Đại phẩm thứ Mười Bốn: Thiện, bất thiện liên kết ngữ, lục nhập sanh ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Bốn: Thiện, bất thiện liên kết ngữ, lục nhập sanh ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
     
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM MƯỜI BỐN

    ---

     

    THIỆN, BẤT THIỆN LIÊN KẾT NGỮ (KUSALĀKUSALAPAṬISANDAHANA KATHĀ)

    1550.

    • Tự ngôn: Thiện căn nối theo Bất thiện căn đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm khi nào phát sanh của bất thiện, sự nhớ tưởng ... chính sự cố tâm ấy để đặng phát sanh của thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Căn Thiện nối theo căn Bất thiện đặng nhưng không nên nói sự nhớ tưởng ... sự cố tâm chi để đặng phát sanh của bất thiện, sự nhớ tưởng ... sự cố tâm, chính cái đó để đặng sự phát sanh của thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện phát sanh cho người không nhớ tưởng ... không cố tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiện phát sanh cho người đang nhớ tưởng ... Người đang cố tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thiện phát sanh cho những người đang nhớ tưởng đang cố tâm thời không nên nói căn Thiện nối theo căn Bất thiện.

    1551.

    • Tự ngôn: Căn Thiện nối theo căn Bất thiện đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất thiện vẫn sanh ra cho người tác ý không khéo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện sanh ra với người tác ý không khéo (ayoniso manasikāra) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiện sanh ra cho người tác ý khéo (yoniso manasikāra) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thiện sanh ra cho người tác ý khéo thời không nên nói căn Thiện nối theo căn Bất thiện đặng như đây.

    1552.

    • Tự ngôn: Căn Thiện vẫn nối theo căn Bất thiện đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ly dục tưởng (Nekkhammasaññā) sanh đặng theo thứ lớp của dục tưởng (kāmasaññā), phi Sân độc tưởng phát sanh theo thứ lớp của Sân độc tưởng, bất hại tưởng phát sanh theo thứ lớp của độc hại tưởng, Từ phát sanh theo thứ lớp của Sân độc, Bi phát sanh theo thứ lớp của độc hại, Tùy hỷ phát sanh theo thứ lớp của ganh tỵ, Xả phát sanh theo thứ lớp của phẫn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1553.

    • Tự ngôn: Căn Bất thiện nối tiếp căn Thiện đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố tâm nào để làm cho sanh của thiện sự nhớ tưởng ... sự cố tâm ấy hầu để sanh ra cho căn Bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Căn Bất thiện nối căn Thiện đặng nhưng không nên nói sự nhớ tưởng ... sự cố tâm nào có thể phát sanh của thiện thì sự nhớ tưởng ... sự cố tâm ấy để đặng phát sanh của bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Căn Bất thiện sanh ra cho người không nhớ tưởng ... người không cố ý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bất thiện phát sanh cho người đang nhớ tưởng ... người đang cố ý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất thiện sanh ra cho người đang nhớ tưởng ... người đang cố ý thời không nên nói căn Bất thiện tiếp nối căn Thiện đặng.

    1554.

    • Tự ngôn: Căn Bất thiện tiếp nối căn Thiện đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiện sanh ra cho người tác ý khéo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bất thiện sanh ra cho người tác ý khéo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bất thiện sanh ra cho người tác ý không khéo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bất thiện sanh ra cho người tác ý không khéo thời không nên nói căn Bất thiện vẫn tiếp nối căn Thiện đặng như đây.

    1555.

    • Tự ngôn: Căn Bất thiện tiếp nối căn Thiện đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục tưởng sanh ra đặng theo thứ lớp của ly dục tưởng, Sân độc tưởng sanh ra đặng theo thứ lớp của vô Sân độc tưởng, độc hại tưởng sanh ra đặng theo thứ lớp của bất hại tưởng, Sân độc phát sanh đặng theo thứ lớp của Từ, độc hại phát sanh đặng theo thứ lớp của Bi, ganh tỵ phát sanh đặng theo thứ lớp của Tùy hỷ, phẫn phát sanh đặng theo thứ lớp của Xả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1556.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói căn Thiện nối tiếp căn Bất thiện đặng, căn Bất thiện nối tiếp căn Thiện đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Tâm vọng dục ngay vật chất đó cũng phải vọng dục ngay trong vật chất ấy. Phai lãng vọng dục ngay trong vật nào cũng vọng dục ngay trong vật ấy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà tâm vọng dục ngay trong vật nào cũng dời đổi vọng dục ngay trong vật ấy; dời đổi vọng dục ngay trong vật nào thời vọng dục ngay trong vật ấy. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng căn Thiện nối tiếp căn Bất thiện đặng, căn Bất thiện nối tiếp căn Thiện đặng.

