Đại phẩm thứ Hai Mươi: Vô cố quyết ngữ, trí ngữ, diêm vương ngữ, ...

Đại phẩm thứ Hai Mươi: Vô cố quyết ngữ, trí ngữ, diêm vương ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP
    (ABHIDHAMMAPIAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

    Năm 1976

    PHẨM HAI MƯƠI

    ---

    VÔ CỐ QUYẾT NGỮ (ASAÑCICCA KATHA)

    1809.

    • Tự ngôn: Người sát mẫu bằng cách không phải cố tâm, bằng cách không phải cố quyết thời thành kẻ gọi là tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người sát sanh không phải bằng cách cố ý thành người gọi là sát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người giết mẹ do không cố quyết thành người gọi là tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người lấy đồ đạc của họ không cho ... nói láo bằng cách không cố quyết thời thành người gọi là vọng ngữ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1810.

    • Tự ngôn: Người sát sanh bằng cách chẳng phải cố quyết không thành người gọi là sát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người sát phụ với cách không phải cố quyết không thành người gọi là tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người lấy của mà chủ không cho ... nói láo bằng cách không cố ý thì không gọi là người vọng ngữ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kẻ sát phụ bằng cách không cố ý thì không gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1811.

    • Tự ngôn: Kẻ sát phụ bằng cách không cố quyết gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lời nói rằng: “Người sát mẫu bằng cách không ngoan cố gọi là người tạo nghiệp vô gián”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nói rằng: “Người cố giết mẹ gọi là người tạo nghiệp vô gián”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng: “Người cố ý giết mẹ gọi là người tạo nghiệp vô gián”. Như đây là bài Kinh vẫn có thật thời không nên nói kẻ sát mẫu bằng cách không cố quyết gọi là người tạo nghiệp vô gián.

    1812.

    • Phản ngữ: Không nên nói kẻ giết mẹ gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Họ đã đặng sát mẫu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà họ đã đặng sát mẫu, chính do nhân đó mới có nói rằng kẻ sát mẫu gọi là người tạo nghiệp vô gián.
    • Phản ngữ: Không nên nói kẻ sát phụ gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Họ đã đặng sát phụ rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà họ đã đặng sát phụ, chính do nhân đó mới có nói rằng kẻ sát phụ gọi là người tạo nghiệp vô gián.
    • Phản ngữ: Chớ nói rằng kẻ giết La Hán gọi là tạo nghiệp vô gián phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Họ đã đặng giết La Hán rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà họ đã đặng giết La Hán, chính do nhân đó mới có nói rằng kẻ giết La Hán mới gọi là người tạo nghiệp vô gián.
    • Phản ngữ: Chớ nói rằng kẻ chích Phật thân huyết gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Họ đã đặng chích Phật thân huyết rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà họ đã đặng chích Phật thân huyết rồi, chính do nhân đó mới có nói rằng kẻ chích Phật thân huyết gọi là người tạo nghiệp vô gián.
    • Tự ngôn: Kẻ phá hòa hợp Tăng gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kẻ phá hòa hợp Tăng gọi là người tạo tất cả nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Kẻ phá hòa hợp Tăng gọi là người tạo tất cả nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thành bực có sự trọng hệ là trúng pháp làm cho Tăng chia rẽ nhau gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người thành bực có sự quan trọng rằng nhằm trúng pháp làm cho Tăng chia rẽ nhau gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này U PāLī, kẻ phá hòa hợp Tăng mà sẽ phải đi đường ác, sẽ phải đi Địa ngục, đình trụ luôn cả kiếp sửa đổi không đặng vẫn có, bực người phá hòa hợp Tăng mà không phải đi vào ác đạo, không cần đi Địa ngục, không phải chịu luôn cả kiếp, chẳng phải người sửa đổi không đặng vẫn có”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói người thành bực có sự trọng hệ là trúng nhằm pháp làm cho Tăng chia rẽ gọi là người tạo nghiệp vô gián (anantarikakamma).

    1813.

    • Phản ngữ: Không nên nói bực người có sự quan trọng rằng bị trúng pháp làm cho Tăng chia rẽ gọi là người tạo nghiệp vô gián phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bực người phá hòa hợp Tăng thành kẻ sẽ phải đi ác đạo, sẽ phải đi Địa ngục ở chịu luôn cả kiếp, họ thành người ưa thích cách chia rẽ, không gìn giữ theo pháp, vẫn xa lìa pháp, thành biên cương xa lìa phối (yoga), họ phá hòa hợp Tăng, vẫn cháy trong Địa ngục luôn cả kiếp”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì kẻ phá hòa hợp Tăng cũng gọi là người tạo nghiệp vô gián chớ gì.

