Đại phẩm thứ Hai: Tha dẫn ngữ, hoài nghi ngữ, tâm trụ ngữ, từ cú ngữ, ...

Đại phẩm thứ Hai: Tha dẫn ngữ, hoài nghi ngữ, tâm trụ ngữ, từ cú ngữ, ...

     

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA 

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP (ABHIDHAMMAPIṬAKA) 

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU) 

    CẢO BẢN 

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Saṅtakicco

    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt 

    PHẨM THỨ HAI 

    --- 

     

     

    PHẨM THỨ HAI

    ---

    THA DẪN NGỮ (PARŪPAHĀRAKATHĀ)

    446.

    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái tình, tình dục, sự phát khởi Ái dục, Dục triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    447.

    • Tự ngôn: Ái tình, Ái dục, sự phát khởi Ái dục, Ái dục triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái không có với La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ái tình, tình dục, sự phát khởi tình dục, Ái dục triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái không có với La Hán thời không nên nói rằng sự xuất tinh của La Hán vẫn có.

    448.

    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của phàm phu vẫn có và Ái tình, Ái dục, sự phát khởi của Ái dục, Ái dục triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái của họ cũng còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của La Hán vẫn có và Ái tình, Ái dục, sự phát khởi của Ái dục, Dục dục cái của Ngài cũng còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    449.

    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của La Hán vẫn còn có, nhưng Ái tình, Ái dục, sự phát khởi của Ái dục ... Dục dục cái không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của phàm phu vẫn có, nhưng Ái tình, Ái dục, sự phát khởi Ái dục ... Dục dục cái không có với họ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    450.

    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Giải ý nghĩa bằng cách nào? Phản ngữ: Giải ý nghĩa bằng cách như vầy: “Thiên Ma vào làm cách xuất tinh của La Hán”.

    451.

    • Tự ngôn: Thiên Ma (Māra devatā) vào xuất tinh của La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiên Ma vẫn có sự xuất tinh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    452.

    • Tự ngôn: Thiên Ma không có cách xuất tinh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thiên Ma không có cách xuất tinh thời không nói Thiên Ma vào xuất tinh nơi La Hán.

    453.

    • Tự ngôn: Thiên Ma vào xuất tinh nơi La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiên Ma tự xuất tinh và vào làm cho người khác xuất tinh đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    454.

    • Tự ngôn: Thiên Ma tự xuất tinh và vào làm cho người khác xuất tinh không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thiên Ma tự xuất tinh và vào làm cho người khác xuất tinh không đặng thời không nên nói Thiên Ma vào làm xuất tinh nơi La Hán.

    455.

    • Tự ngôn: Thiên Ma vào làm cách xuất tinh nơi La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhập vào theo chưng lông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    456.

    • Tự ngôn: Thiên Ma vào làm cách xuất tinh nơi La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bởi do nhân chi? Phản ngữ: Vì sẽ làm cho Ngài phải bị Hoài nghi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    457.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Hoài nghi điều học, Hoài nghi đời quá khứ, Hoài nghi đời vị lai, Hoài nghi cả đời quá khứ và vị lai, Hoài nghi pháp Y tương sinh phải nương nhau mới có sanh ra, những cách ấy còn phát sanh cho La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    458.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Hoài nghi điều học, Hoài nghi đời quá khứ, Hoài nghi đời vị lai, Hoài nghi cả đời quá khứ và vị lai, Hoài nghi pháp Y tương sinh phải trợ nhau mới có sanh ra, những cách ấy không có phát sanh với La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự Hoài nghi Phật bảo ... Sự Hoài nghi pháp Y tương sinh phải trợ nhau mới sanh ra; những cách ấy chẳng có với La Hán thời không nên nói rằng La Hán còn có sự Hoài nghi.

    459.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu còn có và sự Hoài nghi Phật bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh là phải do duyên trợ mới có ra của họ vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán còn sự Hoài nghi và Hoài nghi Phật bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh là pháp phải do trợ mới sanh ra như thế của Ngài cũng còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    460.

    • Tự ngôn: La Hán còn sự Hoài nghi, nhưng sự Hoài nghi Phật bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh là pháp phải do nhân trợ mới sanh ra, như thế của Ngài không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có, nhưng sự Hoài nghi Phật bảo ... Sự Hoài nghi pháp Y tương sinh là pháp do nhân trợ mới sanh ra, như thế của họ không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có, nhưng sự Hoài nghi Phật bảo ... Sự Hoài nghi pháp Y tương sinh là pháp do nhân trợ mới sanh ra, như thế của họ không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    461.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán thành quả của những gì? Thành quả của cách ăn, cách uống, cách nhai, cách liếm.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán thành quả của sự ăn, uống, nhai, liếm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi một người nào còn ăn, còn uống, còn nhai, còn liếm thời cách xuất tinh của mỗi một người ấy vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    462.

    • Tự ngôn: Mỗi một người nào còn ăn, còn uống, còn nhai, còn liếm thời cách xuất tinh của mỗi một người ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Anh hài (con nít mới sanh) còn ăn, còn uống, còn nhai, còn liếm thời cách xuất tinh vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    463.

    • Tự ngôn: Hạng phi nam nữ còn ăn, còn uống, còn nhai, còn liếm thời cách xuất tinh của người phi nam nữ vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    464.

    • Tự ngôn: Hàng Chư thiên còn ăn, còn uống, còn nhai, còn liếm thời cách xuất tinh của hàng Chư thiên vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    465.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán là quả của sự ăn, sự uống, sự nhai, sự liếm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thành tựu quả của Ngài vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    466.

    • Tự ngôn: Đại tiện, tiểu tiện của La Hán là quả của sự ăn, sự uống, sự nhai, sự liếm thời sự thành tựu quả của Ngài vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán là quả của sự ăn uống, sự nhai, sự liếm thời sự thành quả của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    467.

    • Tự ngôn: Sự xuất tinh của La Hán là quả của cách ăn uống, cách nhai, cách liếm, nhưng sự thành tựu quả không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đại tiện, tiểu tiện của La Hán là quả của cách ăn, cách uống, cách nhai, cách liếm nhưng sự thành tựu quả không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    468.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán đáng hưởng pháp dâm dục, đáng còn làm cho pháp dâm dục sanh ra, đáng nằm nơi chỗ nằm, ép bức với con, đáng dùng vải nỉ và nhuyễn, đáng hứng thú mùi bông thơm và đồ thơm tho mình, đáng vui thích với vàng bạc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    469.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của phàm phu vẫn có nên phàm phu phải hưởng dâm dục, còn làm cho pháp dâm dục phát sanh ... phải ưa thích bạc vàng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn có thời La Hán phải hưởng dâm dục, còn làm cho pháp dâm dục phát sanh ... phải ưa thích bạc vàng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    470.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn còn, nhưng La Hán sẽ phải hưởng dâm dục, sẽ phải làm cho pháp dâm dục sanh lên ... và sẽ phải ưa thích bạc vàng đều không có đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu sẽ phải hưởng dâm dục, sẽ phải còn cho pháp dâm dục phát sanh sẽ phải nằm nơi chỗ nằm mà ép bức với con, sẽ phải dùng vải nỉ nhuyễn, sẽ phải chưng bông và đồ thơm thoa và sẽ phải vui thích với bạc vàng cũng chẳng có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    471.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mà La Hán đã trừ tuyệt rút rễ hết làm cho đặng như thốt nốt đứt đọt, làm cho sau này không còn sanh ra nữa là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ái của La Hán đã trừ tuyệt rút rễ hết, làm cho như cây thốt nốt đứt đọt, làm cho sau này không còn sanh nữa theo lẽ thường thời không nên nói rằng cách xuất tinh La Hán vẫn còn.

    472.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sân, ... Si, Ngã mạn, Tà kiến, Hoài nghi, Hôn trầm, Điệu cử, Vô tàm ... Vô úy mà La Hán đã tuyệt trừ nhổ hết rễ làm như cây thốt nốt đứt đọt không còn sanh nữa sau này tự nhiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Vô úy của La Hán đã tuyệt trừ nhổ hết rễ làm cây thốt nốt đứt đọt không còn sanh lại sau này nữa là lẽ thường thời cũng không nên nói rằng cách xuất tinh của La Hán còn.

    473.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo La Hán phát sanh trừ tuyệt Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đạo La Hán đã sanh để trừ tuyệt Ái thời cũng không nên nói cách xuất tinh của La Hán vẫn còn.

    474.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán đã làm Niệm xứ phát sanh ... Chánh cần phát sanh, Như ý túc phát sanh, Quyền phát sanh, lực phát sanh ... Giác chi phát sanh hầu trừ tuyệt Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán đã làm cho Giác chi phát sanh hầu trừ tuyệt Ái thời không nên nói cách xuất tinh của La Hán vẫn còn.

    475.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo La Hán đã sanh ... Giác chi đã sanh hầu trừ tuyệt Sân ... đặng trừ tuyệt Si ... đặng trừ tuyệt Vô úy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói La Hán đã làm cho Giác chi phát sanh để trừ Vô úy thời không nên nói cách xuất tinh của La Hán vẫn có. 

    476.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán là bực đã xa lìa Ái, Sân, Si việc làm đã xong, hết phận sự, đã chứng tự lợi, đã hoàn tất đứt cơ quan ràng buộc trong hữu (bhāva), giải thoát đặc biệt do chơn trí, đã rút chốt lấp cống rồi, nhổ cột cừ lên thành bực không có then chốt, đắc Thánh, hạ cờ ngã mạn, buông bỏ phận sự, dứt cơ quan ràng buộc, đã thắng đặc biệt, Ngài quyết hiểu Khổ rồi, đã trừ Tập, làm cho rõ Diệt, Đạo đặng sanh, hiểu pháp rốt ráo đáng hiểu biết, chăm chú hiểu pháp đáng hiểu, bày trừ pháp đáng bày trừ, trau dồi pháp đáng trau dồi, đã làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán đã thành bực lìa Ái, Sân, Si, việc làm đã xong ... đã làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ rồi thời không nên nói: “Cách xuất tinh của La Hán vẫn có”.

    477.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Cách xuất tinh của La Hán bực rành trong pháp của mình (bực Tuệ Giải Thoát) vẫn có. Nhưng cách xuất tinh không có với La Hán bực rành trong pháp khác (bực Lưỡng Biên Giải Thoát) (Ubhatovimutti).
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán bực rành (khôn khéo) trong pháp của mình vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán bực rành trong pháp khác có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    478.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách xuất tinh không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    479.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình trừ tuyệt Ái, nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác đã trừ tuyệt Ái, nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    480.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình trừ tuyệt Sân, trừ tuyệt Si, trừ tuyệt Vô úy rồi nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác đã trừ tuyệt Vô úy, nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    481.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, cho đã sanh, ... Giác chi đã phát sanh hầu trừ tuyệt Ái ... trừ tuyệt Sân ... trừ tuyệt Si ... trừ tuyệt Vô úy. Nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác, Giác chi đã sát sanh hầu trừ tuyệt Vô úy. Nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    482.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình thành bực xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... làm cho rõ pháp đáng rõ, nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác thành người xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt. Nhưng cách xuất tinh của Ngài vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    483.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác trừ tuyệt Ái rồi và cách xuất tinh cũng không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, đã trừ tuyệt Ái và cách xuất tinh cũng không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    484.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác, đã trừ tuyệt Sân, trừ tuyệt Si rồi ... đã trừ tuyệt Vô úy và cách xuất tinh cũng không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, đã trừ tuyệt Vô úy và cách xuất tinh không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    485.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác, đạo đã sanh ... Giác chi đã phát sanh hầu trừ Ái ... tuyệt Sân, đã dứt hết Si ... Đạo đã sanh ... Giác chi đã phát sanh rồi hầu trừ tuyệt Vô úy và cách xuất tinh không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, Giác chi đã sanh đặng tuyệt trừ Vô úy và cách xuất tinh của Ngài không có đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    486.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác là người xa lìa Ái, Sân, Si ... đã làm cho pháp đáng rõ rệt đã rõ rệt và cách xuất tinh không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình thành người xa lìa Ái, Sân, Si ... đã làm cho pháp đáng rõ rệt đã rõ rệt và cách xuất tinh không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    487.