    Dứt Thiện, bất thiện liên kết ngữ

    ---

    LỤC NHẬP SANH NGỮ (SAḶĀYATANUPPATTI KATHĀ)

    1557.

    • Tự ngôn: Lục nhập sanh trong thai mẹ không trước không sau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có thân thể lớn nhỏ đều đủ, có quyền mà không đều đồng vào trong thai mẹ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1558.

    • Tự ngôn: Nhãn nhập phát sanh đồng với cái tâm tìm kiếm tái tục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tay, chân, đầu, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, răng cũng sanh ra đồng đều với cái tâm tìm kiếm tái tục phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhĩ nhập ... Tỷ nhập ... Thiệt nhập sanh ra đồng với cái tâm tìm kiếm tái tục phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tay, chân, đầu, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, răng cũng lập thành đồng với cái tâm tìm kiếm tái tục phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1559.

    • Phản ngữ: Nhãn nhập phát sanh cho chúng sanh những người ở trong thai mẹ nơi phía sau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Chúng sanh người ở trong thai mẹ tạo nghiệp để đặng nhãn trong bụng mẹ phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nhĩ nhập ... Tỷ nhập ... Thiệt nhập sanh cho chúng sanh người ở trong thai mẹ nơi phía sau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Chúng sanh người ở trong thai mẹ đó tạo nghiệp để đặng lưỡi trong thai mẹ phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Tóc, lông, móng, răng, xương sanh cho chúng sanh người ở trong bụng mẹ nơi phía sau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Chúng sanh người ở trong bụng mẹ tạo nghiệp để đặng xương trong bụng mẹ phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    1560.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói tóc, lông, móng, răng, xương sanh cho chúng sanh người ở trong thai mẹ nơi phía sau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Chúng sanh người sanh trong thai mẹ sơ khởi thành tinh trùng, từ nơi tinh trùng trên thành như bọt, từ nơi những bọt biến thành cục thịt nhỏ, từ nơi cục thịt nhỏ biến thành cục thịt lớn, từ nơi cục thịt lớn phát hiện ra ngũ chi cho đến tóc, lông và trong thời gian bà mẹ ăn vật chi như là cơm nước và đồ ăn với cơm thời con trẻ ở trong thai mẹ đó lớn lên do vật thực mẹ ăn như là cơm nước và đồ ăn với cơm của bà mẹ đứa trẻ ăn. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó tóc, lông, móng, răng, xương cũng sanh cho chúng sanh nương ở trong thai mẹ nơi phía sau chớ gì.

    Dứt Lục nhập sanh ngữ

    ---

    VÔ GIÁN DUYÊN NGỮ (ANANTARAPACCAYAKATHĀ)

    1561.

    • Tự ngôn: Nhĩ thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố ý cái chi để đặng sanh ra của Nhãn thức, sự nhớ tưởng ... sự cố ý ấy để đặng phát sanh ra Nhĩ thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bởi Nhĩ thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Nhãn thức, thế đó mới không nên nói sự nhớ tưởng ... sự cố ý nào để đặng phát sanh ra Nhãn thức, sự nhớ tưởng ... sự cố ý để đặng phát sanh ra Nhĩ thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức phát sanh cho người đang không nhớ tưởng ... Người không cố ý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhĩ thức phát sanh cho người đang nhớ tưởng ... cho người đang cố ý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Nhĩ thức vẫn sanh ra cho người đang nhớ tưởng ... Người đang cố ý thời không nên nói rằng Nhĩ thức sanh đặng trong thứ lớp của Nhãn thức.

    1562.