    Dứt Vô cố quyết ngữ

    ---

    TRÍ NGỮ (ÑAṆAKATHA)

    1814.

    • Tự ngôn: Trí không có với phàm phu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ, thái độ hiểu rõ, sự nghiên cứu, sự lựa chọn, sự trạch pháp, sự chăm chú tiêu chuẩn, sự vào chăm chú, sự vào chăm chú trong phần không có với phàm phu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ, thái độ hiểu rõ, sự nghiên cứu ... sự vào chăm chú biết phần của phàm phu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà tuệ, thái độ hiểu rõ, sự nghiên cứu ... sự vào chăm chú riêng phần của phàm phu vẫn có thời không nên nói trí không có với phàm phu.

    1815.

    • Tự ngôn: Trí không có với phàm phu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phàm phu có thể nhập Sơ thiền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà phàm phu có thể nhập Sơ thiền thời không nên nói trí không có với phàm phu.

    1816.

    • Tự ngôn: Phàm phu có thể nhập Nhị thiền ... Tam thiền ... Tứ thiền ... có thể nhập Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Phàm phu có thể bố thí, có thể dưng y ... có thể cúng bát, có thể cúng tọa cụ ... có thể cúng Y dược vật dụng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà phàm phu có thể cúng y dược, vật dụng thời không nên nói trí không có với phàm phu.

    1817.

    • Phản ngữ: Trí của phàm phu vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu chăm chú biết Khổ, trừ Tập, làm cho rõ Diệt, còn làm cho Đạo phát sanh bằng tuệ ấy phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Trí ngữ

    ---

    DIÊM VƯƠNG NGỮ (NIRAYAPALAKATHA)

    1818.

    • Tự ngôn: Vua Diêm Vương không có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tổ chức không có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách tổ chức vẫn có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Diêm Vương vẫn có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1819.

    • Tự ngôn: Cách tổ chức vẫn có trong nhân loại và bực người tổ chức cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tổ chức vẫn có trong tất cả Địa ngục và bực người tổ chức cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tổ chức vẫn có trong tất cả Địa ngục nhưng bực người tổ chức không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tổ chức vẫn có trong nhân loại nhưng bực người tổ chức không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1820.

    • Phản ngữ: Vua Diêm Vương vẫn có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Pháp Chủ cũng không đặng giết Chúa Ngạ quỉ, không đặng giết Nguyệt Vương, Diêm Vương và Đa Văn Thiên Vương, cũng không đặng giết nghiệp của người khác, giết người hết phước lìa đời này và vào đến đời khác trong Địa ngục những đó đó”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó vua Diêm Vương cũng không có trong tất cả Địa ngục chớ gì.

    1821.

    • Tự ngôn: Vua Diêm Vương không có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, hàng Diêm Vương có thể làm cho chúng sanh trong Địa ngục ấy thọ nghiệp sắp đặt mà gọi là cơ quan giam cầm năm cách như là đóng đinh, sắt nóng, một phía bên tay đóng đinh sắt nóng, một phía bên tay nữa đóng đinh sắt nóng, một phía chân đóng đinh sắt nóng, một phía chân nữa đóng đinh sắt nóng ngay giữa ngục. Chúng sanh trong Địa ngục ấy hưởng chịu khổ cay nóng ở trong Địa ngục ấy và sẽ còn chưa chết luôn thời gian mà nghiệp tội ấy chưa hết”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó vua Diêm Vương cũng không có ở trong tất cả Địa ngục chớ gì.

    1822.

