Đại phẩm thứ Mười Ba: Bát kiếp ngữ, thiện tâm phản chuyển ngữ, vô gián bất hiệp ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Ba: Bát kiếp ngữ, thiện tâm phản chuyển ngữ, vô gián bất hiệp ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
     
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM MƯỜI BA

    ---

     

    BÁT KIẾP NGỮ (KAPPAṬṬHA KATHĀ)

    1513.

    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp (kappaṭṭha) phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kiếp sống còn đặng luôn, Đức Phật ra đời đặng luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kiếp sống còn đặng luôn, Tăng chia nhau đặng luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kiếp sống còn đặng luôn, bực người Bát Kiếp tạo nghiệp mà thành nhân sống còn cả kiếp đặng luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kiếp sống còn đặng luôn, bực người Bát Kiếp chết đặng luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phải sống còn luôn kiếp thành phần quá khứ, phải sống còn luôn kiếp thành phần vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phải sống còn luôn 2 kiếp, phải sống còn luôn 3 kiếp, phải sống còn luôn 4 Kiếp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp khi kiếp đang bị lửa cháy thời đi đâu? Phản ngữ: Đi đến thế giới khác.
    • Tự ngôn: Thành người đã chết mất hay là đi đến hư không đặng. Phản ngữ: Thành người đã chết mất.
    • Tự ngôn: Nghiệp mà thành nhân sống còn luôn kiếp là nghiệp cho quả đời sau sau luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đi đến hư không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp là người có thần thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp là người có thần thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp đặng tiến hóa Dục như ý túc, đặng tiến hóa Cần như ý túc, đặng tiến hóa Tâm như ý túc, đặng tiến hóa Thẩm như ý túc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1514.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng bực người Bát Kiếp phải sống còn đặng luôn cả kiếp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Bực người Bát Kiếp tức là người phá hòa hợp Tăng, sẽ phải đi ác đạo, sẽ phải đi Địa ngục, người ưa thích trong cách chia bọn, không nương đổ trong Pháp, vẫn tránh xa Pháp, thành biên cương, thành cõi an khương lìa hành giả, y đã còn làm cho Tăng hòa phân tán, sẽ chôn vùi trong lửa Địa ngục luôn cả kiếp”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, bực người Bát Kiếp cũng phải sống còn đặng luôn cả kiếp chớ gì.

    Dứt Bát kiếp ngữ

    ---

    THIỆN TÂM PHẢN CHUYỂN NGỮ (KUSALACITTA PATILĀBHA KATHĀ)

    1515.

    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp không thể trở đặng tâm thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp có thể bố thí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người Bát Kiếp có thể bố thí thời không nên nói bực người Bát Kiếp không thể trở đặng tâm thiện.
    1.  
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp không thể trở đặng tâm thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Bát Kiếp có thể cho y ... có thể cho bát ... có thể cho tọa cụ ... có thể cho y dược, vật dụng, có thể cho đồ nhai, có thể cho đồ ăn, có thể cho đồ uống, có thể lạy Pháp, có thể đem đến bông cây, đồ thơm, đồ thoa nơi tháp ... có thể sắp cách cúng dường bảo tháp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người Bát Kiếp có thể sắp cách cúng dường bảo tháp thời không nên nói bực người Bát Kiếp không thể trở đặng tâm thiện. Như đây...

    1517.

    • Phản ngữ: Bực người Bát Kiếp có thể trở đặng tâm thiện phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người Bát Kiếp có thể phản chuyển đặng tâm thiện mà thành cách ra khỏi tâm bất thiện là nhân sống còn luôn cả kiếp đó phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Có thể trở đặng tâm thiện thành ra Sắc giới ... thành ra Vô sắc giới ... thành ra siêu thế phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tâm thiện phản chuyển ngữ

    ---

    VÔ GIÁN BẤT HIỆP NGỮ (ANANTARĀPAYUTTA KATHĀ)

    1518.