    • Tự ngôn: Nhĩ thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn thức vẫn sanh cho người tác ý với ấn chứng là sắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức sanh cho người tác ý với ấn chứng là sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1563.

    • Tự ngôn: Nhãn thức chỉ có sắc làm cảnh, không có thứ khác làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức chỉ có sắc làm cảnh, không có thứ khác làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhãn thức phát sanh do nương nhãn và sắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức sanh ra do nương nhãn và sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhĩ thức sanh ra do nương nhãn và sắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng Nhĩ thức sanh ra do nương nhãn và sắc. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nói rằng Nhãn thức sanh ra do nương nhãn và sắc. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng Nhãn thức sanh ra do nương nhãn và sắc, như đây là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói rằng Nhĩ thức sanh ra do nương nhãn và sắc.
    • Tự ngôn: Nhĩ thức sanh đặng trong thứ lớp của Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn thức cái đó, Nhĩ thức cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1564.

    • Tự ngôn: Thiệt thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Nhĩ thức ... Thiệt thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Tỷ thức ...

    1565.

    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Thiệt thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự nhớ tưởng ... sự cố ý cái nào để đặng sanh ra của Thiệt thức, sự nhớ tưởng ... sự cố ý đó để đặng phát sanh cho Thân thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Do Thân thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Thiệt thức thế đó mới không nên nói sự nhớ tưởng ... sự cố ý cái nào để đặng sanh ra của Thiệt thức, sự nhớ tưởng ... sự cố ý đó để đặng sanh ra của Thân thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra cho người khi không nhớ tưởng ... người khi không cố ý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thân thức vẫn phát sanh cho người đang nhớ tưởng ... người đang cố ý phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thân thức vẫn phát sanh cho người bực đang nhớ tưởng ... bực đang cố ý thời không nên nói Thân thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Thiệt thức.

    1566.

    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Thiệt thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiệt thức vẫn sanh ra cho bực người tác ý với ấn chứng là vị phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra do bực người tác ý với ấn chứng là vị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiệt thức chỉ có vị làm cảnh, còn thứ khác làm cảnh không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân thức chỉ có vị làm cảnh, không có thứ khác làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thiệt thức sanh ra đặng do nhờ miếng ăn và vị phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra đặng do nương miếng ăn và vị phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra đặng do nương đồ ăn và vị phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng Thân thức sanh ra đặng do nương đồ ăn và vị. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nói rằng Thiệt thức sanh ra đặng do nương đồ ăn và vị. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng: “Thiệt thức sanh ra do nương đồ ăn và vị, như đây là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói Thân thức sanh ra do nương vật ăn và vị.
    • Tự ngôn: Thân thức sanh ra đặng trong thứ lớp của Thiệt thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thiệt thức cái đó, Thân thức cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1567.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng Ngũ thức sanh ra trong thứ lớp cùng nhau với nhau phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cũng có người múa hát đờn ca, thấy sắc luôn, nghe tiếng luôn, hửi hơi luôn, nếm vị luôn, đụng chạm xúc luôn vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà có người múa hát, nổi nhạc thấy sắc luôn, nghe tiếng luôn, hửi hơi luôn, nếm vị luôn, đụng chạm xúc luôn vẫn có, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Ngũ thức sanh ra trong thứ lớp cùng nhau vậy.

    Dứt Vô Gián duyên ngữ

    ---

    THÁNH SẮC NGỮ (ARIYARŪPA KATHĀ)   

    1568.

    • Tự ngôn: Thánh sắc nương Sắc tứ đại sung phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thánh sắc thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc tứ đại sung thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc tứ đại sung thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc Thánh thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc Thánh nương sắc Tứ đại sung phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc Thánh thành phi cảnh lậu (anāsava), thành phi cảnh triền (asaññojaniya), thành phi cảnh phược (anoganthanīya), thành phi cảnh bộc (anoghanīya), thành phi cảnh phối (ayoganīya), thành phi cảnh cái (anīvaranīya), thành phi cảnh khinh thị (aparāmaṭṭha), thành phi cảnh thủ (anupādāniya), thành phi cảnh phiền não (asaṅkilesika) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc tứ đại sung thành phi cảnh lậu ... thành phi cảnh phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc tứ đại sung thành cảnh lậu, thành cảnh triền ... thành cảnh phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc Thánh thành cảnh lậu, thành cảnh triền ... thành cảnh phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1569.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói sắc Thánh nương sắc Tứ đại sung phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, sắc mỗi thứ nào như là sắc Tứ đại sung và sắc mà nương Tứ đại sung”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó sắc Thánh cũng nương sắc Tứ đại sung chớ gì.