    • Tự ngôn: Vua Diêm Vương không có trong tất cả Địa ngục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, hàng Diêm Vương bắt chúng sanh trong Địa ngục nằm sắp trải rồi dẫn nhau kéo bừa sắt... Chư Diêm Vương dựng chúng sanh trong ngục đó chân trở lên đầu trở xuống rồi kéo bằng câu liêm ... chư Diêm Vương chất chúng sanh trong ngục đó vào trong xe rồi chạy tới chạy lui trên mặt đất mà lửa đã cháy liên tiếp có ngọn bằng nhau sáng chói ... Chư Diêm Vương còn làm cho chúng sanh trong Địa ngục đó gạn lên gạn xuống với núi lửa to mà lửa đã khắp liền có ngọn thành như nhau, ánh sáng chói hừng ... Chư Diêm Vương bắt chúng sanh trong Địa ngục đó dựng chân lên đầu xuống để vào trong nồi đồng nóng đỏ mà lửa đã liên tiếp đầy có ngọn đồng nhau, có ánh sáng suốt, họ vùi lửa có thân như bọt trong nồi đồng ấy và cả nơi cháy lấp có thân thể như bọt ở trong nồi đồng ấy, có khi nổi phù lên phía trên, có khi chìm xuống phía dưới, có khi vụt quăng đi, họ hưởng chịu cái khổ ... Tất cả Diêm Vương vẫn để vào nơi chúng sanh Địa ngục đó trong Đại địa Ngục thời chính Địa ngục đó có bốn góc, bốn cửa chia phân định thành mỗi phần có vách sắt giáp vòng toàn bằng sắt, nền của Đại Ngục đó cũng đều bằng sắt hiệp với sự nóng bốc lên thành ngọn tỏa đi cả trăm dặm đặt chung quanh trong mỗi thời giờ”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì Diêm Vương cũng vẫn có trong tất cả Địa ngục chớ gì.

    Dứt Diêm Vương ngữ

    ---

    BÀNG SANH NGỮ (TIRACCHANAKATHA)

    1823.

    • Tự ngôn: Bàng sanh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chư thiên vẫn có trong loại bàng sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bàng sanh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cõi Trời là nơi sanh ra của bàng sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bàng sanh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bò cào, châu chấu, muỗi, ruồi, rắn, rít, bò kẹp, con lãi vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1824.

    • Phản ngữ: Bàng sanh không có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thần tượng, xe tiên mà sánh bằng 1000 con ngựa vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Tượng vóc đặc biệt gọi là thần mã, xe tiên mà sánh với 1000 con Ngựa vẫn có trong Chư thiên ấy, chính do nhân đó mới có nói rằng bàng sanh vẫn có trong hàng Chư thiên.

    1825.

    • Tự ngôn: Bàng sanh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Những loại tượng, những loại ngựa, người cắt cỏ nuôi tượng, người quản lý bực làm đồ ăn cho chúng sanh vẫn có trong hàng Chư thiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó loài bàng sanh cũng vẫn không có trong Chư thiên chớ gì.

    Dứt Bàng sanh ngữ

    ---

    ĐẠO NGỮ (MAGGAKATHA)

    1826.

    • Tự ngôn: Đạo có năm chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán: “Đạo có tám chi như là Chánh kiến ... Chánh định” phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có phán đạo có tám chi tức là Chánh kiến ... Chánh định, thời không nên nói đạo có năm Chi.
    • Tự ngôn: Đạo có năm chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bao nhiêu đường (magga) mà con đường có tám chi đặc biệt cùng tột; bao nhiêu đế mà có Tứ đế đặc biệt cùng tột, bao nhiêu pháp mà có pháp ly dục cùng tột, bao nhiêu nhị cú (pada) Đức Thế Tôn Ngài có nhãn đặc biệt cùng tột”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì đạo cũng có tám chi chớ gì.

    1827.

    • Tự ngôn: Chánh ngữ là chi của đạo nhưng Chánh ngữ ấy không thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh kiến là chi của đạo nhưng Chánh kiến ấy không thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh ngữ là chi của đạo nhưng Chánh ngữ ấy không thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh tư duy ... Chánh tinh tấn ... Chánh niệm ... Chánh định là chi của đạo nhưng Chánh định không thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh nghiệp ... Chánh mạng là chi của đạo nhưng Chánh mạng đó không thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh kiến ... Chánh định là chi của đạo nhưng Chánh định ấy không thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1828.

    • Tự ngôn: Chánh kiến là chi của đạo và Chánh kiến ấy thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh ngữ là chi của đạo và Chánh ngữ ấy thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh kiến là chi của đạo và Chánh kiến ấy thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh nghiệp ... Chánh mạng là chi của đạo và Chánh mạng ấy thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh tư duy ... Chánh tinh tấn ... Chánh niệm ... Chánh định là chi của đạo và Chánh định ấy thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh ngữ ... Chánh nghiệp ... Chánh mạng thành chi của đạo và Chánh mạng ấy thành đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1829.

