Đại phẩm thứ Mười Bảy: La hán khí phước ngữ, la hán vô phi thời tử ngữ, nhứt thế thử thành do nghiệp ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Bảy: La hán khí phước ngữ, la hán vô phi thời tử ngữ, nhứt thế thử thành do nghiệp ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP
    (ABHIDHAMMAPIAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

    Năm 1976

    PHẨM MƯỜI BẢY

    ---

     

    LA HÁN KHÍ PHƯỚC NGỮ (ATTHI ARAHATO PUÑÑUPACAYOTI KATHA)

    1689.

    • Tự ngôn: La Hán có cách bỏ hết phước (puññūpacayo) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán có cách bỏ hết tội (apuññūpacayo) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán không có cách bỏ hết tội phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán không có cách bỏ hết phước phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1690.

    • Tự ngôn: La Hán có cách bỏ hết phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán còn tạo đủ phước hành (puññābhisaṅkhāra), còn tạo đủ bất động hành (āneñjābhisaṅkhāra) còn tạo nghiệp mà thành để đi chỗ sanh để hậu hữu, để đặng thành đại, để đặng thành trưởng (adhipati), để đặng tài sản lớn, để đặng bè đảng nhiều, để đặng sự đẹp trong tiên, để đặng sự đẹp trong nhân loại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1691.

    • Tự ngôn: La Hán có cách bỏ hết phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán còn đang bỏ hết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán đang nghỉ bỏ hết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán đang bỏ tuyệt phải chăng? ... La Hán còn đang chấp cứng phải chăng? ... La Hán đang chùi rửa phải chăng? ... La Hán đang vùi lấp phải chăng? ... La Hán đang hạn chế phải chăng? ... La Hán đang thơm đầy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán đang chất chứa cũng chẳng phải, đang nghỉ chất chứa cũng chẳng phải, nhưng La Hán là người đã nghỉ trừ bỏ, đang bảo trì phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán chẳng phải đang chấp chứa, chẳng phải đang nghỉ chấp chứa nhưng thành người đã nghỉ chừa bỏ, đang bảo trì thời không nên nói La Hán có cách bỏ hết phước.

    1692.

    • Tự ngôn: La Hán đang bỏ dứt cũng chẳng phải, đang chấp chứa cũng chẳng phải nhưng là bực đã bỏ dứt, đang bảo trì, chẳng phải đang chùi rửa, chẳng phải đang vùi lấp nhưng thành bực đã chùi rửa, đang bảo trì, chớ chẳng phải đang hạn chế, chẳng phải đang thơm đầy nhưng thành người đã hạn chế đang bảo trì phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà La Hán chẳng phải đang hạn chế, chẳng phải đang thơm đầy nhưng là bực đã hạn chế, đang bảo trì thời không nên nói La Hán có cách bỏ hết phước.

    1693.

    • Phản ngữ: La Hán không có cách bỏ hết phước phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: La Hán phải bố thí phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu La Hán phải bố thí, thời không nên nói La Hán không có cách bỏ hết phước.

    1694.

    • Phản ngữ: La Hán phải cho y ... phải cho bát, phải cho tọa cụ, phải cho thuốc men và vật dụng, phải cho đồ nhai, phải cho đồ ăn, phải cho đồ uống, phải lạy tháp, phải dưng đồ trang điểm, phải dưng đồ thơm thoa xức, phải dưng đồ thoa chà nơi tháp, phải cúng dường bảo tháp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà La Hán phải cúng dường tháp, thời không nên nói La Hán không có cách bỏ hết phước.

    Dứt La Hán khí phước ngữ

    ---

    LA HÁN VÔ PHI THỜI TỬ NGỮ (NATTHI ARAHATO AKALAMACCUTI KATHA)

    1695.

    • Tự ngôn: La Hán không có tử phi thời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán không có chết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán có chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán có chết phi thời phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán không có chết phi thời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người mà giết mạng sống La Hán đó giết trong khi mạng sống như là mạng sống phần mà còn dư vẫn có, hoặc giết trong khi mạng sống như là mạng sống nơi phần không dư vẫn có. Phản ngữ: Giết trong khi mạng sống tức là mạng sống phần mà còn dư vẫn có.
    • Tự ngôn: Nếu mà giết trong khi mạng sống như là mạng sống phần mà còn dư cũng có, thời không nên nói La Hán không có chết phi thời. Phản ngữ: Giết trong khi mạng sống tức là mạng sống phần mà không dư vẫn có.
    • Tự ngôn: La Hán không chết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1696.