    Dứt Sắc Thánh ngữ

    ---

    BẤT ĐỒNG TÙY MIÊN NGỮ (AÑÑO ANUSAYOTI KATHĀ)

    1570.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên là một thứ, Dục ái già cái (Kāmarāgapariyuṭṭhāna) cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái là một thứ, Dục ái già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái cái đó, Dục ái già cái cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên cái đó, Dục ái già cái cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1571.

    • Tự ngôn: Phẫn tùy miên là một thứ, Phẫn già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phẫn là một thứ, Phẫn già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phẫn là cái đó, Phẫn già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phẫn tùy miên là cái đó, Phẫn già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1572.

    • Tự ngôn: Ngã mạn tùy miên là một thứ, Ngã mạn già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngã mạn là một thứ, Ngã mạn già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ngã mạn là cái đó, Ngã mạn già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngã mạn tùy miên là cái đó, Ngã mạn già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1573.

    • Tự ngôn: Tà kiến tùy miên là một thứ, Tà kiến già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến là một thứ, Tà kiến già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tà kiến là cái đó, Tà kiến già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến tùy miên là cái đó, Tà kiến già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1574.

    • Tự ngôn: Hoài nghi tùy miên là một thứ, Hoài nghi già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hoài nghi là một thứ, Hoài nghi già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hoài nghi là cái đó, Hoài nghi già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hoài nghi tùy miên là cái đó, Hoài nghi già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1575.

    • Tự ngôn: Hữu ái tùy miên là một thứ, hữu Ái già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: hữu Ái là một thứ, hữu Ái già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: hữu Ái là cái đó, hữu Ái già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hữu ái tùy miên là cái đó, hữu Ái già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1576.

    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên là một thứ, Vô minh già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh là một thứ, Vô minh già cái cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh là cái đó, Vô minh già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên là cái đó, Vô minh già cái cũng là cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1577.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói tùy miên là một thứ, già cái cũng là một thứ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu trong khi tâm thành thiện hoặc vô ký đang hành động có thể nói rằng người ấy có tùy miên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Có thể nói người ấy có tâm do già cái trùm che phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tùy miên cũng một thứ, già cái cũng là một thứ chớ gì.
    • Tự ngôn: Phàm phu trong khi tâm thành thiện hoặc vô ký đang hành vi có thể nói rằng người ấy có ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nên nói có tâm mà già cái trùm che phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó ái cũng một thứ, già cái cũng một thứ chớ gì.

    Dứt Bất đồng tùy miên ngữ

    ---

    GIÀ CÁI BẤT TƯƠNG ƯNG TÂM NGỮ (PARIYUṬṬHĀNA CITTAVIPPAYUTTANTI KATHĀ)

    1578.

    • Tự ngôn: già cái (Pariyuṭṭhāna) bất tương ưng tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: già cái bất tương ưng tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm có Ái, tâm có Sân, tâm có Si ... Tâm thành bất thiện, tâm phiền toái không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tâm hữu Ái, tâm hữu Sân, tâm hữu Si ... Tâm thành bất thiện, tâm phiền toái vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà tâm có Ái, tâm có Sân, tâm có Si ... Tâm thành bất thiện, tâm phiền toái vẫn có thời không nên nói già cái bất tương ưng tâm như đây.

    Dứt già cái bất tương ưng tâm ngữ

    ---

    LIÊN QUAN LUÂN HỒI NGỮ (PARIYĀPANNA KATHĀ)

    1579.