    • Tự ngôn: Cách xuất tinh của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, vị còn phàm phu đầy đủ giới đức, có chánh niệm lương tri, tiến sự vắng lặng thời tinh dịch của những vị ấy vẫn không xuất tinh đến đổi đạo sĩ nào dù ngoài Phật giáo mà thành bực xa lìa trong tình dục rồi thì tinh dịch của những bực đạo sĩ đó không xuất ra. Này chư Phíc-khú, điều mà tinh dịch của La Hán sẽ phải xuất đây là phi cơ sở, phi nhân dịp mới sẽ hiện bày đặng”. Như thế là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói cách xuất tinh của La Hán vẫn có.

    488.

    • Phản ngữ: Không nên nói cách dẫn vào của người khác La Hán phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người khác phải dẫn đem vào nơi y bát, chỗ nghỉ ngơi, thuốc men, các vật dụng với La Hán phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu người khác phải đem vào nơi y bát chỗ nghỉ ngơi, thuốc men, các vật dụng với La Hán; bằng nhân đó Ngài mới nói rằng có cách đem vào của người khác cho La Hán.

    489.

    • Tự ngôn: Do người khác phải đem vào nơi y bát, chỗ nghỉ ngơi, thuốc men, vật dụng cho La Hán. Bởi thế đó mới có cách đem vào của người khác cho La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người khác phải đem vào thời bực Sơ quả, Nhị quả, Tam quả hoặc La Hán quả cho La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tha dẫn ngữ (Parūpahārakathā)

    ---

    BẤT TRI NGỮ (AÑÑĀṆAKATHĀ)

    490.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất tri (avijjā), bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    491.

    • Tự ngôn: Bất tri (avijjā), bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái không có với La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất tri, bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái không có với La Hán thời chớ nên nói sự bất tri của La Hán vẫn có.

    492.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của phàm phu vẫn có và bất tri, bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái của họ cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự bất tri của La Hán vẫn có và bất tri, bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái của Ngài cũng có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    493.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của La Hán vẫn có, nhưng bất tri, bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự bất tri của phàm phu vẫn có, nhưng bất tri, bất tri bộc, bất tri phối, bất tri tùy miên, bất tri yểm, bất tri triền, bất tri cái không có với họ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    494.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán mà sự bất tri yểm phải sát sanh, phải trộm cướp, phải vọng ngôn, phải ác khẩu, phải lưỡng thiệt, phải ăn cả xóm, phải ăn cướp một nhà, phải chận đón đường vắng, tìm kiếm vợ của người khác, phải giết dân vườn, phải giết kẻ chợ ư? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    495.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của phàm phu vẫn có và phàm phu bất tri yểm phải sát sanh, phải trộm cướp, phải giết dân phải giết kẻ chợ ư? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có và La Hán mà không nhàm chán phải sát sanh, phải trộm cướp, phải giết dân, phải giết kẻ chợ ư? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    496.

    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có, nhưng La Hán kẻ bị sự không biết nhàm chán mới sát sanh, trộm cắp, giết dân vườn, giết người chợ cũng chẳng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không biết của phàm phu vẫn có, nhưng phàm phu sẽ không biết nhàm chán nên sát sanh, trộm cắp ... giết kẻ người chợ cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    497.

    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không biết trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo không biết điều học, không biết đời vị lai, không biết đời quá khứ, không biết cả đời quá khứ-vị lai, không biết pháp Y tương sinh do trợ nhau mới sanh ra, như thế của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    498.

    • Tự ngôn: Sự không biết Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, không biết điều học, không biết đời vị lai, không biết đời quá khứ, không biết cả đời quá khứ và vị lai, không biết pháp Y tương sinh là do trợ nhau mới có ra, như thế không có với La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dù rằng sự không biết Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, không biết pháp Y tương sinh là pháp do duyên trợ mới có như thế không có với La Hán thời chớ nên nói rằng sự không biết của La Hán vẫn có.

    499.

    • Tự ngôn: Sự không biết của phàm phu vẫn có và không biết Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... không biết pháp Y tương sinh do duyên trợ mới sanh ra, như thế của phàm phu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có và không biết Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... không biết pháp Y tương sinh là do duyên trợ mới có ra, như thế của Ngài cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    500.

    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có, nhưng sự không biết Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... không biết pháp Y tương sinh là do duyên trợ mới có ra, như thế không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không biết của phàm phu vẫn có và không biết Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... không biết pháp Y tương sinh do duyên trợ mới sanh ra, như thế không có với họ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    501.

    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mà La Hán đã tuyệt trừ, nhổ gốc rồi, làm như cây thốt nốt đứt ngọn không sanh đặng nữa, dĩ nhiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu Ái mà La Hán đã tuyệt trừ, nhổ gốc rồi, làm như cây thốt nốt đứt ngọn không sanh đặng nữa, dĩ nhiên sau này không sanh lại nữa thời không nên nói rằng sự không biết của La Hán vẫn có.
    • Tự ngôn: Sân ... Si ... Vô úy mà La Hán đã tuyệt trừ nhổ gốc rễ rồi, làm như cây thốt nốt đứt đọt, dĩ nhiên sau này chẳng còn phát sanh nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Vô úy của La Hán đã tuyệt trừ, nhổ gốc rồi làm như cây thốt nốt đứt ngọn, dĩ nhiên sau này không sanh lên lại nữa, thời không nên nói rằng sự không biết của La Hán vẫn có.

    502.

    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán đạo đã phát sanh rồi ... Giác chi đã phát sanh đã hầu trừ tuyệt Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán đã làm cho Giác chi phát sanh hầu trừ Ái thời không nên nói rằng sự bất tri của La Hán vẫn có.

    503.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán đã làm cho đạo phát sanh ... Giác chi đã phát sanh hầu trừ tuyệt Sân ... trừ tuyệt Vô úy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán đã làm cho Giác chi phát sanh hầu trừ Vô úy thời không nên nói sự bất tri của La Hán vẫn có.

    504.

    • Tự ngôn: Sự bất tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán là bực xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... làm cho rõ pháp đáng rõ rệt rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán là bực xa lìa Ái, Sân, Si ... đã làm cho trong pháp đáng rõ rệt thời không nên nói rằng sự bất tri của La Hán vẫn có.

    505.

    • Tự ngôn: Sự không biết của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Sự không biết của La Hán là bực khôn khéo trong pháp của mình vẫn có. Nhưng sự không biết chẳng có với La Hán người khôn khéo trong pháp khác.
    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán người khôn khéo trong pháp của Ngài vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán bực khôn khéo trong pháp khác có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    506.

    • Tự ngôn: Sự vô tri không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vô tri không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    507.

    • Tự ngôn: La Hán người khôn khéo trong pháp của mình đã trừ tuyệt Ái, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán người lanh lợi trong pháp khác đã trừ tuyệt Ái, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    508.

    • Tự ngôn: La Hán người lanh lợi trong pháp của mình đã trừ tuyệt Sân, trừ tuyệt Si rồi ... trừ tuyệt Vô úy, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán người lanh lợi trong pháp khác đã trừ tuyệt Vô úy, nhưng sự bất tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    509.

    • Tự ngôn: La Hán người lanh lợi trong pháp của mình, đạo đã phát sanh, Giác chi đã phát sanh hầu trừ tuyệt Ái, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp khác, Giác chi đã từng sanh tuyệt trừ Ái, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    510.

    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp của mình làm cho đạo từng sanh ... Giác chi đã phát đặng tuyệt trừ Sân, hầu trừ tuyệt Vô úy, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp khác, Giác chi đã từng phát sanh đặng tuyệt trừ Vô úy, nhưng sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    511.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình thành người xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... đã làm cho rõ pháp đáng rõ, nhưng sự bất tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán người lanh lợi trong pháp khác thành bực xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... đã làm cho pháp đáng rõ rệt đã rõ rệt, và sự vô tri của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    512.

    • Tự ngôn: La Hán người khôn lanh trong pháp khác đã trừ Ái và sự vô tri không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán người lanh thạo trong pháp của mình, đã tuyệt trừ và sự vô tri chẳng có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    513.

    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp khác đã trừ Sân ... trừ tuyệt Vô úy rồi và sự bất tri không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp của mình, đã tuyệt trừ Sân và sự vô tri chẳng có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    514.

    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp khác đã làm đạo sanh ... Giác chi đã phát ... đặng trừ Ái, đạo đã từng ... Giác chi đã từng có đặng trừ tuyệt Vô úy và sự bất tri không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực lanh lợi trong pháp của mình, Giác chi đã sanh đặng tuyệt trừ Vô úy và sự không biết chẳng có đến Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    515.

    • Tự ngôn: La Hán người khôn ngoan trong pháp khác bực xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt và sự vô tri chẳng có đến Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán người lanh lợi trong pháp của mình, thành bực xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... đã làm cho rõ pháp đáng rõ và sự vô tri chẳng có đến Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    516.

    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, ta nói lậu tận dành riêng cho bực đang thấy, đang biết, không nói đến cho người chẳng phải đang thấy đang biết”. Nhưng người đang thấy đang biết thế nào mới có đặng sự lậu tận; người đặng thấy đang biết như vầy: “Cách này là Sắc, cách này là sự sanh của Sắc, cách này là sự diệt của Sắc; cách này Thọ ... cách này Tưởng ... cách này Hành ... cách này Thức. Này chư Phíc-khú, sự thấy, sự biết như thế này đây mới có đặng sự lậu tận như vậy”. Đây thật là bài Kinh vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng sự vô tri của La Hán vẫn có.

    517.

    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai nói sự lậu tận dành riêng cho người đang thấy, đang biết, không nói để cho người chẳng phải đang thấy đang biết; mà đang thấy đang biết như thế nào mới đặng sự lậu tận? Người đang thấy đang biết như vầy: “Đây là khổ, đây là nhân sanh của khổ, đây là pháp diệt khổ, đây là con đường đi đến diệt khổ, như thế vậy mới đặng sự tận lậu; này chư Phíc-khú, sự thấy biết như thế ấy mới đặng lậu tận”. Chính đây là bài Kinh thật vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà như thế cũng không nên nói rằng không biết của La Hán vẫn có.

    518.

    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, người khi nào không biết thấu suốt bằng trí, không chăm chú biết, không mửa ra, không bài trừ cả sự vật, thật là người không đáng sẽ hết khổ. Khi chừng nào mà nên biết tột bằng trông vào hiểu rõ, ói ra sự bài trừ cả sự vật mới thành người kẻ hết khổ”. Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự vô tri của La Hán vẫn có.

    519.

    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Đắc Sơ đạo đồng thời trừ ba pháp đặng tức là Thân kiến, Hoài nghi và Giới cấm thủ mà cũng vẫn còn có mỗi thứ nào Ngài mới xa lìa tất cả tứ thủ và thành bực không thể làm sự trái với sáu cách cơ sở. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng sự vô tri của La Hán vẫn có.

    520.

    • Tự ngôn: Sự vô tri của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, khi nào con mắt thấy pháp mà xa lìa bụi trần phát sanh Thánh Tăng, như vầy trong mỗi một món nào dĩ nhiên sanh ra cả món ấy cố nhiên phải có diệt. Như thế trong khi đó với sự sanh ra của thấy (dassana), Thánh Tăng cũng trừ tam triền như là Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ. Đây là kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu cách đó cũng không nên nói sự vô tri của La Hán vẫn có.

    521.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng sự vô tri của La Hán vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: La Hán có thể không biết tên và thân tộc của tất cả nhân và phụ nữ, cũng không thể biết đường đi trúng trật, cũng có thể không biết tên cỏ cây, cũng có thể không biết tất cả bụi cho đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán có thể không biết tất cả tên và thân tộc của nam nữ, cũng có thể không biết đường trúng trật, cũng có thể không biết tên rừng bụi cỏ cây. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng sự vô tri của La Hán vẫn có.
    • Tự ngôn: Vì La Hán cũng có thể không biết tên và giòng giống của tất cả nam nữ, có thể không biết đường đi trúng trật, có thể không biết rõ tên rừng rú cỏ cây. Như thế thì sự vô tri của La Hán mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán có thể không hiểu Sơ quả, Nhị quả, Tam quả hoặc Tứ quả cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Vô tri ngữ (Aññāṇakathā)

    ---

    HOÀI NGHI NGỮ (KAṄKHĀKATHĀ)

    522.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    523.

