Đại phẩm thứ Mười Chín: Trừ phiền não ngữ, tiêu diệt ngữ, phổ thông quả ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Chín: Trừ phiền não ngữ, tiêu diệt ngữ, phổ thông quả ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP
    (ABHIDHAMMAPIAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt

    Năm 1976

    PHẨM MƯỜI CHÍN

    ---

    TRỪ PHIỀN NÃO NGỮ (KILESAJAHANA KATHA)

    1771.

    • Tự ngôn: Người trừ phiền não nơi thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Còn làm cho pháp diệt rồi diệt mất đi, làm cho pháp lìa rồi lìa mất đi, làm cho pháp hết rồi hết đi, còn làm cho pháp rơi rồi rơi mất đi, còn làm cho pháp rơi khuất rồi rơi khuất mất đi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người trừ phiền não quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quá khứ đã diệt rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà quá khứ đã diệt thời không nên nói người trừ phiền não quá khứ.
    • Tự ngôn: Trừ phiền não nơi quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quá khứ vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà quá khứ vẫn không có thời không nên nói người trừ phiền não quá khứ.

    1772.

    • Tự ngôn: Người trừ phiền não vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có thể làm cho pháp chưa sanh không cho sanh, còn làm cho pháp chưa sanh đầy đủ không đặng sanh đầy đủ, còn làm cho pháp chưa sanh không cho sanh, còn làm cho pháp không hiện không cho hiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người trừ phiền não vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp mà thành vị lai chưa sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp vị lai chưa sanh thời không nên nói người trừ phiền não vị lai.
    • Tự ngôn: Người trừ phiền não vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị lai vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà vị lai không có thời không nên nói người trừ phiền não vị lai.

    1773.

    • Tự ngôn: Người trừ phiền não hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người thành bực vọng dục rồi trừ Ái, thành người Sân độc ác rồi trừ Sân, thành người si rồi trừ Si, thành người phiền toái rồi trừ phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người trừ ái bằng ái, trừ sân bằng sân, trừ si bằng si, trừ phiền não bằng phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái tương ưng với tâm, đạo cũng tương ưng với tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hội hiệp của nhị xúc ... của nhị tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ái thành bất thiện, đạo thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp thiện và pháp bất thiện, pháp có lỗi và pháp không có lỗi, pháp thô thiển và pháp tinh vi, pháp đen và trắng, thành đối lập nhau đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp thành thiện và pháp thành bất thiện ... pháp đen và pháp trắng mà thành cừu địch nhau đến gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nền tảng bốn cách này xa nhau rất xa nhau. Bốn cách ra sao? Trời và đất, đây là cách thứ nhứt mà xa nhau rất xa nhau ... bởi thế đó pháp của hiền triết mới xa lìa pháp phi hiền triết”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói pháp thiện và pháp bất thiện ... đến gặp nhau chớ gì.

    1774.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói người trừ phiền não nơi quá khứ, trừ phiền não nơi vị lai, trừ phiền não nơi hiện tại phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người mà trừ phiền não đặng không có phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó người cũng trừ phiền não quá khứ, trừ phiền não vị lai, trừ phiền não hiện tại chớ gì.

    Dứt Trừ phiền não ngữ

    ---

    TIÊU DIỆT NGỮ (SUÑÑATA KATHA)

    1775.

    • Tự ngôn: Sự trống (suññatā) liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp Vô chứng (Animitta) cũng liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự trống liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp Vô chứng cũng liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp Vô chứng không nên nói liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trống cũng không nên nói liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp Vô chứng (Animitta) không nên nói liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trống không (suññatā) cũng không nên nói liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự trống không liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn Phi pháp vô thường, Phi pháp hữu vi, Phi pháp y tương sinh (paṭiccasamuppāda), Phi pháp cùng tận (khayadhamma), Phi pháp suy đồi (vaya-dhamma), Phi pháp ly ái (virāga), Phi pháp diệt (nirodha), Phi pháp biến đổi (vipariṇāma) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn thành pháp vô thường, thành pháp hữu vi, thành pháp y tương sinh, thành pháp cùng tận, thành pháp suy đồi, thành pháp ly ái, thành pháp diệt, thành pháp biến đổi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Hành uẩn vô thường ... có sự đổi thay thời không nên nói sự trống liên quan trong Hành uẩn.