    • Phản ngữ: Bực người sai khiến làm nghiệp vô gián có thể lướt vào đến chánh nhứt định (Sammattaniyāma) đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Có thể lướt vào đến tà nhứt định (Micchattaniyāma) và chánh nhứt định đặng cả hai thứ phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Bực người sai khiến tạo nghiệp vô gián có thể lướt vào đến chánh nhứt định đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nghiệp đó đặng sai khiến cho làm rồi đã gây sự ép uổng tâm, đã cho sự buồn rầu sanh ra phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà nghiệp đó đặng sai cho làm rồi gây sự ép uổng tâm rồi và đã làm cho tâm buồn rầu sanh ra thời không nên nói bực người dạy cho tạo nghiệp vô gián có thể lướt vào đến chánh nhứt định đặng.

    1519.

    • Tự ngôn: Bực người dạy cho tạo nghiệp vô gián thành người không đáng sẽ lướt đến chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Họ đặng giết mẹ, đặng giết cha, đặng giết La Hán, đặng chích máu thân Phật, còn phá hòa hợp Tăng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người dạy cho tạo nghiệp vô gián đã nghĩ nghiệp ấy đã đặng bớt tâm ép uổng, hạn chế đặng ưu sầu thành người không đáng sẽ lướt đến chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Họ đặng giết mẹ, đặng giết cha ... còn làm cho Tăng chia rẽ nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người dạy cho họ tạo nghiệp vô gián đã nghĩ nghiệp ấy rồi, đã bớt đặng tâm ép uổng, hạn chế sự sầu não rồi thời thành người không đáng sẽ lướt đến chánh nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp đó đã đặng bỏ qua, sự ép uổng tâm cũng đã đặng bớt, sự sầu não cũng hạn chế rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nghiệp đó đã đặng dứt nghỉ, sự ép uổng tâm cũng đặng bớt rồi, sự buồn rầu cũng đã đặng hạn chế thời không nên nói rằng bực người sai cho kẻ khác tạo nghiệp vô gián, đã dứt nghỉ nghiệp ấy bớt tâm ép uổng rồi, đã hạn chế sự ưu sầu, đặng thành người không đáng để sẽ lướt đến chánh nhứt định.

    1520.

    • Phản ngữ: Bực người sai cho nghiệp vô gián có thể lướt đến chánh nhứt định phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Họ đặng sai cho làm nghiệp đó rồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà họ đặng sai cho làm nghiệp đó rồi thời không nên nói bực người sai cho làm nghiệp vô gián có thể lướt đến chánh nhứt định đặng.

    Dứt Vô gián bất hiệp ngữ

    ---

    QUYẾT ĐỊNH SỞ NHỨT ĐỊNH NGỮ (NIYATASSA NIYĀMA KATHĀ)

    1521.

    • Tự ngôn: Bực người đã quyết định vẫn lướt đến lối nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người đã nhứt định trong tà lướt đến chánh nhứt định đặng, bực người đã nhứt định trong chánh cũng lướt đến tà nhứt định đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người đã quyết định vẫn lướt đến lối nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đã làm cho đạo phát sanh rồi mới lướt đến lối nhứt định sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đã làm cho Sơ đạo phát sanh rồi mới lướt đến Thất Lai Nhứt Định sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đã làm cho đạo Nhứt Lai ... Đạo Bất Lai ... Đạo La Hán đã sanh rồi mới lướt đến La Hán Nhứt Định sau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người làm cho Niệm xứ ... Chánh cần ... Như ý túc ... Quyền ... Lực ... Giác chi phát sanh ra rồi mới lướt đến lối nhứt định sau này phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1522.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực người đã quyết định vẫn lướt đến lối nhứt định phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bồ tát không thành người đáng sẽ đắc chứng pháp trong đời đó phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó bực người đã quyết định cũng vẫn lướt đến lối nhứt định chớ gì.

    Dứt Quyết định sở nhứt định ngữ

    ---

    CÁI NGỮ (NĪVUTAKATHĀ)

    1523.