    • Tự ngôn: Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của La Hán không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của La Hán không có thời chớ nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    524.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có và Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của họ cũng vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có và Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của Ngài cũng vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    525.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có, nhưng Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của Ngài không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có mà Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của họ vẫn không có chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    526.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Hoài nghi điều học, Hoài nghi đời vị lai, Hoài nghi đời quá khứ, Hoài nghi cả đời vị lai và quá khứ, Hoài nghi pháp Y tương sinh do duyên trợ mới có ra như thế của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    527.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh là do duyên trợ mới có ra như thế của La Hán không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh bởi do duyên trợ mới ra như thế của La Hán không có thời chớ nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    528.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có, Hoài nghi, Hoài nghi Phật bảo, Hoài nghi Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh bởi duyên trợ mới có ra, như thế của họ cũng vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn có và Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh bởi vì pháp phải nhờ duyên trợ mới ra, như thế của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    529.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có, nhưng Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh do duyên trợ mới ra, như thế của Ngài vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có mà Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh do duyên trợ mới có ra, như thế của họ không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    530.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mà La Hán đã trừ tuyệt, nhổ gốc rồi làm như cây thốt nốt đứt đọt dĩ nhiên làm cho sau này không sanh ra được nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ái của La Hán đã đứt tuyệt nhổ gốc rễ rồi, làm như cây thốt nốt đứt ngọn dĩ nhiên không đặng sanh ra sau này nữa thời khỏi cần nói sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    531.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sân ... Si ... Vô úy mà La Hán đã tuyệt trừ, đạo La Hán đã sanh ... Giác chi đã có rồi đặng trừ tuyệt Ái phải chăng? ... Đạo đã từng sanh ... Giác chi đã từng có hầu trừ tuyệt Sân ... đặng trừ tuyệt Vô úy ... La Hán là bực xa lìa Ái, Sân, Si, rồi đã làm cho rõ pháp đáng rõ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán là bực đã xa lìa Ái, Sân, Si ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng làm cho rõ rệt thời không nên nói sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    532.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Sự Hoài nghi của La Hán, bực khôn khéo trong pháp của mình vẫn có, nhưng sự Hoài nghi không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp khác.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán bực khôn khéo trong pháp khác vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    533.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    534.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, diệt trừ Ái nhưng sự Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực không khéo trong pháp khác đã tuyệt trừ Ái nhưng sự Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    535.

    Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình đã tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Si rồi ... tuyệt trừ Vô úy ... Đạo đã sanh ... Giác chi đã từng có ra đặng tuyệt trừ Ái ... Đạo đặng sanh ... Giác chi đã từng sanh đặng tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Vô úy phải chăng?...

    536.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình người đã xa lìa Ái, Sân, Si, làm cho rõ rệt pháp đáng làm rõ rệt, nhưng sự Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác thành người xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... đã làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ, nhưng Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    537.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác đã trừ Ái và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình đã tuyệt trừ và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    538.

    Tự ngôn: La Hán khôn khéo trong pháp khác đã tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Si rồi ... đã tuyệt trừ Vô úy ... Đạo đã sanh ... Giác chi đã từng có ra hầu tuyệt trừ Sân ... trừ tuyệt đặng Vô úy phải chăng?

    539.

    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác thành người đã xa lìa Ái, Sân, Si, từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, thành người đã xa lìa Ái, Sân, Si ... từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    540.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng này chư Phíc-khú, Như Lai nói lậu tận dành riêng cho người đang thấy, đang rõ, chớ không nói để cho người chẳng phải đang thấy đang rõ; mà người đang thấy bằng cách nào mới đặng sự lậu tận? người đang thấy đang rõ như vầy: “Đây là Sắc ... Đây là cách diệt của Thức. Này chư Phíc-khú, người đang thấy đang tỏ ngộ như thế mới đặng sự lậu tận. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    541.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai thuyết sự lậu tận dành riêng cho người đang thấy đang rõ, chớ không thuyết cho người chẳng phải đang thấy đang rõ. Mà người đang thấy đang rõ như thế nào mới đặng sự tận lậu? Người đang thấy đang rõ như vầy: “Đây là khổ ... đây là con đường đi đến diệt khổ, như thế mới đặng sự tận lậu. Này chư Phíc-khú, người đang thấy đang rõ như thế này mới đặng có sự tận lậu”. Đây là bài Kinh vẫn chắc có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    542.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, người không hiểu bằng tuệ cao siêu, không chăm chú rõ, chẳng không bài trừ cả sự vật, vẫn là người không đáng để đặng khổ, khi nào rõ bằng tuệ cao siêu, chăm chú hiểu rõ, ói mửa tất cả sự vật mới thành người đáng làm cho hết khổ”. Đây là bài Kinh vẫn có chắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    543.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Sơ đạo đồng thời khi ứng của Ngài ... thành người không thể sẽ làm sai cơ sở cách nặng”. Đây là bài Kinh thật vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng: “Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có”.

    544.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, khi nào con mắt thấy pháp mà xa lìa bụi trần phát sanh Thánh Tăng như vầy mỗi một sự nào sanh ra thì những sự vật tự nhiên sẽ diệt theo lẽ thường. Như thế trong khi đó đồng sanh ra nơi thấy, thời Thánh Tăng cũng bài trừ đặng ba cách như là Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ”. Bài Kinh thế này thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    545.

    • Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Chính khi nào tất cả pháp hiện bày cho phạm chí người đang có sự tinh tấn, tất cả Hoài nghi của phạm chí ấy vẫn thoạt mất, bởi do biết pháp luôn cả nhân. Chính khi nào tất cả pháp hiện bày cho phạm chí bực đặng tinh tấn, khi đó tất cả sự Hoài nghi của phạm chí ấy vẫn tiêu diệt do đặng biết đến sự mất của tất cả duyên. Mà khi nào tất cả pháp hiện bày cho phạm chí bực đang tinh tấn, khi ấy phạm chí đó vẫn hạn chế ma và tọa cụ ma (Māra) đặng như mặt trời mọc hạn chế tối, còn làm cho hư không sáng rỡ thế đó. Sự Hoài nghi trong đời này hoặc đời khác, lịch sử ta hoặc lịch sử người khác, chẳng hạn cách nào người có sự tinh tấn phẩm hạnh tốt đẹp, vẫn bài trừ những sự Hoài nghi đó đều đặng hết. Những người nào lướt đặng tất cả sự Hoài nghi, trong khi những người đang có sự Hoài nghi thành bực không có sự Hoài nghi không trở ngại bố thí thì chỗ cho của người ấy có quả phúc rất nhiều. Cách thuyết pháp trong Tôn giáo này dĩ nhiên như thế, chư Thinh Văn đó vị nào hoặc sẽ còn Hoài nghi chúng tôi xin làm lễ Đức Phật bực cao tột, Ngài vượt khỏi dòng luân hồi và Ngài đoạn đứt sự Hoài nghi đặng”. Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

    546.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: La Hán có thể Hoài nghi trong tên và họ của nhiều người nam nữ, có thể Hoài nghi đường đi trúng trật, có thể Hoài nghi tên của rừng bụi cỏ cây cũng đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà La Hán có thể Hoài nghi trong tên và họ của nhiều người nam nữ, có thể Hoài nghi đường đi trúng trật, có thể Hoài nghi tên của rừng núi cỏ cây cũng đặng. Chính do nhân đó, Ngài phải nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.
    • Tự ngôn: Bởi La Hán có thể Hoài nghi trong tên và họ của nhiều kẻ nam nữ, có thể Hoài nghi đường đi trúng trật, có thể Hoài nghi tên rừng bụi cỏ cây cũng đặng, thế đó thì Sự Hoài nghi của La Hán mới còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán có thể Hoài nghi trong Sơ quả, Nhị quả, Tam quả hoặc trong quả La Hán cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Hoài nghi ngữ

    ---

    THA TIẾP DẪN NGỮ (PARAVITĀRAṆAKATHĀ)

    547.

    • Tự ngôn: Cách tiếp độ của người khác thuộc phần La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán mà người khác phải tiếp dẫn đi đặng, mà người phải dẫn đi đặng nương nhờ người khác, nương đổ kẻ khác, biết không thấy, Si mê không biết mình phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    548.

    • Tự ngôn: La Hán mà người khác không phải dẫn đi đặng người khác không phải dẫn đi đặng, không y chỉ người khác, nương đỡ kẻ khác, biết thấy không si mê vẫn biết mình phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán người khác không phải dẫn đi đặng, người không thể dắt đi đặng, không nương người khác, không dựa người khác, sự biết thấy chẳng mê mờ, vẫn biết mình, thời không phải rằng cách dẫn dắt của người khác dành riêng La Hán vẫn có.

    549.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về phàm phu có và họ có người khác phải dẫn đi đặng, có người khác dắt đi đặng, nương người khác, dựa người khác, không biết, không thấy, còn mê mờ, thiếu lương tri phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách dẫn dắt của người khác thuộc về La Hán vẫn còn, Ngài có người khác phải dắt, có người khác phải dẫn đi, nương người khác, dựa người khác, không biết, không thấy, tối tăm, thiếu lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    550.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành riêng La Hán vẫn còn có, nhưng Ngài mà người khác không phải dắt đi đặng, mà người khác không phải dẫn đi đặng, không nương người khác, không dựa người khác, sự thấy biết chẳng mờ tối, vẫn có lương tri phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc phần phàm phu vẫn có, nhưng họ đối với người khác không phải dẫn đi đặng, đối với người khác không phải dắt đi đặng, không nương người khác, không dựa người khác, sự thấy biết chẳng mờ tối, vẫn lương tri phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    551.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc phần La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, trong điều học, trong đời vị lai, đời quá khứ, hay luôn cả đời quá khứ vị lai cùng trong pháp Y tương sinh nó phải nương trợ mới sanh ra, riêng phần La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    552.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... trong pháp Y tương sinh là pháp do duyên trợ mới có ra (tiếp dẫn như thế) không có với La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo ... trong pháp Y tương sinh là pháp do nhờ nhau mới sanh ra thì không có với La Hán, vậy chớ nói rằng cách tiếp dẫn của người khác thuộc về La Hán vẫn còn có.

    553.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về phàm phu vẫn có và cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo ... trong pháp Y tương sinh là pháp do trợ mới có ra thuộc về phàm phu đó cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách dẫn dắt của người khác thuộc phần La Hán cũng có và cách tiếp dẫn người khác trong Phật bảo, Pháp bảo ... Pháp Y tương sinh là pháp nương nhờ mới sanh ra thuộc về La Hán đó cũng còn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    554.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác về phần La Hán còn có, nhưng cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo ... trong pháp Y tương sinh là pháp nhờ nhau mới có ra không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về phàm phu vẫn có, nhưng cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo ... trong pháp Y tương sinh là pháp nhờ nhau mới có ra thì không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về phàm phu vẫn có, nhưng cách tiếp dẫn của người khác trong Phật bảo, Pháp bảo ... trong pháp Y tương sinh là pháp do trợ mới có ra, không có với người đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    555.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về La Hán còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mà La Hán đã trừ tuyệt, nhổ gốc rễ rồi làm cho cây thốt nốt đứt đọt, dĩ nhiên không còn sanh lại sau này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu Ái mà La Hán đã tuyệt trừ, nhổ gốc rễ rồi, làm cho cây thốt nốt đứt đọt, dĩ nhiên sau này không sanh nữa thời nên nói cách tiếp dẫn của người khác thuộc về La Hán vẫn có ... Sân ... Si ... Vô úy mà La Hán đã tuyệt trừ phải chăng?...

    556.

    • Tự ngôn: La Hán đã từng phát sanh đạo ... Giác chi từng sanh ... hầu trừ tuyệt Ái ... Đạo đã từng sanh ... Giác chi đã từng sanh đặng trừ tuyệt Sân ... đặng trừ tuyệt Vô úy phải chăng?

    557.

    • Tự ngôn: La Hán bực đã xa lìa Ái, Sân, Si rồi ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng rõ rệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán là bực đã xa lìa Ái, Sân, Si ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng làm cho rõ rệt thời không nên nói cách tiếp dẫn của người khác thuộc phần La Hán vẫn còn có.