    • Tự ngôn: La Hán không có chết phi thời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thuốc độc, gươm đao, lửa, không thể vào đến thân của La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thuốc độc, gươm đao, lửa có thể vào trong thân của La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thuốc độc, gươm đao, lửa có thể vào trong thân của La Hán đặng thời không nên nói La Hán chẳng chết phi thời.

    1697.

    • Tự ngôn: Thuốc độc, gươm đao, lửa không có thể vào đến trong thân thể của La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán không chết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1698.

    • Phản ngữ: La Hán có thể chết phi thời phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai không nói cách mà nghiệp nó hành vi bằng cố quyết mà người đã làm, đã chừa bỏ, sẽ hết đi, vì không đặng hưởng quả nhưng chính nghiệp ấy sẽ cho quả chỉ trong hiện đời hoặc trong đời sau này, hay trong đời sau này luôn luôn”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì La Hán cũng không có chết phi thời chớ gì.

    Dứt La Hán vô phi thời tử ngữ

    ---

    NHỨT THẾ THỬ THÀNH DO NGHIỆP NGỮ (SABBAMIDAṂ KAMMATOTI KATHĀ)

    1699.

    • Tự ngôn: Tất cả vật đây đều thành do nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dù cho nghiệp cũng thành do nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả vật đây thành đều do nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vật tất cả đây thành đều do nhân tạo để trong khi trước phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả vật đây thành đều do nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả vật đây thành do dị thục quả của nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả vật đây thành do dị thục quả của nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người phải sát sanh do dị thục quả của nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sát sanh có quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dị thục quả của nghiệp có quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dị thục quả của nghiệp không có quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sát sanh không có quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người phải trộm cướp ... phải vọng ngôn, phải lưỡng thiệt, phải ác khẩu, phải ỷ ngữ, phải cắt vách lén trộm, phải đại cướp, phải cướp nhà lẻ, phải đón đường vắng, phải lấy vợ người, phải giết lối xóm, phải giết dân chúng do nghiệp dị thục quả phải chăng? Phải bố thí, phải cho y áo, phải cho bát, phải cho tọa cụ, phải cho thuốc men và vật dùng bởi nghiệp dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thuốc men, vật dụng có quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp dị thục có quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nghiệp dị thục không có quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thuốc men, vật dụng không có quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1700.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói tất cả vật đây thành do nghiệp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Đời hành vi do nghiệp, chúng sanh hành vi do nghiệp, tất cả chúng sanh có nghiệp là cơ quan mật thiết như khía trái khế của xe nơi đang chạy, như thế người đặng chức phận ngợi khen do nghiệp và gặp sự suy đồi cho đến bị giết bị cầm tù cũng do nghiệp, người biết rõ cái nghiệp đó là cơ quan làm cho khác nhau, như vậy rồi làm sao mà dám nói rằng nghiệp không có trong đời”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tất cả vật đây cũng là nghiệp chớ gì.

    Dứt Nhứt thế thử thành do nghiệp ngữ

    ---

    QUYỀN LIÊN QUAN NGỮ (INDRIYABADDHA KATHĀ)

    1701.

    • Phản ngữ: Sự vật chỉ liên quan với quyền ấy thành khổ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vật chỉ liên quan với quyền đó vô thường thành hữu vi, nương duyên sanh ra, có sự mất là thường, có sự hủy hoại là thường, có sự tan rã là thường, có sự diệt mất là thường, có sự biến đổi là thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự vật không liên quan với quyền cũng vô thường, thành hữu vi nương duyên sanh ra, có sự mất đi dĩ nhiên, có sự hư hao dĩ nhiên, có sự tan rã dĩ nhiên, có sự diệt mất dĩ nhiên, có sự biến đổi dĩ nhiên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự vật không liên quan với quyền cũng vô thường thành hữu vi, nương duyên sanh ra, có sự mất đi dĩ nhiên, có sự hư hoại dĩ nhiên, có sự tan rã dĩ nhiên, có sự diệt mất dĩ nhiên, có sự biến đổi dĩ nhiên thời không nên nói sự vật chỉ liên quan với quyền đó thành khổ.

    1702.

    • Tự ngôn: Sự vật không liên quan với quyền cũng vô thường thành hữu vi nương duyên sanh ra ... có sự biến đổi là lẽ thường nhưng nó không thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vật liên quan với quyền cũng vô thường, thành hữu vi ... có sự biến đổi là lẽ dĩ nhiên, nhưng nó không thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự vật liên quan với quyền cũng vô thường thành hữu vi, có sự biến đổi là dĩ nhiên và nó thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vật không liên quan với quyền vô thường, thành hữu vi ... có sự biến đổi là dĩ nhiên và nó thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1703.

