kim thế hiện tại nghiệp thành Hậu sanh nghiệp (uppajjavedanīya-kamma), thành Hậu hậu thế nghiệp (aparāpariyavedanīyakamma) ... Hậu sanh nghiệp thành Kim thế hiện tại nghiệp, thành Hậu hậu thế nghiệp (aparāpaniyavedanīyakamma) ... Hậu hậu thế nghiệp thành Kim thế hiện tại nghiệp, thành Hậu sanh nghiệp phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó Kim thế hiện tại nghiệp cũng thành nhứt định bằng ý nghĩa Kim Thế hiện tại Hậu sanh nghiệp ... Hậu hậu thế nghiệp cũng thành nhứt định bằng ý nghĩa Hậu hậu thế chớ gì.

    Dứt Nghiệp ngữ

    Dứt Phẩm thứ hai mươi mốt

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.