    • Phản ngữ: Thánh Đạo có bát chi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Hoặc thân nghiệp, khẩu nghiệp, thân thể của người ấy thành tính cách trong sạch chỉ trong thuở trước đó. Thánh Đạo có 8 chi này vẫn đến sự đầy đủ bằng tu tiến của người ấy bằng cách thế này”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì đạo cũng có ngũ chi chớ gì.

    1830.

    • Tự ngôn: Đạo có năm chi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Subhadda, Thánh Đạo có tám chi không thể có trong pháp luật khác vậy, dù Sa Môn cũng kiếm không đặng trong pháp luật ấy, dù Sa Môn thứ hai cũng kiếm không đặng trong pháp luật ấy, dù Sa Môn thứ ba cũng kiếm không đặng trong pháp luật ấy, dù Sa Môn thứ tư cũng kiếm không đặng trong pháp luật ấy, thời Thánh Đạo chẳng phải có tám chi trong pháp luật nào đâu. Còn Bát Chi Đạo có trong pháp luật nào, thì Sa Môn cũng kiếm đặng trong pháp luật ấy, dù Sa Môn thứ hai ... dù Sa Môn thứ ba ... dù Sa Môn thứ tư cũng kiếm đặng trong pháp luật ấy. Này Subhadda, Thánh Đạo có tám chi vẫn kiếm đặng trong pháp luật này đây, Sa Môn thứ hai, Sa Môn thứ ba, Sa Môn thứ tư vẫn tìm đặng trong pháp luật này xử phạt bằng Giáo chủ khác khác, ngoài ra tất cả Sa Môn”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thì đạo cũng có tám chi chớ gì.

    Dứt Đạo ngữ

    ---

    TRÍ NGỮ (ÑAṆA KATHA)

    1831.

    • Tự ngôn: Trí siêu thế có mười hai tông (vatthu) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Siêu thế Trí thành mười hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí siêu thế thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo Dự Lưu thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo Dự Lưu thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo Nhứt Lai thành mười hai thứ phải chăng ... Đạo Bất Lai ... Đạo La Hán thành 12 thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo La Hán thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo La Hán thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1832.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Trí siêu thế có mười hai tông (vatthu) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nhãn đã sanh ra, tuệ đã sanh ra, minh đã sanh ra, ánh sáng đã sanh ra cho Như Lai trong tất cả pháp mà Như Lai không từng đặng nghe trong thuở trước rằng đây là khổ, thành của thật thứ đặc biệt, như đây này chư Phíc-khú nhãn đã sanh ... ánh sáng đã phát ra cho Như Lai trong tất cả pháp mà Như Lai không từng đặng nghe trong khi trước. Đây cũng là khổ mà thành của thật thứ đặc biệt chính đây vậy mà Như Lai có thể chăm chú biết như đây ... cũng là khổ mà thành của thật thứ đặc biệt chính là đây vậy, mà Như Lai chăm chú đã biết như đây ... rằng đây là nhân sanh của khổ thành của thật thứ đặc biệt như đây ... rằng nhân phát sanh của khổ mà thành của thật thứ đặc biệt chính đây vậy mà Như Lai có thể trừ bỏ như đây ... rằng nhân phát sanh của khổ mà thành của thật thứ đặc biệt chính thế này mà Như Lai đã trừ rằng đây phát hành chỗ diệt khổ thành của thật thứ đặc biệt như đây ... rằng pháp thành chỗ diệt khổ mà thành của thật thứ đặc biệt chính như thế đó, vậy mà Như Lai có thể làm cho rõ như đây ... rằng pháp thành chỗ diệt khổ mà thành của thật thứ đặc biệt thế này mà Như Lai đã làm cho rõ như đây ... rằng đây tiến hành cho đến pháp thành chỗ diệt khổ thành của thật thứ đặc biệt như đây ... rằng tiến hành cho đến pháp thành chỗ diệt mà thành của thật thứ đặc biệt chính như thế mà Như Lai có thể phát sanh như đây ... rằng tiến hành mà cho đến pháp thành chỗ diệt khổ thành đồ thật thứ đặc biệt chính như thế mà Như Lai đã cho phát sanh”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì Trí siêu thế cũng có mười hai tông (vatthu) chớ gì.

    Dứt Trí ngữ

    Rồi Phẩm thứ hai mươi

    Đủ 15000 chữ phần thứ tư.

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.