    1776.

    • Tự ngôn: Sự trống của Sắc uẩn liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trống của Hành uẩn liên quan trong Sắc uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự trống của Thọ uẩn ... sự trống của Tưởng uẩn ... sự trống của Thức uẩn liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trống của Hành uẩn liên quan trong Thức uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1777.

    • Tự ngôn: Sự trống của Hành uẩn không nên nói liên quan trong Sắc uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trống của Sắc uẩn không nên nói liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự trống của Hành uẩn không nên nói liên quan trong Thọ uẩn ... liên quan trong Tưởng uẩn ... liên quan trong Thức uẩn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trống của Thức uẩn không nên nói liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1778.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói sự trống liên quan trong Hành uẩn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Hành đây trống (suññata) tự lìa hoặc lìa cái ngã (atta)”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì sự Trống (suññatā) cũng liên quan trong Hành uẩn chớ gì.

    Dứt Tiêu diệt ngữ

    ---

    PHỔ THÔNG QUẢ NGỮ  (SĀMAÑÑA PHALA KATHĀ)

    1779.

    • Tự ngôn: Phổ Thông Quả là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn, thành chỗ chống cự (tānaṃ), thành chỗ tàn nặc (che dấu) (lenaṃ), thành sở y (saraṇaṃ), thành trình tự (parāyana), thành cơ sở (ṭhāna), mà không uyển chuyển (accuta), thành bất tử (amata) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả thông thường thành vô vi, Níp-bàn cũng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chỗ chống cự (tāṇaṃ) thành hai thứ ... chỗ tàn nặc (ḷenam) cũng thành hai thứ, sở y (saraṇaṃ) cũng thành hai thứ, trình tự (parāyana) cũng thành hai thứ, bất tử (amata) cũng thành hai thứ, Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1780.

    • Tự ngôn: Quả Phổ Thông thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phổ Thông thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phổ Thông thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Phổ Thông thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo Dự Lưu thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo Dự Lưu thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả Nhứt Lai ... Quả Bất Lai ... Quả La Hán thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo La Hán thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo La Hán thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quả La Hán thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả Dự Lưu thành vô vi, Quả Nhứt Lai ... Quả Bất Lai ... Quả La Hán thành vô vi, Níp-bàn thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chỗ chống cự thành năm thứ, nơi tàn nặc cũng thành năm thứ, sở y cũng thành năm thứ, trình tự cũng thành năm thứ, cơ sở mà không uyển chuyển cũng thành năm thứ, bất tử cũng thành năm thứ, Níp-bàn cũng thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Quả Phổ Thông ngữ

    ---

    ÂN ĐỨC NGỮ (PATTIKATHA)

    1781.

    • Tự ngôn: Cách đặng (patti) thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn, thành chỗ chống cự, thành chỗ tàn nặc, thành sở y, thành trình tự, thành cơ sở mà bất di động, thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng thành vô vi, Níp-bàn cũng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chỗ để kháng (chống cự) thành hai thứ, chỗ tàn nặc (che dấu) cũng thành hai thứ, sở y cũng thành hai thứ, nơi trình tự cũng thành hai thứ, cơ sở bất di động cũng thành hai thứ, bất tử cũng thành hai thứ, Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1782.

    • Tự ngôn: Cách đặng y (cīvara) thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn ... thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng y thành vô vi, Níp-bàn cũng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nơi để kháng (chống cự) thành hai thứ, nơi tàn nặc cũng thành hai thứ, sở y cũng thành hai thứ, nơi trình tự cũng thành hai thứ, cơ sở mà bất di động cũng thành hai thứ, bất tử cũng thành hai thứ, Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng bát ... tọa cụ, y dược, vật dụng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn ... thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng y dược, vật dụng thành vô vi, Níp-bàn cũng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nơi để kháng (chống cự) thành hai thứ ... Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng y thành vô vi, cách đặng bát ... tọa cụ, cách đặng y dược vật dụng cũng thành vô vi, Níp-bàn cũng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chỗ để kháng (chống cự) thành năm thứ ... Níp-bàn cũng thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1783.