    558.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc phần La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình vẫn còn có, nhưng cách tiếp dẫn của người khác không có với bực La Hán khôn khéo trong pháp khác.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác thuộc về bực La Hán khôn khéo trong pháp khác vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    559.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác không có với bực La Hán khôn khéo trong pháp khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác không có với bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    560.

    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình đã tuyệt trừ Ái, nhưng cách tiếp dẫn của người khác dành riêng Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp khác đã trừ tuyệt Ái nhưng cách tiếp dẫn của người khác dành riêng Ngài vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    561.

    Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình trừ tuyệt Sân ... trừ tuyệt Si rồi ... trừ tuyệt Vô úy rồi ...

    562.

    Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình, đạo đã từng sanh ... Giác chi đã từng sanh ... hầu trừ tuyệt Ái, đạo đã từng sanh ... Giác chi đã từng sanh đặng tuyệt trừ Sân ... hầu trừ tuyệt Vô úy ...

    563.

    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình người đã xa lìa Ái, Sân, Si ... từng làm cho rõ pháp đáng cho rõ, nhưng cách tiếp dẫn của người khác dành riêng cho Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp khác thành người đã xa lìa Ái, Sân, Si, từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ nhưng cách tiếp dẫn của người khác dành riêng Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    564.

    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp khác đã trừ Ái và cách tiếp dẫn của người khác cũng không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình đã tuyệt trừ cách tiếp dẫn của người khác không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó..
    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp khác đã tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Si rồi ... tuyệt trừ Vô úy rồi...

    565.

    Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp khác, Đạo từng sanh ... Giác chi đã từng sanh ... đặng tuyệt trừ Ái từng sanh ... Giác chi đã từng sanh ... đặng tuyệt trừ Sân ... đặng tuyệt trừ Vô úy...

    566.

    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp khác thành đã xa lìa Ái, Sân, Si ... từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ cách tiếp dẫn của người khác cũng không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán khôn khéo trong pháp của mình thành người xa lìa Ái, Sân, Si ... từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ và tiếp dẫn của người khác cũng không có với Ngài phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    567.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành riêng La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai nói lậu tận dành riêng cho người đang thấy đang biết, chớ không nói để cho người chẳng phải đang thấy đang biết mà người đang thấy đang biết thế nào mới có đặng lậu tận, bực đang thấy đang biết như vầy cách này là Sắc ... cách này là lối diệt của Thức ... Này chư Phíc-khú, bực đang thấy đang biết như đây mới đặng có sự tận lậu”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành riêng La Hán vẫn còn có.

    568.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành riêng La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai thuyết lậu tận dành riêng cho bực đang rõ, đang thấy, chớ không thuyết cho người chẳng phải đang rõ, chẳng phải đang thấy”. Bực đang rõ, đang thấy thế nào mới có sự lậu tận? Bực đang rõ, đang thấy như vầy: “Đây là khổ ... đây là nhân sanh khổ ... đây là pháp diệt khổ ... đây là con đường diệt khổ ... như thế này mới có sự tận lậu. Này chư Phíc-khú, người đang rõ đang thấy như đây mới có sự tận lậu. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành riêng La Hán vẫn còn có.

    569.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành riêng cho La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, người mà không biết bằng trí cao siêu, không chăm chú hiểu, không ói mửa, không bài trừ tất cả sự vật thời thành người không đáng cho sự dứt khổ, chừng nào biết bằng tuệ cao siêu, chăm chú rõ, ói mửa ra, bài trừ tất cả sự vật thì mới thành người đáng cho sự dứt khổ”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn còn có.

    570.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành riêng cho La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Đồng thời đắc Sơ đạo, bực Nhứt Lai ... thành người sẽ không làm sáu cách sái ý nghĩa rồi”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn có.

    571.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, trông vào con mắt thấy pháp mà xa lìa bụi trần đặng sanh ra với Thánh Tăng cho rằng mỗi sự vật nào lẽ thường phát sanh ra tất cả này dĩ nhiên phải diệt mất; như vậy, trong khi đó đồng thời sanh nơi thấy, thời Thánh Tăng mới bày trừ tam triền như là Tà kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ”. Đây là bài Kinh vẫn thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn còn có.

    572.

    • Tự ngôn: Cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Dhotaka, Như Lai không cần làm cho sẽ cởi mở ai ai chỗ có sự Hoài nghi trong nhưng khi Ngài biết pháp đặc biệt bằng tuệ cao siêu thời khỏi bộc (ogha) này đặng bằng cách thế ấy”. Đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn còn có.

    573.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn còn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người khác phải giới thiệu tên họ của nam nữ, phải chỉ dẫn đường đi trúng trật và những tên rừng bụi cỏ cây cho La Hán phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà người khác phải giới thiệu tên họ của những nam nữ, phải chỉ bảo đường đi trúng trật và những tên rừng bụi cỏ cây cho La Hán. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán vẫn còn có.

    574.

    • Tự ngôn: Do người khác phải giới thiệu tên họ những nam nữ, phải chỉ dẫn đường đi trúng trật và những tên rừng bụi cỏ cây cho La Hán, đó là cách tiếp dẫn của người khác dành cho La Hán mới còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người khác phải tiếp dẫn Sơ quả, Nhị quả, Tam quả hoặc Tứ quả cho La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tha Tiếp Dẫn Ngữ

    NGÔN CHÂN BIẾT NGỮ (VACIBHEDAKATHĀ)

    575.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền trong tất cả cõi vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    576.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền trong tất cả thì giờ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    577.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập tất cả thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    578.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng vẫn có trong tất cả các bực nhập thiền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    579.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách lay động thân của người nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    580.

    • Tự ngôn: Cách lay động không có với người nhập thiền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập thiền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    581.

    • Tự ngôn: Khẩu của người nhập thiền vẫn có, cách nói năng cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân của người nhập thiền vẫn có, cách lay động thân đặng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    582.

    • Tự ngôn: Thân của người nhập thiền vẫn có, nhưng cách lay động bằng thân không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khẩu của người nhập thiền vẫn có, nhưng cách nói năng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    583.

    • Tự ngôn: Khi biết rằng Khổ thời nói là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi biết rằng Tập (Samudaya) thời nói là Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    584.

    • Tự ngôn: Khi biết rằng Khổ thời nói là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi biết rằng Diệt (nirodha) thời nói là Diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    585.

    • Tự ngôn: Khi biết rằng Khổ thời nói là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi biết là Đạo thời nói rằng Đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    586.

    • Tự ngôn: Khi biết rằng Tập cũng không nói rằng Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi biết rằng Khổ cũng không nói rằng Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    587.

    • Tự ngôn: Khi biết rằng Diệt cũng không nói là Diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi biết là khổ cũng không nói rằng khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    588.

    • Tự ngôn: Khi biết là Đạo cũng không nói rằng Đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi biết rằng Khổ cũng không nói là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    589.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí có chi làm cảnh? Phản ngữ: Trí có đế làm cảnh.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức có đế làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    590.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức có chi làm cảnh? Phản ngữ: Nhĩ thức có tiếng làm cảnh.
    • Tự ngôn: Trí có tiếng làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    591.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có, tuệ có đế làm cảnh, Nhĩ thức có thinh làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà tuệ có đế làm cảnh, Nhĩ thức có thinh làm cảnh, không nên nói rằng cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có.

    592.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có, tuệ có đế làm cảnh, Nhĩ thức có thinh làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách tập hợp của nhị xúc, của nhị thọ, của nhị tưởng, nhị tư, của nhị tâm thành đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    593.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền mà có đề mục đất làm cảnh vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    594.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền mà có nước làm cảnh ... lửa làm cảnh ... có gió làm cảnh, có ánh sáng làm cảnh, có màu làm cảnh, có màu đỏ làm cảnh, có màu trắng làm cảnh ... của nhập thiền Không vô biên xứ, nhập thiền Thức vô biên xứ, nhập thiền Vô sở hữu xứ, nhập thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    595.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập thiền đề mục đất phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách nói năng không có với người nhập thiền đề mục đất thời không nên nói rằng cách nói năng của người nhập thiền vẫn có.

    596.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập thiền đề mục nước ... đề mục trắng ... không có với người nhập thiền Không vô biên xứ, nhập thiền Thức vô biên xứ, nhập thiền Vô sở hữu xứ, nhập thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách nói năng không có với người nhập thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì chớ cho rằng cách nói năng của người nhập thiền vẫn có.

    597.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập thiền phàm vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    598.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Sơ thiền bực phàm phu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Nhị thiền ... Tam thiền ... Tứ thiền phàm phu vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    599.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập thiền phàm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách nói năng không có với người nhập thiền phàm, thời chớ gọi rằng cách nói năng của người nhập thiền vẫn có.

    600.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập Sơ thiền phàm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách nói năng không có với người nhập Sơ thiền phàm thời chớ cho rằng cách nói năng của người nhập thiền vẫn có.

    601.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập Nhị thiền ... Tam thiền ... Tứ thiền phàm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cách nói năng không có với bực nhập Tứ thiền phàm thời chớ cho rằng cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có.

    602.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Sơ thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Sơ thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    603.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập Sơ thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Nhị thiền, Tam thiền ... Tứ thiền phàm vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    604.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập Sơ thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập Sơ thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    605.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập Nhị thiền, Tam thiền ... Tứ thiền phàm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với người nhập Sơ thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    606.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Sơ thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của người nhập Nhị thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    607.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập Sơ thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực Tam thiền ... Tứ thiền siêu thế vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    608.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với bực nhập Nhị thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với bực nhập Sơ thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    609.

    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với bực nhập Tam thiền, Tứ thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách nói năng không có với bực nhập Sơ thiền siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    610.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn có phán: Tầm, Tứ là khẩu hành và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cũng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Đức Thế Tôn có phán: Tầm, Tứ là khẩu hành và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cũng vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có.

    611.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn có phán: “Tầm, Tứ là khẩu hành và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền vẫn có nên cách nói năng của bực nhập Sơ thiền mới có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền bằng đề mục đất thời cách nói năng của người ấy mới có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    612.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán: “Tầm, Tứ là khẩu hành và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền vẫn có nên cách nói năng của bực nhập Sơ thiền ấy mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cảnh đề mục nước ... cảnh đề mục lửa ... cảnh đề mục gió, cảnh đề mục màu xanh, cảnh đề mục màu vàng, cảnh đề mục màu đỏ ... cảnh đề mục màu trắng đó cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    613.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng cách nói năng của bực nhập Nhị thiền vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán lời nói là có Tầm làm sở sanh và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cũng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Nói năng là có Tầm làm sở sanh và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cũng vẫn có, chính do nhân đó Ngài mới gọi rằng cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có.

    614.

    • Tự ngôn: Do Đức Thế Tôn Ngài phán: “Cách nói năng là có Tầm làm sở sanh và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cũng vẫn có, bởi thế đó nên cách nói năng của bực nhập Sơ thiền mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Ngôn ngữ là có tưởng làm sở sanh và Tưởng của bực nhập Nhị thiền cũng vẫn có thời Tầm, Tứ bậc nhập Nhị thiền đó cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    615.

    • Tự ngôn: Do Đức Thế Tôn Ngài phán: “Ngôn Ngữ là có Tầm làm sở sanh và Tầm, Tứ của bực nhập Sơ thiền cũng vẫn có, bởi thế cách nói năng của bực nhập Sơ thiền ấy mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Ngôn Ngữ là có tưởng làm sở sanh và Tưởng của bực nhập Tam thiền ... Tứ thiền ... nhập Không vô biên xứ ... nhập Thức vô biên xứ ... nhập Vô sở hữu xứ cũng vẫn có Tầm, Tứ của bực nhập Không vô biên xứ ấy mới vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    616.

    • Tự ngôn: Cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Câu nói: “Ngôn ngữ của người nhập Sơ thiền là pháp thường đã diệt. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng: “Ngôn ngữ của người nhập Sơ thiền là thường đã diệt, đây là bài Kinh vẫn thật có, thời chớ nên cho cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có”.

    617.