    • Tự ngôn: Người thành bực có Tâm mà cái (nīvaraṇa) đã che ngăn bài trừ cái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thành bực đã có tâm Ái bài trừ Ái, thành bực đã có tâm Sân độc bài trừ Sân, thành bực đã có tâm Si bài trừ Si, thành bực đã có tâm phiền toái bài trừ phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người bài trừ Ái bằng Ái, bài trừ Sân bằng Sân, bài trừ Si bằng Si, bài trừ phiền não bằng phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái cũng tương ưng với tâm, đạo cũng tương ưng với tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội hiệp của nhị xúc ... của nhị tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái thành bất thiện, đạo thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và pháp thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không có lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng nó thành đối lập nhau, đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và pháp thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau, đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, bốn cách này xa nhau rất xa nhau. Bốn cách đó là chi? Trời và đất là điều thứ nhứt xa nhau rất xa nhau ... bởi thế đó pháp của trí thức mới xa lìa phi trí thức”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp thành thiện và thành bất thiện ... đến gặp nhau chớ gì.

    1524.

    • Tự ngôn: Người thành bực có Tâm cái đã che ngăn bài trừ cái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Phíc-khú đó trong lúc tâm đã đình trụ thành tâm thanh tịnh trong sạch, không có phiền não là cơ quan nịnh hót, có Tùy phiền não đã lìa rồi thành tâm nhu nhuyến thích hợp với công chuyện, đình trụ đã dẫn đến pháp dĩ nhiên không lay động, thế này vẫn chong tâm đến để đặng trí thành cơ quan dứt hết tất cả lậu”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói người thành bực có cái mà đã trùm che rồi bài trừ cái.

    1525.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói người thành bực có Tâm cái đã che ngăn rồi bài trừ cái phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Phíc-khú ấy vẫn biết thế này, vẫn thấy thế này tâm giải thoát có thể lìa Dục lậu và tâm giải thoát có thể lìa Vô minh lậu”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó người cũng thành bực đã có tâm cái trùm che rồi mới bài trừ cái chớ gì.

    Dứt cái ngữ

    ---

    HỘI DIỆN NGỮ (SAMMUKHĪBHŪTA KATHĀ)

    1526.

    • Tự ngôn: Người thành bực có tâm hội hiệp với triền bài trừ triền đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thành bực đã có tâm Ái rồi bài trừ Ái, thành bực đã có tâm Sân độc rồi bài trừ Sân độc, thành bực đã có tâm Si rồi bài trừ Si, thành bực đã có tâm phiền toái rồi bài trừ phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người bài trừ Ái bằng Ái, bài trừ Sân bằng Sân, bài trừ Si bằng Si, bài trừ phiền não bằng Phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái cũng tương ưng với tâm, đạo cũng tương ưng với tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội hiệp của nhị xúc ... của nhị tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái thành bất thiện, đạo thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và pháp thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau lại gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và pháp thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không có lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau, đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, bốn cách này xa nhau rất xa nhau. Bốn cách đó là chi? Tức là trời và đất, đây là cách thứ nhứt xa nhau rất xa nhau ... vì thế đó nên pháp của trí thức mới xa lìa phi trí thức”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp thành thiện và pháp thành bất thiện đến gặp nhau.

    1527.

    • Tự ngôn: Người thành bực có tâm hội hiệp với triền mới bài trừ triền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Phíc-khú đó trong lúc tâm đã đình trụ ... thế này tâm chăm chú để đặng trí thành cơ quan tuyệt dứt tất cả Lậu”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói bực người có tâm hiệp hội với triền bài trừ triền.

    1528.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói người có tâm hiệp hội với triền bài trừ triền phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Khi Phíc-khú đó đang biết thế này, đang thấy thế này tâm vẫn giải thoát hẳn lìa Dục lậu ... Tâm vẫn giải thoát hẳn lìa Vô minh lậu”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó người cũng thành bực có tâm hội hiệp với triền bài trừ triền chớ gì.