    • Tự ngôn: Cách đặng Sơ thiền thành vô vi phải chăng? (nên phân rộng như mỗi thứ), cách đặng Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, thiền Không vô biên xứ, thiền Thức vô biên xứ, thiền Vô sở hữu xứ, thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ ... Sơ đạo Sơ quả, Nhị đạo Nhị quả, Tam đạo Tam quả, La Hán đạo La Hán quả thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn ... thành cơ sở bất di động, thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng quả La Hán thành vô vi, Níp-bàn cũng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nơi để kháng (chống cự) thành hai thứ ... Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cách đặng Sơ đạo thành vô vi, cách đặng Sơ quả thành vô vi ... cách đặng La Hán đạo thành vô vi, cách đặng La Hán quả thành vô vi, Níp-bàn thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành chín thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành chín thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nơi để kháng thành chín thứ ... Níp-bàn cũng thành chín thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1784.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói cách đặng thành vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Cách đặng thành Sắc, thành Thọ, thành Tưởng, thành Hành, thành Thức phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó cách đặng thành vô vi chớ gì.

    Dứt Ân đức ngữ

    ---

    CHÂN NGỮ (TATHATA KATHA)

    1785.

    • Tự ngôn: Sự thành thứ đó (tathatā) của tất cả pháp là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn ... thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thành thứ đó (tathatā) của tất cả pháp là vô vi, Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nơi để kháng (chống cự) thành hai thứ ... Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1786.

    • Tự ngôn: Sắc có sự thành Sắc, sự thành Sắc cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn ... thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc có sự thành Sắc, sự thành Sắc cũng là vô vi, Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở để kháng (Tāṇaṃ) thành hai thứ ... Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thọ có sự thành (tathatā) Thọ, sự thành Thọ ... Tưởng có sự thành Tưởng, sự thành Tưởng ... Hành có sự thành Hành, sự thành Hành ... Thức có sự thành Thức, sự thành thức là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn ... thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc có sự thành Sắc, sự thành Sắc là vô vi ... Thức có sự thành Thức, sự thành Thức là vô vi ... Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành sáu thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành sáu thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chỗ để kháng thành sáu thứ ... Níp-bàn cũng thành 6 thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1787.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói sự thành thứ đó (tathatā) của tất cả pháp là vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Sự thành thứ đó (tathatā) của tất cả pháp thành Sắc, thành Thọ, thành Tưởng, thành Hành, thành Thức phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó sự thành thứ ấy (tathatā) của tất cả pháp cũng là vô vi chớ gì.

    Dứt Chân ngữ

    THIỆN NGỮ (KUSALA KATHA)

    1788.

    • Tự ngôn: Níp-bàn giới (Nibbānadhātu) thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Níp-bàn giới thành pháp biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Níp-bàn ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Níp-bàn thành pháp không biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Níp-bàn ấy không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Níp-bàn giới thành pháp không biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Níp-bàn giới đó không có thời không nên nói Níp-bàn giới là thiện.

    1789.

    • Tự ngôn: Vô tham là thiện thành pháp biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Vô tham ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Níp-bàn giới thành thiện, thành pháp biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Níp-bàn giới ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô sân thành thiện ... Vô si thành thiện ... Tín, Cần, Niệm, Định ... Tuệ thành thiện, thành pháp biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Tuệ ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Níp-bàn giới thành thiện, thành pháp biết cảnh, sự nhớ tưởng, sự cố tâm của Níp-bàn giới ấy vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1790.

    • Tự ngôn: Níp-bàn giới thành thiện, thành pháp không biết cảnh, sự nhớ tưởng, sự cố tâm của Níp-bàn giới ấy không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô tham thành thiện nhưng thành pháp không biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự cố tâm của Vô tham ấy không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Níp-bàn giới thành thiện nhưng thành pháp biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Níp-bàn giới ấy không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô sân thành thiện ... Vô si thành thiện ... Tín, Cần, Niệm, Định … Tuệ thành thiện nhưng thành pháp không biết cảnh, sự nhớ tưởng ... sự quyết tâm của Tuệ ấy không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1791.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng Níp-bàn giới thành thiện phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Níp-bàn giới thành pháp không lỗi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Níp-bàn giới thành pháp không lỗi, chính do nhân đó mới có nói rằng Níp-bàn giới thành thiện.