    • Tự ngôn: Nói rằng: “Ngôn ngữ của bực nhập Sơ thiền là thường đã diệt mất thế này là bài Kinh vẫn thật có, như vậy cách nói năng của bực ấy cũng vẫn có phải chăng”? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng: “Tầm, Tứ của bực nhập Nhị thiền là pháp thường đã diệt, đây là bài Kinh hẳn thật có như thế đó thì Tầm, Tứ của bực nhập Nhị thiền vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    618.

    • Tự ngôn: Nói rằng: “Ngôn Ngữ của bực nhập Sơ thiền là thường đã diệt mất, đây là bài Kinh hẳn có, nếu như thế đó thì nói năng của bực ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng hỷ của bực nhập Tam thiền là pháp thường đã diệt mất, thở ra thở vô của bực nhập Tứ thiền là pháp thường đã diệt mất, Sắc Tưởng của bực nhập Không vô biên xứ là pháp thường đã diệt mất, Thức vô biên xứ Tưởng của bực Vô sở hữu xứ là pháp thường đã diệt, Vô sở hữu xứ Tưởng của bực nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ là pháp thường đã diệt, Tưởng và Thọ của bực nhập thiền Diệt thọ tưởng là pháp thường đã diệt”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có, nếu như thế đó thời Tưởng và Thọ của bực nhập Thiền Diệt (nirodha) ấy cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    619.

    • Phản ngữ: Chớ cho rằng cách nói năng của bực nhập Sơ thiền vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Thinh là đối lập của Sơ thiền” phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Đức Thế Tôn có phán: “Thinh là thành đối lập của Sơ thiền, chính do nhân đó Ngài mới cho rằng cách nói năng vẫn có đối với bực nhập thiền.

    620.

    • Tự ngôn: Do Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Thinh là thành đối lập của Sơ thiền, bởi thế cách nói năng của bực nhập Sơ thiền mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Tầm, Tứ là cừu địch của Nhị thiền ... phán rằng Hỷ là cừu địch của Tam thiền, phán rằng hơi thở ra vô là cừu địch của Tứ thiền, phán rằng sắc tưởng là cừu địch của bực nhập Không vô biên xứ, phán rằng Không vô biên xứ Tưởng là cừu địch của bực nhập Vô sở hữu xứ, phán rằng Vô sở hữu xứ Tưởng là cừu địch của bực nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ ... phán rằng Tưởng và Thọ là cừu địch của bực nhập thiền Diệt, Tưởng và Thọ của bực nhập thiền Diệt ấy mới vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    621.

    • Phản ngữ: Chớ cho rằng cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Ānanda, Abhibhū của Đức Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Biến Tri hiệu là Sikhī, vị tại cõi Phạm Thiên, bố cáo luôn vũ trụ bằng lời như vầy phải nên mở đầu, nên tiến hóa, nên hiệp với sự tinh tấn trong áo, nên hạn chế tọa cụ của vua Diêm Vương như là nhà lợp tranh, thế đó mới là bực không dễ duôi trong pháp luật này, sanh tử luân hồi, mới làm cho tột hết khổ”. Đây là bài Kinh thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thời cách nói năng của bực nhập thiền vẫn có.

    Dứt Ngôn phân biệt ngữ

    ---

    KHỔ THỰC NGỮ (DUKKHĀHĀRAKATHĀ)

    622.

    • Tự ngôn: Cách nói rằng khổ là chi của đạo, liên quan đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi người mà trình bày lời khổ kêu cho đặng đạo phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    623.

    • Tự ngôn: Mỗi người mà trình bày lời khổ gọi là cho đạo phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tiểu nhân mà trình bày lời khổ cũng gọi là cho đạo phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người giết mẹ ... Người giết cha, người giết La Hán, người trích máu thân Phật, người phá hòa hợp Tăng, trình bày lời nói năng gọi là cho đạo phát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Khổ thực ngữ

    ---

    TÂM TRỤ NGỮ (CITTAṬṬHITIKATHĀ)

    624.

    • Tự ngôn: Mỗi tâm trụ luôn cả ngày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nửa ngày thành sát-na sanh, nửa ngày thành sát-na trụ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    625.

    • Tự ngôn: Mỗi tâm trụ đặng luôn 2 ngày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Một ngày thành sát-na sanh; một ngày nữa thành sát-na trụ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    626.

    • Tự ngôn: Mỗi tâm trụ luôn 4 ngày phải chăng? ... Trụ luôn 8 ngày phải chăng? Trụ luôn 10 ngày phải chăng? Trụ luôn 20 ngày phải chăng? Trụ cả tháng phải chăng? Trụ luôn 2 tháng phải chăng? Trụ luôn 4 tháng phải chăng? Trụ luôn 8 tháng phải chăng? Trụ luôn 10 tháng phải chăng? Trụ luôn 1 năm phải chăng? Trụ luôn 2 năm phải chăng? Trụ luôn 4 năm phải chăng? Trụ luôn 8 năm phải chăng? Trụ luôn 10 năm phải chăng? Trụ luôn 20 năm phải chăng? Trụ luôn 30 năm phải chăng? Trụ luôn 40 năm phải chăng? Trụ luôn 50 năm phải chăng? Trụ luôn 100 năm phải chăng? Trụ luôn 200 năm phải chăng? trụ luôn 400 năm phải chăng? trụ luôn 500 năm phải chăng? Trụ luôn 1000 năm phải chăng? Trụ luôn 2000 năm phải chăng? Trụ luôn 4000 năm phải chăng? trụ luôn 8000 năm phải chăng? Trụ luôn 10000 năm phải chăng? Trụ luôn đại kiếp phải chăng? trụ luôn 2 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 4 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 8 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 16 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 32 đại kiếp phải chăng? trụ luôn 64 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 500 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 1000 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 2000 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 4000 đại kiếp phải chăng? trụ luôn 8000 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 16.000 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 20.000 đại kiếp phải chăng? Trụ luôn 60.000 đại kiếp phải chăng? ... Trụ luôn 84.000 đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: 2000 đại kiếp là sát-na sanh và nửa 84.000 đại kiếp là sát-na hoại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    627.

    • Tự ngôn: Mỗi tâm trụ luôn mỗi ngày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Những pháp khác mà sanh ra rồi diệt mất tuy nhiên nhiều trong 1 ngày vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Những pháp có thay đổi đi mau hơn tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    628.

    • Tự ngôn: Những pháp đó biến đổi đi mau hơn tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai quan sát không thấy pháp khác dù một chút nào mà biến chuyển đi bằng tâm đâu, dù cách so sánh tâm đặng biến đổi đi mau phần nào không dễ làm cho biết”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói những pháp ấy biến đổi đi mau hơn tâm.

    629.

    • Tự ngôn: Những pháp đó biến đổi đi mau hơn tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, khỉ trong rừng rậm chụp nhánh cây này rồi buông ra chụp nhánh cây kia, chụp nhánh cây kia rồi buông chụp nhánh cây nọ, như thế thời pháp gọi tâm hoặc gọi ý, hoặc gọi ý thức cũng như thế này, cái khác sanh lên liền diệt mất đi luôn cả đêm ngày”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng những pháp đó biến đi mau hơn tâm.

    630.

    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm trụ đặng luôn một ngày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn thức trụ đặng luôn một ngày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhĩ thức ... Tỷ thức, Thiệt thức, tâm bất thiện, tâm đồng sanh với Ái, tâm đồng sanh với Sân, tâm đồng sanh với Si, tâm đồng sanh với Ngã mạn, tâm đồng sanh với Tà kiến, tâm đồng sanh với Hoài nghi, tâm đồng sanh với Thụy miên, tâm đồng sanh với Phóng dật, tâm đồng sanh với Vô tàm, tâm đồng sanh với Vô úy trụ đặng luôn 1 ngày phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    631.

    • Tự ngôn: Mỗi tâm trụ đặng luôn 1 ngày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thấy sắc bằng con mắt với tâm nào thời nghe tiếng bằng (lỗ) tai cùng 1 cái tâm đó vậy ... ngửi hơi bằng lỗ mũi, nếm vị bằng lưỡi, đụng cảnh xúc bằng thân ... biết cảnh pháp bằng tâm cùng 1 cái tâm đó phải chăng? ... Người biết cảnh pháp bằng tâm với tâm nào thời thấy sắc bằng nhãn cùng 1 cái tâm đó phải chăng? ... Nghe tiếng bằng tai, hửi hơi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, đụng chạm cảnh xúc bằng thân cùng 1 cái tâm đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    632.

    • Tự ngôn: Mỗi cái tâm trụ đặng luôn 1 ngày phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người bước đi bằng tâm nào thời thối lui cùng 1 cái tâm ấy, thối lui bằng tâm nào thời bước tới cùng 1 cái tâm ấy, ngó coi bằng tâm nào thời xoay mặt hay xoay trái cùng 1 cái tâm ấy, xoay mặt xoay trái bằng tâm nào thời dòm ngó cùng 1 cái tâm ấy, co vô bằng tâm nào thời bước ra cùng 1 cái tâm ấy, bước ra với tâm nào thời co vô cùng 1 cái tâm ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    633.

    • Tự ngôn: Chư thiên sanh lên trong cõi Không vô biên xứ có 1 cái tâm trụ luôn kiếp sống phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả nhơn loại cũng có 1 cái tâm trụ luôn cả kiếp sống phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    634.

    • Tự ngôn: Chư thiên bực sanh lên cõi Không vô biên xứ có 1 cái tâm trụ luôn kiếp sống phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chư thiên bực Tứ đại thiên vương ... Chư thiên cõi Đạo lợi ... Chư thiên cõi Dạ ma ... Chư thiên cõi Đẩu xuất .. Chư thiên cõi Hóa lạc ... Chư thiên cõi Tha hóa tự tại ... Chư thiên cõi Phạm chúng ... Chư thiên cõi Phạm phụ ... Chư thiên cõi Đại phạm ... Chư thiên cõi Thiểu quang ... Chư thiên cõi Vô lượng quang ... Chư thiên cõi Biến quang ... Chư thiên cõi Thiểu tịnh ... Chư thiên cõi Vô lượng tịnh ... Chư thiên cõi Quảng quả ... Chư thiên cõi Vô phiền ... Chư thiên cõi Vô nhiệt ... Chư thiên cõi Thiện kiến ... Chư thiên cõi Thiện hiện ... Chư thiên cõi Sắc cứu cánh có 1 cái tâm trụ luôn kiếp sống phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    635.

    • Tự ngôn: Chư thiên bực sanh lên cõi Không vô biên xứ số thọ chừng 20.000 đại kiếp mà những Chư thiên đó chỉ có 1 cái tâm trụ luôn 20.000 đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả nhân loại tuổi chừng 100 (năm) mà những nhơn loại đó cũng chỉ có 1 cái tâm trụ luôn 100 năm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    636.

    • Tự ngôn: Chư thiên bực sanh lên cõi Không vô biên xứ sống chừng 20.000 đại kiếp mà những Chư thiên ấy chỉ có 1 cái tâm trụ luôn 20.000 đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chư thiên cõi Tứ thiên vương sống chừng 500 năm, mà những Chư thiên ấy cũng chỉ có 1 cái tâm trụ luôn 500 năm ... (cõi Đẩu xuất) trụ luôn 1.000 năm ... trụ luôn 2.000 năm ... trụ luôn 4.000 năm ... trụ luôn 8.000 năm ... trụ luôn 16.000 năm ... (Phạm chúng) trụ luôn 1/3 đại kiếp ... (Phạm phụ) trụ luôn 1/2 đại kiếp ... (Đại phạm) trụ luôn 1 đại kiếp ... (Thiểu quang thiên) trụ luôn 2 đại kiếp ... (Vô lượng quang thiên) trụ luôn 4 đại kiếp ... (Biến quang thiên hay Quang Âm thiên) trụ luôn 8 đại kiếp ... (Thiểu Thịnh thiên) trụ luôn 16 đại kiếp ... (Vô lượng tịnh thiên) trụ luôn 32 đại kiếp ... (Biến Tịnh thiên) trụ luôn 64 đại kiếp ... (Quảng quả thiên) trụ luôn 500 đại kiếp ... (Vô phiền thiên) trụ luôn 1.000 đại kiếp ... (Vô nhiệt thiên) trụ luôn 2.000 đại kiếp ... (Thiện hiện thiên) trụ luôn 4.000 đại kiếp ... (Thiện kiến thiên) trụ luôn 8.000 đại kiếp ... (Sắc cứu cánh thiên) trụ luôn 16.000 đại kiếp. Tâm của Chư thiên ấy trụ luôn 16.000 đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    637.