    • Tự ngôn: Sắc ái vẫn ngủ ngầm trong Sắc giới, liên quan trong Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc ái thành pháp tìm tòi tài sản, thành pháp tìm tòi đi sanh, thành pháp cơ quan trụ lạc trong hiện đời (diṭṭhadhamma) đồng đáo, sanh chung, điều hòa, tương ưng, đồng sanh, đồng diệt, đồng cảnh, đồng căn với tâm, tìm tòi tài sản với tâm, tìm tòi đi sanh với tâm, thành cơ quan trụ lạc kiến pháp (diṭṭhadhamma) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái không thành pháp tìm tòi tài sản, không thành pháp tìm tòi đi sanh, không thành pháp cơ quan trụ lạc trong hiện đời, sẽ đồng đáo, sanh chung, điều hòa, tương ưng, đồng sanh, đồng diệt, đồng vật, đồng cảnh với cái tâm phi tìm tòi tài sản, với cái tâm phi tìm tòi đi sanh, với cái tâm phi cơ quan trụ lạc trong hiện đời phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Dục ái không thành pháp tìm tòi tài sản, không thành pháp tìm tòi đi sanh, không thành pháp cơ quan trụ lạc trong hiện đời ... sẽ đồng cảnh ... với tâm Phi cơ quan trụ lạc hiện đời thời không nên nói Sắc ái vẫn ngủ ngầm trong Sắc giới, liên quan trong Sắc giới.

    1580.

    • Tự ngôn: Sắc ái ngủ ngầm trong Sắc giới, liên quan trong Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh ái ngủ ngầm trong Thinh giới, liên quan trong Thinh giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc ái ngủ ngầm trong Sắc giới, liên quan trong Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khí ái ... Vị ái ... Xúc ái ngủ ngầm trong Xúc giới, liên quan trong Xúc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1581.

    • Tự ngôn: Thinh ái ngủ ngầm trong Thinh giới, nhưng không nên nói liên quan trong Thinh giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc ái ngủ ngầm trong Sắc giới, nhưng không nên nói liên quan trong Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khí ái ... Vị ái ... Xúc ái ngủ ngầm trong Xúc giới, nhưng không nên nói liên quan trong Xúc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sắc ái ngủ ngầm trong Sắc giới, nhưng không nên nói liên quan trong Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1582.

    • Tự ngôn: Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới, liên quan trong Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô sắc ái thành pháp tìm tòi tài sản, thành pháp tìm tòi đi sanh, thành pháp cơ quan trụ lạc hiện đời, đồng đáo, sanh chung, điều hòa, tương ưng, đồng sanh, đồng diệt, đồng vật, đồng cảnh với cái tâm tìm tòi tài sản, với cái tâm tìm tòi đi sanh, với cái tâm thành cơ quan trụ lạc trong hiện thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô sắc ái sẽ thành pháp tìm tòi tài sản, sẽ thành pháp tìm tòi đi sanh, sẽ thành pháp cơ quan trụ lạc trong hiện đời ... sẽ đồng cảnh ... với tâm thành cơ quan trụ lạc hiện đời cũng chẳng phải đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Sắc ái không thành pháp tìm tòi tài sản, không thành pháp tìm tòi đi sanh ... phi đồng cảnh ... chẳng phải với tâm thành cơ quan trụ pháp lạc trong hiện đời thời không nên nói Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới, liên quan trong Vô sắc giới.

    1583.

    • Tự ngôn: Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới, liên quan trong Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh ái ngủ ngầm trong Thinh giới, liên quan trong Thinh giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới, liên quan trong Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khí ái ... Vị ái ... Xúc ái ngủ ngầm trong Xúc giới, liên quan trong Xúc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1584.

    • Tự ngôn: Thinh ái ngủ ngầm trong Thinh giới, nhưng không nên nói liên quan trong Thinh giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới nhưng không nên nói liên quan trong Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khí ái ... Vị ái ... Xúc ái ngủ ngầm trong Xúc giới nhưng không nên nói liên quan trong Xúc giới phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới nhưng không nên nói liên quan trong Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1585.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Sắc ái ngủ ngầm trong Sắc giới, liên quan trong Sắc giới; Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới liên quan trong Vô sắc giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Dục ái ngủ ngầm trong Dục giới, liên quan trong Dục giới phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Dục ái ngủ ngầm trong Dục giới, liên quan trong Dục giới, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Sắc ái ngủ ngầm trong Sắc giới, liên quan trong Sắc giới; Vô sắc ái ngủ ngầm trong Vô sắc giới liên quan trong Vô sắc giới.