    Dứt Hội diện ngữ

    ---

    NHẬP THIỀN THÍCH THÀNH CẢNH NGỮ (SAMĀPANNO ASSĀDETI KATHĀ)

    1529.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền vẫn vui thích, sự vui thích ưa mến trong thiền là có thiền thành cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiền đó thành cảnh của thiền đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiền đó thành cảnh của thiền đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người đụng chạm Xúc đó bằng Xúc đó, hưởng Thọ đó bằng Thọ đó, nhớ Tưởng đó bằng Tưởng đó, Tư cố quyết đó bằng Tư đó, Tâm tính đó bằng Tâm đó, suy xét Tầm đó bằng Tầm đó, Tứ gìn giữ đó bằng Tứ đó, hưởng Hỷ đó bằng Hỷ đó, nhớ Niệm đó bằng Niệm đó, tỏ ngộ Tuệ đó bằng Tuệ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự vui mừng ưa thích trong thiền cũng tương ưng với tâm mà thiền cũng tương ưng với tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội hiệp của nhị xúc ... của nhị tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự vui thích trong thiền thành bất thiện mà thiền là thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau, đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau, đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, bốn cách này xa nhau rất xa nhau. Bốn cách đó là chi? Cách thứ nhứt trời và đất xa nhau rất xa nhau ... bởi thế đó nên pháp của trí thức mới xa lìa phi trí thức”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp thành thiện và pháp thành bất thiện, pháp có lỗi và pháp không lỗi, pháp thô sơ và pháp vi tế, pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau, đến gặp nhau.

    1530.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng người nhập thiền vẫn vui mừng mà sự vui mừng ưa thích trong thiền là có thiền làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Phíc-khú trong pháp luật này tĩnh ly chư dục đắc Sơ thiền, y vui mừng trong thiền ấy, ưa thích thiền ấy và gặp sự vui mừng lòng với thiền ấy. Đắc chứng Nhị thiền bên trong thanh tịnh do vắng lặng Tầm, Tứ ... Đắc Tam thiền ... Đắc Tứ thiền ... y vui mừng với thiền ấy, ưa thích thiền ấy và gặp sự mừng lòng với thiền ấy”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó bực nhập thiền cũng vui thích mà sự vui thích, ưa mến trong thiền ấy cũng có thiền làm cảnh chớ gì!

    Dứt nhập thiền thích thành cảnh ngữ

    ---

    PHI CẢNH ÁI NGỮ (ASĀTARĀGA KATHĀ)

    1531.

    • Tự ngôn: Cách vui mừng trong sự vật không ưa thích vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả chúng sanh thành người rất ưa thích trong khổ vẫn có, cũng có thứ ưa thích hy vọng tìm tòi kiếm khổ, chui vùi trong khổ sống còn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả chúng sanh thành bực người rất vui thích trong lạc, vẫn cũng có thứ ưa hy vọng tìm kiếm tầm lạc, trầm miếng sống còn theo lạc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà tất cả chúng sanh thành người rất ưa thích lạc cũng có thứ ưa hy vọng tìm kiếm tầm lạc, trầm miếng đình trụ trong lạc thời không nên nói cách vui thích trong sự vật không đáng ưa mến vẫn có như đây.

    1532.

    • Tự ngôn: Cách vui thích trong sự vật không ưa thích vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái tùy miên nương trong khổ thọ, Phẫn tùy miên nương trong lạc thọ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái tùy miên ngủ ngầm trong lạc thọ, Phẫn tùy miên ngủ ngầm trong khổ thọ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ái tùy miên ngủ ngầm trong lạc thọ, Phẫn tùy miên ngủ ngầm trong khổ thọ thời không nên nói cách vui thích trong sự vật không ưa vẫn có như đây.