    • Tự ngôn: Sự vật chỉ liên quan với quyền đó thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vật nào vô thường, sự vật ấy Đức Thế Tôn Ngài phán rằng là khổ, sự vật không liên quan với quyền cũng vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thứ nào vô thường, thứ ấy Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng là khổ, thứ vật nào không liên quan với quyền cũng vô thường, thời không nên nói sự vật chỉ liên quan với quyền đó thành khổ.

    1704.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói sự vật chỉ liên quan với quyền đó mới thành khổ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người giữ hạnh tốt trong Phật Giáo hầu chăm chú biết khổ mà liên quan với quyền thế nào thời vẫn hành phạm hạnh trong Phật Giáo hầu chăm chú biết khổ nơi không liên quan với quyền như thế đó phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Khổ liên quan với quyền mà bực Thánh đã chăm chú rõ vẫn không sanh nữa như thế nào thì khổ mà không liên quan với quyền của bực Thánh đã chăm chú hiểu thời không sanh nữa thế đó phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thời sự vật chỉ liên quan với quyền ấy thành khổ chớ gì.

    Dứt Quyền liên quan ngữ

    ---

    TRỪ RA THÁNH ĐẠO NGỮ (ṬHAPETVĀ ARIYAMAGGANTI KATHĀ)

    1705.

    • Tự ngôn: Trừ ra Thánh Đạo, hành mà ngoài ra thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dù Khổ Tập cũng là khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dù là Khổ Tập cũng là khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thánh đế chỉ có ba đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thánh đế chỉ có ba đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài thuyết để Tứ Thánh đế tức là: Khổ, Khổ tập (dukkhasamudaya), Khổ diệt (dukkhanirodha), Khổ diệt Tiến hành (dukkhanirodha-gāminīpatīpadā) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài thuyết để bốn Thánh đế là Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt Tiến hành thời không nên nói Thánh đế chỉ có ba đó.

    1706.

    • Tự ngôn: Dĩ nhiên Khổ tập cũng là khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Theo ý nghĩa nói cách nào? Phản ngữ: Theo ý nghĩa vô thường.
    • Tự ngôn: Thánh Đạo vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thánh Đạo thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thánh Đạo vô thường nhưng Thánh Đạo đó không thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ Tập vô thường nhưng Khổ tập đó không thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khổ Tập vô thường và Khổ tập đó thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thánh Đạo vô thường và Thánh Đạo đó thành khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1707.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói trừ Thánh Đạo, hành ngoài ra thành khổ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thánh Đạo đó thành Tiến hành diệt khổ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thánh Đạo đó thành Tiến hành diệt khổ, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng trừ Thánh Đạo, hành mà ngoài ra thành khổ.

    Dứt Trừ ra Thánh Đạo ngữ

    ---

    BẤT ƯNG NGÔN TĂNG THỌ CÚNG DƯỜNG NGỮ (NA VATTABBAṂ SAṄGHO DUKKHINAṂ PAṬIGGAṆHATITI KATHA)

    1708.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói Tăng bảo thọ của làm phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tăng bảo là bực đáng cúng dường, thành bực đáng nghinh tiếp, thành bực đáng với của làm phước, thành bực đáng chấp tay cung kỉnh, thành phước điền cao thượng của đời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tăng bảo thành bực đáng với của cúng dường, thành bực đáng nghinh tiếp, thành bực đáng làm phước, thành bực đáng kỉnh xá, thành phước điền cao thượng của đời, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng bảo thọ của làm phước đặng.

    1709.

    • Tự ngôn: Không nên nói Tăng bảo thọ của làm phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài phán bốn đôi của trượng phu, tám bực người trượng phu là thành bực đáng của làm phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài phán bốn đôi trượng phu, 8 bực người trượng phu là thành bực đáng của làm phước, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng bảo thọ của làm phước đặng.

    1710.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói Tăng bảo thọ của làm phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có bọn người nơi dưng cúng đến Tăng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có bọn người nơi dưng cúng cho Tăng vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng bảo thọ của làm phước đặng.
    • Tự ngôn: Hoặc có người mà dưng y ... dưng bát, dưng tọa cụ, dưng y dược, vật dụng, dưng đồ nhai, dưng đồ hưởng ... dưng nước uống đến Tăng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà hoặc bọn người dưng nước uống đến chư Tăng vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng bảo thọ của làm phước đặng.