    Dứt Liên quan luân hồi ngữ

    ---

    VÔ KÝ NGỮ (ABYĀKATA KATHĀ)

    1586.

    • Tự ngôn: Tà kiến là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành vô ký, thành vô ký tố, thành sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tà kiến là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc mà tương ưng với Tà kiến thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tà kiến thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Tư ... Tâm mà tương ưng với Tà kiến thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1587.

    • Tự ngôn: Xúc mà tương ưng với Tà kiến thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng, Tư, Tâm mà tương ưng với Tà kiến thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1588.

    • Tự ngôn: Tà kiến thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến không có quả, không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tà kiến có quả, có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tà kiến có quả, có dị thục quả thời không nên nói Tà kiến là vô ký.

    1589.

    • Tự ngôn: Tà kiến là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả lỗi, Đức Thế Tôn Ngài phán là có Tà kiến thành thứ rất hơn hết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà tất cả lỗi, Đức Thế Tôn Ngài nói có Tà kiến rất hơn hết, thời không nên nói Tà kiến là vô ký.

    1590.

    • Tự ngôn: Tà kiến là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Vaccha, chính Tà kiến là bất thiện, Chánh kiến là thiện”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói Tà kiến là vô ký.

    1591.

    • Tự ngôn: Tà kiến là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Punna, ta nói thú hướng (gati) của bực người thành Tà kiến chỉ một thứ nào trong hai thứ là địa ngục hoặc bàng sanh”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói Tà kiến là vô ký như đây.

    1592.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Tà kiến là vô ký phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Vaccha, nói rằng đời này bên đây, ta không đặng dự ngôn, nói rằng đời này tiêu mất đây ta cũng không đặng dự ngôn, nói rằng đời này có chỗ tột nói rằng đời này không có chỗ tột, nói rằng linh hồn cái đó khác mạng sống cũng cái đó, nói rằng linh hồn khác mạng sống khác, nói rằng chúng sanh sau khi chết vẫn còn, nói rằng chúng sanh sau khi chết không còn, nói rằng chúng sanh sau khi chết còn cũng có, không còn cũng có, nói rằng chúng sanh sau khi chết còn cũng không phải, không còn cũng không phải, như đây Ta cũng không đặng dự ngôn”. Thế này là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó Tà kiến cũng là vô ký chớ gì.

    1593.

    • Tự ngôn: Tà kiến là vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, hoặc thân nghiệp nào mà thành Tà kiến nguyện vọng cho đầy đủ theo Tà kiến ... hoặc khẩu nghiệp nào ... hoặc ý nghiệp nào ... mà người Tà kiến nguyện vọng cho đầy đủ theo Tà kiến, hoặc Tư (cetanā) nào, hoặc hy vọng nào, hoặc sự quyết tâm nào, hoặc những hành (Saṅkhāra) nào của người Tà kiến, tất cả những pháp ấy vẫn hành vi đều để quả mà không đáng mong mỏi, không đáng ưa, không đáng thích ý, hầu để đồ mà không thành liên quan lợi ích để đặng khổ”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói Tà kiến là vô ký chớ gì.

    Dứt Vô ký ngữ

    ---

    BẤT LIÊN QUAN LUÂN HỒI NGỮ (APARIYĀPANNA KATHĀ)

    1594.

    • Tự ngôn: Tà kiến thành bất liên quan luân hồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Dự Lưu, thành quả Dự Lưu, thành đạo Nhứt Lai, thành quả Nhứt Lai, thành đạo Bất Lai, thành quả Bất Lai, thành đạo La Hán, thành quả La Hán, thành Niệm xứ, thành Chánh cần, thành Như ý túc, thành Quyền, thành Lực, thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1595.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Tà kiến là bất liên quan luân hồi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu có thể nói rằng người xa lìa vọng dục trong tất cả dục phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nên nói rằng người xa lìa Tà kiến phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó Tà kiến thành bất liên quan luân hồi chớ gì.

    Dứt Bất liên quan luân hồi ngữ 

    Hết Phẩm mười bốn

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.