    • Phản ngữ: Tâm của Chư thiên bực sanh trong cõi Không vô biên xứ sanh lên chút xíu chút xíu, diệt mất chút xíu chút xíu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Chư thiên bực sanh trong cõi Không vô biên xứ sanh lên một chút một chút, diệt cũng một chút một chút phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    638.

    • Tự ngôn: Chư thiên sanh trong cõi Không vô biên xứ có 1 cái tâm trụ luôn kiếp sống phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chư thiên sanh trong cõi Không vô biên xứ tái tục bằng cái tâm nào thời tử bằng cái tâm ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tâm trụ ngữ

    ---

    NHIỆT THẤU NGỮ (KUKKUḶAKATHĀ)

    639.

    • Tự ngôn: Chư hành như nhiệt thấu không có chặng hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lạc thọ sướng thân vui tâm, lạc thành tiên, lạc của nhơn loại, lạc trong lợi lộc, lạc trong cúng dường, lạc trong cách đi, lạc trong cách nằm, lạc trong sự thành đại, lạc trong sự thành trưởng, lạc của cư sĩ, lạc của Sa Môn, lạc của hữu lậu, lạc vô lậu, lạc hữu thủ, lạc vô thủ, lạc hữu vật, lạc vô vật, lạc hữu hỷ, lạc vô hỷ, lạc trong thiền, lạc giải thoát, lạc trong dục, lạc trong cách xuất gia, lạc sanh từ nơi sự thức tỉnh (Viveka), lạc vắng lặng, lạc đắc chứng đều vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà lạc thọ ... Lạc sanh từ nơi sự đắc chứng vẫn có thời không cần nói rằng chư hành như nhiệt thấu không có chặng hở.

    640.

    • Tự ngôn: Chư hành như nhiệt thấu không có chặng hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chư hành là khổ thọ thành khổ thân khổ tâm, thành sự sầu, sự khóc, khổ, ưu, ai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    641.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng chư hành như nhiệt thấu không chặng xen hở phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, tất cả sự vật là đồ nóng, cái chi gọi rằng tất cả sự vật là đồ nóng? Này chư Phíc-khú, con mắt là đồ nóng, các sắc là đồ nóng, Nhãn thức là đồ nóng, Nhãn xúc là đồ nóng, dù cho sự biết hưởng cảnh thế nào dù thành lạc, dù thành khổ, dù phi lạc phi khổ phát sanh do Nhãn xúc duyên cho đến cái đó cũng thành đồ nóng; nóng bằng cách nào? nóng với lửa ái, nóng với lửa sân, nóng với lửa si, nóng với lửa độc, nóng với sanh, với lão tử, với sầu, với khóc, với khổ, với ưu, với ai. Như Lai trình bày như vầy tất cả sự vật là của như thế này nhĩ là đồ nóng, tất cả thinh là đồ nóng ... Tỷ là đồ nóng, tất cả hơi là đồ nóng ... Lưỡi là đồ nóng, tất cả vị là đồ nóng ... Thân là đồ nóng, tất cả cảnh xúc là đồ nóng ... Ý là đồ nóng ... Cảnh pháp là đồ nóng ... Ý thức là đồ nóng, Ý xúc là đồ nóng, hết hưởng cảnh thế nào dù thành lạc, dù thành khổ, hoặc phi lạc phi khổ phát sanh do Ý xúc làm duyên; tuy nhiên cái đó cũng là đồ nóng với chi? Nóng với lửa ái, nóng với lửa sân, nóng với lửa si, nóng với sanh, với lão tử, với sầu, với khóc, với khổ, với ưu, với ai. Như Lai thuyết rằng tất cả sự vật là đồ nóng thế vậy. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó chư hành cũng là như nhiệt thấu không có chặng hở chớ gì?

    642.

    • Tự ngôn: Chư hành như nhiệt thấu không có chặng hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, ngũ dục, cách này là chi? Là tất cả sắc nó thành cảnh của Nhãn thức đáng mong mỏi, đáng ưa mến, có trạng thái đáng thương, xúc động, thành chỗ đình trụ sự tình dục. Tất cả thứ tiếng mà thành cảnh của Nhĩ thức ... Tất cả thứ hơi mà thành cảnh của Tỷ thức ... Tất cả mà thành cảnh của Thiệt thức ... Tất cả thứ xúc chạm mà thành của Thân thức chỗ đáng mong mỏi, đáng ưa, đáng mến, có trạng thái đáng thương xúc động dục thành chỗ đình trụ sự tình dục. Này chư Phíc-khú, ngũ dục lạc những năm cách như thế”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở.

    643.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, thành lợi lộc của các ngươi, các người đặng tốt rồi, sát-na đặng cách phẩm hạnh tốt các ngươi thấu đáo rồi. Này Chư Phíc-khú, Như Lai đặng thấy Địa ngục tên là Lục xúc nhập (Chaphassāyatanikā), trong Địa ngục Lục xúc nhập đó, người thấy sắc một cách nào bằng nhãn vẫn thấy chỉ là sắc mà có trạng thái không đáng mong mỏi, chẳng đặng thấy sắc mà có trạng thái đáng mong mỏi, vẫn thấy chỉ là sắc mà có trạng thái không đáng mến. Không đặng thấy sắc mà có trạng thái đáng mến, vẫn thấy chỉ là sắc mà có trạng thái không đáng ưa, không đặng thấy sắc mà có trạng thái đáng ưa. Nghe mỗi thứ tiếng nào bằng nhĩ ... Ngửi hơi mỗi thứ nào bằng tỷ ... Nếm vị mỗi thứ nào bằng thiệt ... Đụng chạm xúc mỗi một thứ nào bằng thân ... Hiểu biết cảnh pháp của mỗi một thứ nào bằng tâm ... Vẫn hiểu biết chỉ là cảnh pháp mà có trạng thái không đáng mong mỏi. Không đặng hiểu biết cảnh pháp mà có trạng thái đáng mong mỏi, vẫn hiểu biết chỉ là cảnh pháp mà có trạng thái không đáng mến, không đặng hiểu biết cảnh pháp mà có trạng thái đáng mến, vẫn hiểu biết chỉ là cảnh pháp mà có trạng thái không đáng vừa lòng. Không đặng hiểu biết cảnh pháp mà có trạng thái đáng vừa lòng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì chư hành như nhiệt thấu không có chặng hở chớ gì!

    644.

    • Tự ngôn: Chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, thành lợi lộc của các ngươi, các ngươi đặng tốt rồi đang lúc thật hành phạm hạnh các ngươi đã thấu suốt. Này chư Phíc-khú, Như Lai đặng thấy Thiên đường tên là Lục xúc nhập (Chaphassāyatanikā), trong thiên đường gọi là Lục xúc nhập đó như là người thấy sắc mỗi một thứ nào bằng con mắt vẫn thấy chỉ là sắc mà có trạng thái đáng mong mỏi không đặng thấy sắc mà có trạng thái không đáng mong mỏi, vẫn chỉ là sắc mà có trạng thái đáng ưa mến, không đặng thấy sắc mà có trạng thái không đáng ưa thích, vẫn thấy chỉ là sắc mà có trạng thái đáng vừa lòng, không đặng thấy sắc mà có trạng thái đáng vừa lòng. Nghe mỗi một thứ tiếng nào bằng nhĩ ... ngửi hơi nào bằng mũi ... nếm mỗi một thứ vị nào bằng lưỡi ... Chạm xúc mỗi một thứ nào bằng thân ... hiểu biết pháp mỗi một thứ nào bằng tâm, vẫn hiểu biết chỉ là cảnh pháp mà có trạng thái mong mỏi, không đặng hiểu biết cảnh pháp mà có trạng thái đáng mong mỏi, vẫn hiểu biết chỉ cảnh pháp mà đáng ưa thích, đặng hiểu biết cảnh pháp mà có trạng thái không đáng ưa thích, vẫn hiểu biết chỉ là cảnh pháp mà có trạng thái đáng vừa, không đặng hiểu biết cảnh pháp mà có trạng thái không đáng vừa lòng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói chư hành như nhiệt thấu có chặng xen hở.

    645.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở ư? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Sự vật nào không bền, sự vật đó Đức Thế Tôn Ngài phán là chư hành vô thường phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu nói sự vật nào không bền thì sự vật đó Đức Thế Tôn phán là khổ, chư hành vô thường. Chính do nhân đó, Ngài mới phán rằng chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở.

    646.

    • Tự ngôn: Chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bố thí có quả phúc không đáng mong mỏi, có quả phúc không ưa mến, có quả phúc không thành chỗ vừa lòng, có quả phúc hữu hại, có khổ thành lời, có khổ thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: (Ngũ) Giới ... thanh tịnh giới (bát quan trai) ... tu tiến ... phạm hạnh có quả không đáng mong mỏi, có quả không đáng ưa thích, có quả không thành chỗ vừa lòng, có quả hữu hại, có khổ thành lời, có khổ thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bố thí có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả thành chỗ vừa lòng, có quả không hữu hại, có lạc thành lời, có lạc thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói rằng bố thí có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả thành chỗ vừa lòng, có quả không hữu hại, có vui làm lời, có vui thành dị thục quả thời không nên nói rằng chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở.
    • Tự ngôn: (Ngũ) Giới ... thanh tịnh giới ... tu tiến ... phạm hạnh có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả thành chỗ vừa lòng, có quả không hữu hại, có vui làm lời, có vui thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói tịnh hạnh có quả đáng mong mỏi, có quả đáng ưa thích, có quả thành chỗ vừa lòng, có quả không hữu hại, có vui làm lời, có vui thành dị thục quả thời không nên nói chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở.

    647.

    • Tự ngôn: Chư hành như nhiệt thấu không có chặng xen hở phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Sự vắng lặng của người đã ưa thích rồi, bực có pháp mà đã đặng nghe thấy thành lạc, sự không ép uổng tức là sự thu thúc trong tất cả chúng sanh thành vui trong lời, sự phai tình dục tức là sự lướt bỏ tất cả dục đặng thành vui trong đời, sự mà vẫn cống cao ngã mạn ra khỏi đặng. Chính đây là cái vui cao thượng, sự vui vô thượng đó ta đã đặng đến, đó là chỗ vui đầy đủ. Tam minh ta đã đặng chứng theo thứ lớp, chính điều này là vui cao thượng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời cũng không nên nói chư hành là nhiệt thấu không có chặng xen hở.

    Dứt Nhiệt thấu ngữ

    ---

    TÙNG TIỀN THỨ ĐỆ NGỮ (ANUPUBBĀBHISAMAYAKATHĀ)

    648.

    • Tự ngôn: Cách chứng pháp là cách chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo Thất Lai sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo Thất Lai sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người làm cho tỏ nơi quả đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    649.

    • Tự ngôn: Cách chứng pháp là cách chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo Nhứt Lai sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo Nhứt Lai sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ nơi quả Nhứt Lai đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    650.

    • Tự ngôn: Cách chứng pháp là cách chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo Bất Lai sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo Bất Lai sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ đặng quả Bất Lai theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    651.

    • Tự ngôn: Cách chứng pháp là cách chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo La Hán sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người có thể cho đạo La Hán sanh đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ quả La Hán đặng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    652.