    1533.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói sự ưa thích trong sự vật không vừa lòng vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Người đó gặp sự vui thích hoặc sự buồn bã thế này rồi thọ hưởng cách nào một cách, hoặc khổ hoặc lạc, hoặc phi khổ phi lạc, họ hớn hở dồi dào trầm miếng đình trụ theo thọ ấy”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó cách ưa thích trong sự vật không vừa lòng cũng vẫn có chớ gì.

    Dứt Phi cảnh ái ngữ

    ---

    PHÁP ÁI VÔ KÝ NGỮ (DHAMMATAHĀ ABYĀKATĀTIKATHĀ)

    1534.

    • Tự ngôn: Pháp ái là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành vô ký quả, thành vô ký tố, thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1535.

    • Tự ngôn: Pháp ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh ái ... Khí ái, Vị ái ... Xúc ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1536.

    • Tự ngôn: Sắc ái là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp ái là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thinh ái ... Xúc ái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp ái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1537.

    • Tự ngôn: Pháp ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái mà Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu Ái mà Đức Thế Tôn Ngài có phán là bất thiện thời không nên nói pháp Ái là vô ký.

    1538.

    • Tự ngôn: Pháp ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự Tham, Đức Thế Tôn Ngài có phán là bất thiện và Pháp ái cũng là sự tham phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự tham, Đức Thế Tôn Ngài có phán là bất thiện và pháp Ái cũng là sự tham thời không nên nói pháp Ái là vô ký.

    1539.

    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là Sắc ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là Thinh ái ... tức là Xúc ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1540.

    • Tự ngôn: Tham là Sắc ái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tham tức là Thinh ái ... tức là Xúc ái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái thành pháp bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1541.

    • Tự ngôn: Pháp ái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Ái nào làm sự sanh nữa hành động cùng với sự vọng dục với mãnh lực sự phơi phới, rất phơi phới trong cảnh ấy. Ái như trình bày đây tức là Dục ái, Hữu ái, Ly hữu ái”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp Ái là vô ký.

    1542.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng pháp Ái là vô ký phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nó thành Ái trong pháp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà nó thành Ái trong pháp, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng pháp Ái là vô ký.

    Dứt Pháp ái vô ký ngữ

    ---

    PHÁP ÁI PHI KHỔ TẬP NGỮ (DHAMMATAHĀ NA DUKKHASAMUDAYOTI KATHĀ)

    1543.

    • Tự ngôn: Pháp ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh ái ... Khí ái ... Vị ái ... Xúc ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1544.

    • Tự ngôn: Sắc ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thinh ái ... Khí ái ... Vị ái ... Xúc ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái, Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Thành Khổ Tập” phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ái, Đức Thế Tôn Ngài có nói: “là Khổ Tập” thời không nên nói pháp Ái không thành Khổ Tập.

    1545.

    • Tự ngôn: Pháp ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự tham, Đức Thế Tôn Ngài có nói là Khổ Tập và pháp Ái cũng là sự tham phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự tham, Đức Thế Tôn Ngài có nói là Khổ Tập và pháp Ái cũng là tham thời không nên nói pháp Ái không thành Khổ Tập.

    1546.

    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là Sắc ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là Thinh ái, tức là Khí ái ... tức là Vị ái ... tức là Xúc ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1547.

    • Tự ngôn: Tham tức là Sắc ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tham tức là Thinh ái ... tức là Xúc ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tham tức là pháp Ái thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1548.

    • Tự ngôn: Pháp ái không thành Khổ Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Ái nào làm cho sanh nữa hành vi với sự vọng dục, với mãnh lực hớn hở, rất hớn hở trong cảnh đó. Ái như nói đây tức là Dục ái, hữu Ái, Ly hữu Ái”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp Ái không thành Khổ Tập như đây.

    1549.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng pháp Ái không thành Khổ Tập phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nó thành Ái trong pháp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà nó thành Ái trong pháp thời không nên nói pháp Ái không thành Khổ Tập như đây.

    Dứt Pháp ái phi khổ tập ngữ

    Dứt Phẩm thứ mười ba

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.