    1711.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói Tăng bảo thọ của làm phước đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Tăng bảo bực đến đầy đủ với định vẫn thọ của làm phước như lửa thọ cách cúng dường, như Đại địa chứa nước mưa từ mây lớn”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó Tăng bảo cũng thọ của làm phước đặng chớ gì.

    1712.

    • Phản ngữ: Tăng bảo thọ của làm phước đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đạo thọ đặng phải chăng? Quả thọ đặng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Bất ưng ngôn Tăng thọ cúng dường ngữ

    ---

    BẤT NGÔN TĂNG ƯNG THỌ THÍ NGỮ (NA VATTABBAṂ SAṄGHO DAKKHIṆAṂ VISODHETĪTI KATHĀ)

    1713.

    • Tự ngôn: Không nên nói Tăng còn làm của phước cho trong sạch đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tăng bực người đáng cúng dường, bực người đáng nghinh tiếp, bực người đáng làm phước, bực người đáng chấp tay cung kỉnh, thành phước điền cao thượng của đời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tăng thành bực đáng cúng dường ... thành phước điền cao thượng của đời thì chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng có thể làm cho phước trong sạch.

    1714.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng Tăng còn làm cho bố thí trong sạch đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài nói bốn đôi trượng phu, tám người trượng phu là thành người đáng làm phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có nói bốn đôi trượng phu, tám người trượng phu là thành người đáng làm phước, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng có thể làm phước trong sạch đặng.

    1715.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng Tăng còn làm cho phước trong sạch đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có bọn người mà dưng cúng bố thí cho Tăng rồi thỏa thích phước vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cũng có số người đã dưng cúng, bố thí đến Tăng rồi thỏa thích phước vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng còn cho làm phước trong sạch đặng.

    1716.

    • Tự ngôn: Cũng có người dưng y ... dưng bát, dưng tọa cụ, dưng y dược vật dụng, dưng đồ nhai, dưng đồ độ (thực), dưng nước uống đến Tăng rồi thỏa thích phước vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cũng có số người khi đã dưng nước, đồ uống đến Tăng thỏa thích phước vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng có thể cho phước trong sạch đặng.

    1717.

    • Phản ngữ: Tăng có thể cho phước trong sạch đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đạo có thể cho phước trong sạch đặng phải chăng? Quả có thể cho phước trong sạch phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Bất ngôn Tăng ưng thọ thí ngữ

    ---

    BẤT NGÔN TĂNG ĐỘ THỰC NGỮ (NA VATTABBAṂ SAṄGHO BHUÑJATĪTI KATHĀ)

    1718.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói Tăng độ uống nhai liếm đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có số người làm Yết ma, diễn giảng, nấu cháo và nấu nước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có người là yết ma, diễn giảng, nấu cháo và nấu nước vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tăng độ, uống nhai, liếm đặng.

    1719.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói Tăng độ uống nhai liếm đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài nói đoàn thể thực phẩm, đáo biệt thực phẩm, quá đa thực phẩm, bất đa thực phẩm sắp để phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài đặt để đoàn thể thực phẩm, đáo biệt thực phẩm, quá đa thực phẩm, bất đa thực phẩm chính do nhân đó mới nói rằng Tăng độ uống nhai liếm đặng.

    1720.

    • Tự ngôn: Không nên nói Tăng độ uống nhai liếm đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có chế tám thứ nước uống như là: nước trái xoài (ambapānaṃ), nước trái trâm (jambūpānaṃ), nước trái chuối có hột (cocapānaṃ), nước trái chuối không hột (mocapānaṃ), nước trái viết (madhupānaṃ), nước trái thị (muddikapānaṃ), nước củ sen (sālukapānaṃ), nước trái thanh trà (phārusakapanaṃ) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu Đức Thế Tôn Ngài có chế để tám thứ nước uống như là nước trái xoài, nước trái trâm, nước trái chuối có hột, nước trái chuối không hột, nước trái viết, nước trái thị, nước củ sen, nước trái thanh trà thì chính do nhân đó mới nói rằng Tăng độ nhai liếm đặng.

    1721.