    Dứt Thiện ngữ

    ---

    CỰC THẬM CỐ NHIÊN NGỮ (ACCANTA NIYAMA KATHA)

    1792.

    • Tự ngôn: Phàm phu chỉ có lỗi nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người sát mẫu thành người chỉ có lỗi nhứt định, người sát phụ ... Người sát La Hán ... Người chích Phật thân huyết ... Người phá hòa hợp Tăng thành người chỉ thuộc về nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phàm phu chỉ có lỗi nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hoài nghi đáng sanh cho người chỉ có lỗi nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Hoài nghi phải sanh cho người chỉ có lỗi nhứt định thời không nên nói phàm phu chỉ có lỗi nhứt định.

    1793.

    • Tự ngôn: Hoài nghi không phải sanh cho người chỉ có lỗi nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trừ Hoài nghi đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ Hoài nghi đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trừ đặng do đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ đặng do đạo Nhứt Lai ... trừ đặng do đạo Bất Lai ... trừ đặng do đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ đặng do đạo nào? Phản ngữ: Bằng đạo phía bất thiện.
    • Tự ngôn: Đạo phía bất thiện thành pháp dẫn ra cho đến sự hết khổ, cho đến sự đắc chứng, cho đến Níp-bàn không thành cảnh của lậu ... không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo phía bất thiện không thành pháp dẫn ra ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà đạo phía bất thiện không thành pháp dẫn ra ... thành cảnh của phiền não thời không nên nói Hoài nghi mà bực người nhứt định theo một lối trừ đặng bằng đạo phía bất thiện.

    1794.

    • Tự ngôn: Đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi) phải sanh cho người nhứt định bằng thường kiến (sassasadiṭṭhi) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà đoạn kiến phải sanh cho bực người nhứt định bằng thường kiến thời không nên nói phàm phu chỉ có nhứt định theo một lối.

    1795.

    • Tự ngôn: Đoạn kiến không phải sanh cho những người nhứt định bằng thường kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trừ đoạn kiến đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ đoạn kiến đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trừ đặng bằng đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ đặng bằng đạo Nhứt Lai ... bằng đạo Bất Lai ... bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ đặng bằng đạo nào? Phản ngữ: Trừ đặng bằng đạo phía bất thiện.
    • Tự ngôn: Đạo phía bất thiện ... cũng không nên nói đoạn kiến mà người nhứt định với thường kiến trừ đặng bằng đạo phía bất thiện.

    1796.

    • Tự ngôn: Thường kiến phải sanh cho những người nhứt định bằng đoạn kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thường kiến phải sanh cho bực người nhứt định với đoạn kiến thời không nên nói phàm phu chỉ có về phần lối nhứt định.

    1797.

    • Tự ngôn: Thường kiến không phải sanh cho những người nhứt định với đoạn kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thường kiến không phải sanh cho những người nhứt định với đoạn kiến phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ thường kiến đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trừ đặng bằng đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trừ đặng bằng đạo Nhứt Lai ... bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bằng đạo nào? Phản ngữ: Bằng đạo phía bất thiện.
    • Tự ngôn: Bằng đạo phía bất thiện ... thời không nên nói thường kiến mà những người nhứt định với đoạn kiến trừ đặng bằng đạo phía bất thiện.

    1798.

    • Phản ngữ: Không nên nói phàm phu có sự nhứt định bằng một phía phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, có người trong đời này là kẻ hiệp với pháp phe bất thiện, chỉ thành pháp theo phía đen, người ấy thành bực đã trầm miếng một lần thời cũng vẫn tự chìm đó”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó phàm phu cũng có sự nhứt định theo một phía chớ gì.

    1799.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, có người trong đời này là kẻ hiệp với pháp phe bất thiện, chỉ thành pháp theo phía đen, người ấy thành bực đã trầm miếng một lần thời cũng vẫn tự chìm đó, do giải như vầy và theo nhân ấy Ngài mới xác định rằng phàm phu có sự nhứt định chỉ theo một phía ư”. Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, có người trong đời này đã trồi lên hụp xuống”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người trồi lên rồi trở hụp xuống mỗi lần phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1800.