    • Tự ngôn: Người thật hành để đặng làm cho rõ rệt quả Thất Lai, tuyệt trừ chi đặng với cách thấy khổ. Phản ngữ: Trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ và những phiền não đồng bọn đặng 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành bực Thất Lai; còn 3/4 nữa không thành tựu Thất Lai. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến đang đụng chạm với danh thân cùng quả Thất Lai; trong 3/4 nữa không đụng chạm với danh thân cùng quả Thất Lai. Trong 1/4 thành tựu Thất Sanh bực Thất Lai, bực Lục Lai, bực Nhứt Lai hiệp với đức tin, bất động trong Phật bảo ... trong Pháp bảo ... trong Tăng bảo hiệp cùng với Thánh giới chắc; còn trong 3/4 nữa không hiệp với Thánh giới chắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người bực thật hành hầu làm cho rõ quả Thất Lai tuyệt trừ chi đặng bằng cách thấy Tập ... bằng cách thấy Diệt ... bằng cách thấy Đạo. Phản ngữ: Tuyệt trừ Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ và những phiền não đồng bọn nhau đặng 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành tựu Thất Lai; còn 3/4 nữa không thành tựu bực Thất Lai. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ rệt, vẫn vào đến, đụng chạm với danh thân cùng quả Thất Lai; Trong 3/4 nữa vẫn không đụng chạm với danh thân cùng quả Thất Lai. Trong 1/4 thành tựu bực Thất Sanh Thất Lai (Sattakhattuparama), bực Lục Sanh Thất Lai (Kolaṅkola), bực Nhứt Sanh Thất Lai (Ekabījī) hợp với sự đức tin không biến chuyển thay đổi trong Phật bảo ... trong Pháp bảo ... trong Tăng bảo ... hiệp với Thánh giới; còn 3/4 nữa không hiệp với Thánh giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    653.

    • Tự ngôn: Bực thật hành hầu làm cho tỏ quả Nhứt Lai trừ tuyệt chi đặng bằng cách thấy khổ? Phản ngữ: Tuyệt trừ Ái dục thứ thô và bao nhiêu phiền não đồng bọn đặng trong 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành Thất Lai; còn trong 3/4 nữa không thành bực Nhứt Lai. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến, đang đụng chạm với danh thân cùng quả Nhứt Lai; còn trong 1/4 nữa vẫn không đụng chạm đến danh thân thành quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thật hành hầu làm cho tỏ từng quả Nhứt Lai tuyệt trừ chi bằng cách thấy Tập ... bằng cách thấy Diệt ... bằng cách thấy Đạo.
    • Phản ngữ: Tuyệt trừ Ái dục thứ thô, Sân độc thứ thô và những phiền não đồng bọn đặng 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành Nhứt Lai, còn 3/4 nữa không thành Nhứt Lai trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến đụng chạm với danh thân cùng quả Nhứt Lai; còn 3/4 nữa vẫn không đụng chạm với danh thân cùng quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    654.

    • Tự ngôn: Bực thật hành hầu làm cho rõ cùng quả Bất Lai tuyệt trừ chi đặng với cách thấy khổ? Phản ngữ: Tuyệt trừ Ái dục thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế và những phiền não đồng bọn đặng 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành bực Bất Lai, còn trong 3/4 nữa không thành bực Bất Lai. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với danh thân cùng quả Bất Lai; Trong 3/4 vẫn không đụng chạm với danh thân cùng quả Bất Lai. Trong thành bực Trung bang bất hườn (Antarāparinibbāyī) ... Bực Sanh bang bất hườn (Upahaccaparinibbāyī) ... Bực Vô hành bang bất hườn, bực Hữu hành bang bất hườn ... Bực Thượng lưu bang bất hườn ... Trong 3/4 không thành bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai tuyệt trừ chi bằng cách thấy Tập (Samudaya) ... bằng cách thấy Diệt (nirodha) ... bằng cách thấy Đạo? Phản ngữ: Tuyệt trừ Ái dục thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế và những phiền não đồng bọn đặng 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành Bất Lai; còn trong 3/4 nữa không thành bực Bất Lai. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến, đụng chạm đến danh thân cùng quả Bất Lai. Trong 3/4 nữa không đụng chạm đến danh thân cùng quả Bất Lai. Trong 1/4 Bực Trung bang bất hườn (Antarāparinibbāyī) ... Bực Sanh bang bất hườn (Upahaccaparinibbāyī) ... Bực Vô hành bang bất hườn (Asaṅkhāraparinibbāyī) ... Bực Hữu hành bang bất hườn (Sasaṅkhānibbāyī) ... bực Thượng lưu bang bất hườn (Uddhaṅsotoakaniṭṭhagāmī). Còn 3/4 nữa không thành Bực Bất Lai Thượng lưu bang bất hườn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    655.

    • Tự ngôn: Bực thật hành đặng làm cho rõ La Hán quả tuyệt trừ chi đặng bằng cách thấy khổ. Phản ngữ: Tuyệt trừ Sắc ái, Vô sắc ái, Ngã mạn, Phóng dật, Vô minh và những phiền não đồng bọn đặng trong 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành La Hán, trong 3/4 mà không thành La Hán. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với danh thân cùng quả La Hán. Trong 3/4 nữa vẫn không đụng chạm với danh thân cùng quả La Hán. Trong 1/4 thành bực đã xa lìa Ái, Sân, Si, việc đáng làm đã xong, bỏ gánh nặng rồi, đã chứng tự lợi, đã trọn tuyệt máy móc ràng buộc trong đời, đã giải thoát đặc biệt do hiểu chân chánh, cột trụ nhổ chốt lên rồi, đã lấp mương rãnh, đã nhổ cột hàng rào thành người không có then chốt, thành Thánh đã xuống cờ (ngã mạn), để gánh nặng xuống rồi, đã đứt cơ quan ràng buộc, thắng cách quý đẹp rồi, Ngài đã chăm chú rõ Khổ, đã trừ Tập, đã làm cho rõ Diệt, cho đặng Đạo phát sanh, đã hiểu thấu với pháp đáng thấu hiểu, chăm chú biết pháp đáng chăm chú biết, đã trừ những pháp đáng trừ, trau dồi những pháp đáng trau dồi ... đã làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ; còn trong 3/4 nữa chưa phải làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực thật hành đã làm cho rõ quả La Hán tuyệt trừ chi đặng bằng cách thấy Tập ... bằng cách thấy Diệt ... bằng cách thấy Đạo? Phản ngữ: Tuyệt trừ Sắc ái, Vô sắc ái, Ngã mạn, Phóng dật, Vô minh và những phiền não đồng bọn đặng 1/4.
    • Tự ngôn: Trong 1/4 thành La Hán; còn trong 3/4 nữa không thành La Hán. Trong 1/4 đến, đặng, chứng, làm cho rõ, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với danh thân cùng quả La Hán. Trong 3/4 nữa vẫn không đụng chạm với danh thân cùng quả La Hán. Trong 1/4 thành bực đã xa lìa Ái, Sân, Si, việc đáng làm đã làm xong, buông gánh nặng xuống rồi, đã chứng tự lợi, đã hoàn dứt cơ quan buộc ràng trong hữu (bhāva), đã giải thoát đặc biệt do hiểu đúng, đã rút chốt then, đã lấp bít rạch mương, nhổ trụ rào rồi, thành bực không có chốt then và Thánh xuống cờ (ngã mạn), đã hết cơ quan ràng buộc, thấy cách rất quý tốt rồi, Ngài đã chăm chú rõ Khổ, trừ tuyệt Tập rồi, đã làm rõ rệt, Đạo đã phát sanh, hiểu tột cùng pháp chỗ đáng hiểu, chăm chú hiểu pháp đáng chăm chú hiểu, đã trừ tuyệt Pháp đáng trừ tuyệt, đã trau dồi pháp đáng trau dồi, đã làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ. Còn trong 1/4 nữa chưa đặng làm cho rõ cùng pháp đáng làm cho rõ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    656.

    • Tự ngôn: Bực thật hành đặng làm cho rõ quả Thất Lai, thấy khổ nên nói rằng bực đã tiến hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi đã thấy Khổ nên nói rằng bực đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi thấy Tập ... Khi thấy Diệt ... nên nói rằng bực đã tiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi đã thấy Diệt nên nói rằng bực đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    657.

    • Tự ngôn: Bực thật hành đặng làm cho rõ cùng quả Thất Lai thấy Đạo nên nói rằng bực đã tiến hành, khi đã thấy Đạo nên nói bực đã trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi thấy Khổ nên nói rằng bực đã tiến hành, khi đã thấy Khổ nên nói rằng bực đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi thấy Đạo nên nói rằng bực đã tiến hành, khi đã thấy Đạo nên nói rằng bực đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi thấy Tập ... Khi thấy Diệt nên nói rằng bực đã tiến hành khi thấy Diệt rồi nên nói rằng bực đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    658.

    • Tự ngôn: Bực thật hành đặng làm cho rõ quả Thất Lai, khi Khổ nên nói rằng người đã tiến hành, khi đã thấy khổ không nên nói rằng thành bực đáng nói là người đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi đã thấy Đạo nên nói rằng bực đã tiến hành, khi đã thấy Tập không nên nói rằng thành bực nên nói là người đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi thấy Tập ... Khi thấy Diệt nên nói là bực đã tiến hành khi đã thấy Diệt không nên nói là thành bực đáng cho là đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi thấy Đạo nên nói rằng bực đã tiến hành, khi đã thấy Đạo không nên nói rằng thành bực mà đáng cho là đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    659.

    • Tự ngôn: Bực thật hành đặng làm cho rõ quả Thất Lai, khi thấy khổ nên nói là bực đã tiến hành, khi đã thấy khổ không nên nói rằng thành bực mà nên cho là đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách thấy Khổ vô ích phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi thấy Tập ... Khi thấy Diệt nên nói người đã tiến hành, khi đã thấy Diệt không nên nói rằng thành bực đáng cho là đã đình trụ trong quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách thấy Diệt vô ích phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    660.

    • Phản ngữ: Khi đã thấy Khổ, Tứ đế cũng thành cái đặng thấy rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thấy Khổ đế thành Tứ đế phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    661.

    • Tự ngôn: Khi đã thấy Sắc uẩn bằng sự vô thường, Ngũ uẩn cũng thành cái đặng thấy bằng sự vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thấy Sắc uẩn thành 5 uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    662.

    • Tự ngôn: Khi đã thấy Nhãn xứ bằng sự vô thường thì Thập nhị xứ cũng thành cái đặng thấy bằng sự vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn xứ thành Thập nhị xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    663.

    • Tự ngôn: Khi đã thấy Nhãn giới bằng sự vô thường thì Thập bát giới cũng thành cái đặng thấy bằng sự vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn giới thành Thập bát giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    664.

    • Tự ngôn: Khi đã thấy Nhãn quyền bằng sự vô thường thì Nhị thập nhị quyền cũng thành cái đặng thấy bằng sự vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn quyền thành Nhị thập nhị quyền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    665.

    • Tự ngôn: Người làm cho rõ quả Thất Lai đặng bằng Tứ Trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Thất Lai thành bốn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ quả Thất Lai đặng bằng Bát Trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Thất Lai thành tám phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ quả Thất Lai đặng bằng Thập nhị Trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Thất Lai thành thập nhị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ quả Thất Lai bằng Tứ thập tứ Trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Thất Lai thành Tứ thập tứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người làm cho rõ quả Thất Lai đặng bằng Thất thập thất Trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Thất Lai thành Thất thập thất phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    666.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng đắc chứng pháp theo thứ lớp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, đại hải lài theo thứ lớp, xuống theo thứ lớp, sâu theo thứ lớp không thể sâu thành búng tại vựa mé đâu; như thế nào thời trong pháp luật này cũng hẳn như thế ấy thành cách làm theo thứ lớp, thành cách tu theo thứ lớp, chẳng đặng thành cách thông suốt hiểu biết khắp cả chỉ nơi tại ban đầu”. Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì cách đắc chứng pháp cũng thành cách đắc chứng theo thứ lớp chớ gì!

    667.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng đắc chứng pháp theo thứ lớp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bực trí thức phải cạo bợn nhơ của mình mỗi khi từ chút từ chút, mỗi mỗi khi theo thứ lớp như thợ vàng cạo vàng ten thế đó”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì cách đắc chứng pháp cũng thành cách đắc chứng theo thứ lớp chớ gì!

    668.