    • Phản ngữ: Tăng độ nhai liếm đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đạo (magga) nhai liếm đặng phải chăng? Quả độ nhai liếm đặng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Bất ngôn Tăng độ thực ngữ

    ---

    BẤT NGÔN CÚNG TĂNG ĐA QUẢ NGỮ (NA VATTABBAṂ SAṄGHASSA DINNAṂ MAHAPPHALANTI KATHĀ)

    1722.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói bố thí cúng dường đến Tăng có quả phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tăng thành bực đáng cúng dường, thành bực đáng nghinh tiếp, thành bực đáng làm phước, thành bực đáng xá kỉnh, thành phước điền cao thượng của đời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tăng thành bực đáng cúng dường, thành bực đáng nghinh tiếp ... thành phước điền cao thượng của đời, chính do nhân đó mới có nói rằng bố thí cúng dường Tăng có quả nhiều.

    1723.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói bố thí cúng dường đến Tăng có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có nói bốn đôi trượng phu, tám người trượng phu thành bực đáng làm phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài nói bốn đôi trượng phu, tám người trượng phu là thành bực đáng làm phước, chính do nhân đó mới nói có nói rằng bố thí cúng dường đến Tăng có quả nhiều.

    1724.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói bố thí đến Tăng có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Gotami, người nên dưng đến Tăng, khi người dưng đến Tăng rồi sẽ đặng gọi là cúng dường Như Lai tức là cúng dường Tăng luôn”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cúng dường đến Tăng cũng có quả nhiều chớ gì.

    1725.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói cúng dường đến Tăng có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Đế Thích là chúa của Chư thiên cầu hỏi với Phật như vầy: “Tất cả nhân loại người sẽ cúng dường là người tìm phước khi sẽ làm phước phần đạt luân hồi, bố thí nơi đâu mới sẽ có quả nhiều? Đức Thế Tôn Ngài phán rằng: “Bực người đình trụ trong bốn quả và bực người đình trụ trong bốn đạo, đây gọi là Tăng thành người chơn chánh, gìn giữ Giới, Định, Tuệ. Tất cả nhân loại người sẽ cúng dường bực làm phước hầu sẽ làm phước phần đạt luân hồi bố thí đến Tăng đây mới sẽ có quả nhiều như vậy. Kỳ thật Tăng đây rộng rãi to tát không bờ mé cũng như biển cả, những Ngài ấy là bực rất đặc biệt thành đệ tử của Phật, thành anh hùng của dũng nhân, thành bực làm cho sáng suốt vẫn truyền bá pháp. Người nào bố thí hồi hướng Tăng, những người ấy gọi là đã bố thí tốt, đã cúng dường tốt, đã cúng tế tốt, bố thí mà đã quyết ngay trong Tăng đó có quả nhiều thì Đức Phật Ngài khen ngợi, những người nào nhớ đến cách cúng dường thế này thành bực có sự vui mừng dạo đi trong đời, hạn chế trần uế tức là sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, thành bực mà trí thức không chê trách vào đến cơ sở (ṭhāna) tức là Thiên đường”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó, bố thí cúng dường đến Tăng thời có quả nhiều chớ gì.

    Dứt Bất ngôn cúng Tăng đa quả ngữ

    ---

    BẤT NGÔN CÚNG PHẬT ĐA QUẢ NGỮ (NA VATTABBAṂ BUDDHASSA DINNAṂ MAHAPPHALANTI KATHĀ)

    1726.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói cúng dường đến Phật có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phật là chúa của nhân thiên, thành bực rất đặc biệt, thành trưởng, thành bực Chí Thượng, thành bực Chí Tôn của nhân thiên không ai so, không ai sánh, không ai bằng, không ai tương đương, không ai giống phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Phật là chúa của Nhân Thiên thành người rất đặc biệt, thành trưởng, thành bực Chí Thượng, thành bực Chí Tôn của Nhân Thiên không có ai so, không có ai sánh, không ai bằng, không ai tương đương, không ai giống. Chính do nhân đó mới có nói rằng cúng dường đến Phật có quả nhiều.

    1727.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói cúng dường đến Phật có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ai ai mà tương đương Đức Phật bằng Giới, bằng Định, bằng Tuệ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nếu mà ai ai đặng như Đức Phật bằng Giới, bằng Định, bằng Tuệ không có. Chính do nhân đó mới nói rằng cúng dường đến Phật có quả nhiều.

    1728.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói cúng dường đến Phật có quả nhiều phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Hoặc đời này hay đời khác không có người sẽ đặc biệt hơn, hoặc sẽ sánh kịp Phật người đã đến sự tột của bực đáng cúng dường với đám người cần dùng phước tìm tòi quả rộng lớn”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cúng dường đến Phật thời có quả nhiều chớ gì.