    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, có người trong đời này thành kẻ hiệp với phần pháp bất thiện, chỉ theo phía đen, người ấy đã thành kẻ đã chìm một lần thời vẫn tự chìm. Do phân giải như đây và theo nhân đó Ngài mới xác định rằng phàm phu có sự nhứt định chỉ theo một phần phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, có người trong đời này đã trồi lên kềm vững thân, đã trồi lên thấy rõ xoay coi, lội qua, đã trồi lên đi đến nơi chỗ đặng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người đã trồi lên mỗi lần đi đến nơi chỗ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Cực thậm cố nhiên ngữ

    ---

    QUYỀN NGỮ (INDRIYA KATHA)

    1801.

    • Tự ngôn: Tín quyền mà thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức tin thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cần quyền, Tín quyền ... Định quyền ... Tuệ quyền mà thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ mà thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1802.

    • Tự ngôn: Đức tin có thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tín quyền có thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cần ... Niệm ... Định ... Tuệ có thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ quyền có thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    1.  
    • Tự ngôn: Ý mà thành hiệp thế vẫn có, Ý quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức tin mà thành hiệp thế vẫn có, Tín quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ý mà thành hiệp thế vẫn có, Ý quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ mà thành hiệp thế vẫn có, Tuệ quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1804.

    • Tự ngôn: Hỷ mà thành hiệp thế vẫn có, Hỷ quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có ... Mạng mà thành hiệp thế vẫn có, Mạng quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức tin mà thành hiệp thế vẫn có, Tín quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Mạng mà thành hiệp thế vẫn có, Mạng quyền mà thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ thành hiệp thế vẫn có, Tuệ quyền thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1805.

    • Tự ngôn: Đức tin thành hiệp thế vẫn có, nhưng Tín quyền mà thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ý thành hiệp thế vẫn có, nhưng Ý quyền mà thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ thành hiệp thế vẫn có, nhưng Tuệ quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ý thành hiệp thế vẫn có, nhưng Ý quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức tin thành hiệp thế vẫn có, nhưng Tín quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hỷ thành hiệp thế vẫn có, nhưng Hỷ quyền thành hiệp thế không có phải chăng? ... Mạng thành hiệp thế vẫn có, nhưng Mạng quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ thành hiệp thế vẫn có, nhưng Tuệ quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mạng thành hiệp thế vẫn có, nhưng Mạng quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1806.

    • Tự ngôn: Đức tin thành siêu thế vẫn có, Tín quyền thành siêu thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức tin thành hiệp thế vẫn có, Tín quyền thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cần thành siêu thế vẫn có ... Tuệ thành siêu thế vẫn có Tuệ quyền thành siêu thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ thành hiệp thế vẫn có, Tuệ quyền thành hiệp thế cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1807.

    • Tự ngôn: Đức tin thành hiệp thế vẫn có, nhưng Tín quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức tin thành siêu thế vẫn có, nhưng Tín quyền thành siêu thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Cần thành hiệp thế vẫn có ... Tuệ thành hiệp thế vẫn có nhưng Tuệ quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ thành siêu thế vẫn có, nhưng Tuệ quyền thành siêu thế không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1808.

    • Tự ngôn: Ngũ quyền thành hiệp thế không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Như Lai khi quan sát trong đời bằng Phật nhãn, chính đã đặng thấy nơi tất cả chúng sanh cũng có hạng người ít bụi trần trong nhãn, cũng có hạng người nhiều bụi trần trong nhãn, cũng có hạng người quyền đã già, cũng có hạng người quyền còn non, cũng có hạng người thái độ tốt, cũng có hạng người thái độ xấu, cũng có hạng người sẽ để cho tỏ ngộ, cũng có hạng người sẽ khó cho tỏ ngộ đặng, cũng có hạng người thấy lỗi và thấy nạn trong đời sau”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó Ngũ quyền thành hiệp thế cũng có chớ gì.

    Dứt Quyền ngữ

    Dứt Phẩm thứ mười chín

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.