    • Tự ngôn: Cách đắc chứng pháp thành cách đắc chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngài Gavampati Trưởng thượng đặng thuyết cùng chư Phíc-khú như vầy: “Lời này tôi đặng nghe bằng chánh thức, đặng thọ bằng chánh thức từ Đức Thế Tôn như vầy, này chư Phíc-khú, người nào thấy khổ người đó vẫn thấy nhân sanh của khổ luôn, vẫn thấy tiến hành làm cho đến pháp thành chỗ diệt của khổ luôn. Người nào thấy nhân sanh của khổ, người ấy vẫn thấy khổ luôn, vẫn thấy pháp thành chỗ diệt của khổ luôn, vẫn thấy lối tiến hành cho đến pháp thành chỗ diệt khổ luôn. Người nào thấy pháp thành chỗ diệt của khổ người ấy vẫn thấy khổ luôn, vẫn thấy nhân sanh ra của khổ luôn, vẫn thấy lối tiến hành cho đến pháp thành chỗ diệt của khổ luôn. Người nào thấy lối tiến hành cho đến pháp thành chỗ diệt của khổ thời người ấy vẫn thấy khổ luôn, vẫn thấy nhân sanh của khổ luôn, vẫn thấy pháp thành chỗ diệt của khổ luôn”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách đắc chứng pháp thành cách đắc chứng theo thứ lớp.

    669.

    • Tự ngôn: Cách đắc chứng pháp thành cách đắc chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Đồng với cách đến, đồng với thấy của Ngài (Thất Lai) Ngài ... thành là bực không nên làm sự trái địa phương 6 cách nặng nề”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách đắc chứng pháp là cách đắc chứng theo thứ lớp.

    670.

    • Tự ngôn: Cách đắc chứng pháp thành cách đắc chứng theo thứ lớp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, khi nào pháp Nhãn ly trần đặng sanh cho bực Thánh Thinh Văn như vầy, mỗi một cái nào có sanh ra, cố nhiên những cái đó phải có diệt dĩ nhiên đồng thời sanh ra của đạo Thất Lai, Thánh Thinh Văn đó tuyệt trừ tam triền đặng tức là Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng cách đắc chứng pháp là cách đắc chứng theo thứ lớp.

    Dứt Tùng tiền thứ đệ ngữ

    ---

    TỪ CÚ NGỮ (VOHĀRAKATHĀ)

    671.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật đối chiếu nhĩ thành thời hiệp thế, thâu biết đặng với thức thời thành siêu thế, thâu biết không đặng thời thành hiệp thế. Chư Thinh Văn thâu biết đặng, tất cả phàm phu thâu biết không đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    672.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật đối chiếu nhĩ mà thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói rằng Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật đối chiếu nhĩ mới thành hiệp thế thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật thành siêu thế.

    673.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật thâu biết đặng bằng thức chỗ thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật thâu nhận biết đặng bằng thức mà thành hiệp thế thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn giảng thuyết trong nơi của Phật thành siêu thế.

    674.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật, tất cả phàm phu nhận biết đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà phàm phu nhận biết Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật đặng thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật là siêu thế.

    675.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật là siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Thất Lai, thành quả Thất Lai, thành đạo Nhứt Lai, thành quả Nhứt Lai, thành đạo Bất Lai, thành quả Bất Lai, thành đạo Ứng Cúng, thành quả Ứng Cúng, thành Niệm xứ, thành Chánh cần, thành Như ý túc, thành Quyền, thành Lực, thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    676.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật là siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ai ai vẫn có nghe Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp siêu thế phải nhận biết đặng bằng nhĩ đối chiếu nơi nhĩ đem vào rạch của nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    677.

    • Tự ngôn: Pháp siêu thế không phải nhận biết đặng bằng nhĩ, không đối chiếu nơi nhĩ, không đến vào rạch của nhĩ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp siêu thế không phải nhận biết đặng bằng nhĩ, không đối chiếu nơi nhĩ, không đến vào rạch của nhĩ thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết của Phật thành siêu thế.

    678.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn giảng thuyết của Phật là siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ai ai chỗ phải nghe trong Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật, ai ai cũng vui mừng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp siêu thế thành chỗ trụ của ái, thành chỗ trụ của vui mừng, thành chỗ trụ của thương mến, thành chỗ trụ của say sưa, thành chỗ trụ của nhục phục phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    679.

    • Tự ngôn: Pháp siêu thế không thành chỗ trụ của ái, không thành chỗ trụ của sự vui mừng, không thành chỗ trụ của sự ưa thích, không thành chỗ trụ của sự nhiễm đắm, không thành chỗ trụ của sự nhục phục (nệm lúng) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp siêu thế không thành chỗ trụ của ái, không thành chỗ trụ của sự vui mừng, không thành chỗ trụ của sự ưa mến, không thành chỗ trụ của sự say sưa, không thành chỗ trụ của sự nhiễm đắm, không thành chỗ trụ của sự nằm sấp, thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật thành siêu thế.

    680.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn giảng thuyết của Phật thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật ai ai cũng phản đối vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp siêu thế thành chỗ trụ của sân, thành chỗ trụ của sự chống đối, thành chỗ trụ của sự đụng chạm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    681.

    • Tự ngôn: Pháp siêu thế không thành chỗ trụ của sân, không thành chỗ trụ của sự chống đối, không thành chỗ trụ của sự đụng chạm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp siêu thế không thành chỗ trụ của sân, không thành chỗ trụ của sự phản đối, không thành chỗ trụ của sự đụng chạm thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết của Phật là siêu thế.

    682.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng của Phật thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết của Phật ai ai phải mê vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp siêu thế thành chỗ trụ của si, làm sự vô tri, làm cho đui, thành chỗ điêu tàn mất trí, thành đảng của sự chật hẹp, không hiện hành hiệp tác để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    683.

    • Tự ngôn: Pháp siêu thế không thành chỗ trụ của si, không làm sự vô tri, không làm cho đui mù thành chỗ tiến hóa của tuệ, không thành bè đảng của sự hẹp hòi, hiện hành hiệp tác để đặng Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp siêu thế không thành chỗ trụ của si, không làm sự vô tri, không làm cho đui mù, thành chỗ tiến hóa của tuệ, thành bạn đảng của sự hẹp hòi, hiện hành hợp tác hầu đặng Níp-bàn thời không nên nói rằng Đức Thế Tôn giảng thuyết của Phật là siêu thế.

    684.

    • Tự ngôn: Thế Tôn giảng thuyết của Phật thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi một người nào nghe Đức Thế Tôn giảng thuyết của Phật tất cả những người đó gọi là làm cho đạo sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    685.

    • Tự ngôn: Mỗi một người nào nghe Đức Thế Tôn giảng thuyết của Phật, tất cả người đó gọi là làm cho đạo đặng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tiểu nhân nghe Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật thời tiểu nhân cũng gọi là có thể làm cho đạo phát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người sát mẫu ... Người sát phụ ... Người sát La Hán ... Người chích máu thân Phật ... Người phá hòa hợp Tăng vẫn nghe Đức Thế Tôn giảng thuyết của Phật thời người phá hòa hợp Tăng cũng là có thể làm cho đạo phát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    686.

    • Phản ngữ: Đống gạo hoặc đống vàng, dùng gậy vàng chỉ bởi đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Như thế vậy pháp mà thành hiệp thế hoặc thành siêu thế, Đức Thế Tôn Ngài thuyết bằng cách giảng giải thì thành siêu thế.

    687.

    • Tự ngôn: Đống gạo hoặc đống vàng dùng gậy cây thù đủ chỉ bảo cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Như thế đó pháp mà thành hiệp thế hay thành siêu thế, Đức Thế Tôn Ngài nói bằng cách giảng thuyết thời thành hiệp thế.

    688.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật giải pháp hiệp thế thời thành hiệp thế, nếu giải pháp siêu thế thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi giải pháp hiệp thế Ngài giảng thuyết đó xúc chạm nhĩ thời thành hiệp thế, khi thuyết pháp siêu thế thời chạm nhĩ thành siêu thế. Khi thuyết pháp hiệp thế, tất cả người nhận biết đặng bằng thức thời thành hiệp thế, khi thuyết pháp siêu thế cũng nhận biết đặng bằng thức thì thành siêu thế. Khi thuyết pháp hiệp thế tất cả phàm phu nhận biết đặng, khi thuyết pháp siêu thế tất cả bực Thinh Văn nhận biết đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    689.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật thời khi thuyết pháp hiệp thế cũng thành hiệp thế; khi thuyết pháp siêu thế cũng thành siêu thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn thuyết cả pháp hiệp thế và siêu thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài thuyết cả pháp hiệp thế và siêu thế, chính do nhân đó, ông mới nói rằng Đức Thế Tôn giảng thuyết nơi của Phật thời khi thuyết pháp hiệp thế cũng thành hiệp thế, khi thuyết pháp siêu thế cũng thành siêu thế.

    690.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài giảng thuyết nơi của Phật, khi thuyết pháp hiệp thế mới thành hiệp thế, khi thuyết pháp siêu thế mới thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi thuyết đạo mới thành đạo, khi thuyết pháp phi đạo mới thành pháp phi đạo, khi thuyết của quả mới thành quả, khi thuyết pháp phi quả mới thành pháp phi quả, khi thuyết Níp-bàn mới thành Níp-bàn, khi thuyết pháp Phi Níp-bàn cũng thành pháp Phi Níp-bàn, khi thuyết hữu vi mới thành hữu vi, khi thuyết vô vi mới thành vô vi, khi thuyết sắc pháp mới thành sắc pháp, khi thuyết vô sắc mới thành vô sắc, khi thuyết thọ mới thành thọ, khi thuyết pháp phi thọ mới thành pháp phi thọ, khi thuyết tưởng mới thành tưởng, khi thuyết pháp phi tưởng mới thành pháp phi tưởng, khi thuyết hành mới thành hành, khi thuyết pháp phi hành mới thành pháp phi hành, khi thuyết thức mới thành thức, khi thuyết pháp phi thức mới thành pháp phi thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Từ cú ngữ

    ---

    DIỆT NGỮ (NIRODHAKATHĀ)

    691.

    • Tự ngôn: Diệt (nirodha) thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ diệt (Dukkhanirodha) thành hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khổ diệt thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Diệt đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Diệt đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Diệt đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tập đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Diệt đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Diệt đế thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở y (taṇa) thành hai phải chăng? ... Bí mật (leṇa) thành hai phải chăng? ... Hữu y (saraṇa) thành hai phải chăng? ... Sở tiêu (parāyana) thành hai phải chăng? ... Sở kiên cố (accuta) thành hai phải chăng? ... Bất tử (amata) thành hai phải chăng? ... Níp-bàn thành hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Níp-bàn thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có sự cao và thấp, có sự thô thiển và tinh vi (paṇīta), sự thái quá và bất cập, ranh giới sự chia khác, lằn giữa của Níp-bàn cả hai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    692.

    • Tự ngôn: Diệt (nirodha) thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành chỗ còn không diệt với tuệ thành cơ quan quán sát (trí siêu thế) sẽ quan sát rồi cho diệt đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà hành có chỗ còn không diệt với tuệ thành cơ quan quán sát sẽ quán sát rồi cho diệt đặng thời không nên nói rằng diệt (nirodha) thành hai.

    693.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Diệt (nirodha) thành hai phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Chư hành có chỗ còn không diệt với tuệ thành cơ quan quán sát luôn chỗ đã diệt với tuệ thành cơ quan quán sát đều cũng tan nát đi hết rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Chư hành có chỗ còn không diệt với tuệ thành đồ quán sát luôn chỗ đã diệt với tuệ thành cơ quan quán sát đều cũng tan nát đi hết rồi. Chính do nhân đó, ông mới nói rằng diệt (nirodha) thành hai.

    694.

    • Tự ngôn: Diệt (nirodha) thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành mà đã diệt với tuệ thành cơ quan quát sát gọi là đã diệt do nương Thánh Đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuy nhiên hành mà còn không diệt với tuệ thành cơ quan quán sát cũng gọi là đã diệt do nương Thánh Đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    695.

    • Tự ngôn: Diệt thành hai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành mà đã diệt với tuệ thành cơ quan quán sát vẫn không sanh ra đặng nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành mà chẳng đặng diệt bằng tuệ thành cơ quan quán sát cũng vẫn không sanh nữa đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không cần nói rằng Diệt (nirodha) thành hai.

    Dứt Diệt ngữ

    Hoàn thành phẩm thứ hai.

    ---

     

     

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.