    Dứt Bất ngôn cúng Phật đa quả ngữ

    ---

    BỐ THÍ THANH TỊNH NGỮ (DAKKHIṆĀVISUDDHI KATHĀ)

    1729.

    • Tự ngôn: Bố thí trong sạch chỉ thuộc phần người cúng, không trong sạch đặng thuộc phần người thọ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có hạng người thọ mà thành bực đáng cúng dường, thành bực đáng nghinh tiếp, thành bực đáng làm phước, thành bực đáng chấp tay kỉnh xá, thành phước điền cao thượng của đời vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có bực thọ thí thành người đáng cúng dường, thành người đáng nghinh tiếp, thành người đáng làm phước, thành người đáng chấp tay kỉnh xá, thành phước điền cao thượng của đời vẫn có thời không nên nói bố thí trong sạch chỉ đặng nơi phía cúng, không đặng trong sạch nơi phía thọ.

    1730.

    • Tự ngôn: Bố thí trong sạch đặng chỉ nơi phía thí, không trong sạch đặng nơi phía thọ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài nói bốn cặp trượng phu, tám người trượng phu là thành bực đáng làm phước phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn nói bốn cặp trượng phu, tám người trượng phu là bực đáng làm phước thời không nên nói bố thí trong sạch chỉ đặng bên cúng, không đặng trong sạch bên thọ.

    1731.

    • Tự ngôn: Bố thí trong sạch chỉ đặng bên cúng, không trong sạch đặng về bên thọ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có hạng người cúng dường đến Sơ quả rồi thỏa thích phước vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cũng có hạng người cúng dường đến Dự Lưu rồi thỏa thích phước vẫn có thời không nên nói bố thí trong sạch chỉ đặng về phần cúng, không trong sạch đặng về phần thọ.
    • Tự ngôn: Cũng có hạng người cúng dường đến bực Nhứt Lai ... đến bực Bất Lai, đến bực La Hán rồi thỏa thích vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có hạng người cúng dường đến La Hán rồi thỏa thích phước vẫn có thời không nên nói bố thí trong sạch chỉ đặng phía thí, không trong sạch đặng theo phía thọ.

    1732.

    • Tự ngôn: Bố thí trong sạch chỉ đặng phía thọ, không trong sạch với phía thí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người khác thành kẻ làm cho người khác khổ, lạc, mà người khác làm cho một người làm, nhưng một người khác nửa hưởng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bố thí trong sạch đặng chỉ về phần thí, không trong sạch đặng về phần thọ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Ānanda, bố thí trong sạch cho bốn thứ. Bốn thứ ra sao? Bố thí mà trong sạch phía người thí, không trong sạch về phía người thọ vẫn có. Bố thí mà trong sạch về phía người thọ, nhưng không trong sạch về phía người thí vẫn có. Bố thí mà không trong sạch cả kẻ thí và người thọ vẫn có. Bố thí mà trong sạch cả kẻ thí luôn người thọ cũng có. Vậy bố thí mà trong sạch phần người thí, nhưng không trong sạch về phần người thọ ra sao? Người thí trong đời này là bực có giới, có pháp lương hảo (kālyāṇa) nhưng người thọ là bực phá giới có pháp tội; đây là bố thí trong sạch về phần người thí mà không trong sạch về phần người thọ. Còn bố thí trong sạch bên người thọ mà không trong sạch về phần người thí ra sao? như là người bố thí trong đời này là kẻ phá giới, có pháp tội nhưng bực thọ thí có giới và có pháp lương hảo (kālyāṇa), thế này là bố thí trong sạch bên người thọ nhưng không trong sạch phía người thí. Còn bố thí trong sạch cả người thí và người thọ ra sao? như người bố thí trong đời này là kẻ phá giới có pháp tội và bực thọ thí cũng là người phá giới có pháp tội; cách này gọi là bố thí không trong sạch cả kẻ thí luôn người thọ. Còn bố thí trong sạch cả kẻ thí luôn người thọ ra sao? Như người bố thí trong đời này là bực có giới, có pháp lương hảo (kālyāṇa) và người thọ thí cũng là bực có giới có pháp lương hảo; cách này là bố thí trong sạch cả bên bố thí luôn phần thọ thí. Này Ananda, bố thí có bốn cách như thế này vậy”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói bố thí trong sạch chỉ đặng về phần thí, không trong sạch đặng về phần thọ thí.

    Dứt Bố thí thanh tịnh ngữ

    Dứt phẩm thứ mười bảy

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.