Đại phẩm thứ Mười Hai: Thu thúc nghiệp ngữ, nghiệp ngữ, thinh dị thục quả ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Hai: Thu thúc nghiệp ngữ, nghiệp ngữ, thinh dị thục quả ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
     
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG - (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM MƯỜI HAI

    ---

     

    THU THÚC NGHIỆP NGỮ (SAṂVARO KAMMANTI KATHĀ) 

    1476.

    • Tự ngôn: Sự thu thúc thành nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc trong Nhãn quyền thành nhãn nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thu thúc trong Nhĩ quyền ... sự thu thúc trong Tỷ quyền ... sự thu thúc trong Thiệt quyền ... sự thu thúc trong Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thu thúc trong Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc trong Nhãn quyền thành nhãn nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Nhĩ quyền ... sự thu thúc Tỷ quyền ... sự thu thúc Thiệt quyền thành thiệt nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Ý quyền thành ý nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Ý quyền thành ý nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Nhãn quyền thành nhãn nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Ý quyền thành ý nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự thu thúc Nhĩ quyền ... sự thu thúc Tỷ quyền ... sự thu thúc Thiệt quyền ... sự thu thúc Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1477.

    • Tự ngôn: Sự không thu thúc thành nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Nhãn quyền thành nhãn nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Nhĩ quyền ... sự không thu thúc Tỷ quyền ... sự không thu thúc Thiệt quyền ... sự không thu thúc Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Nhãn quyền thành nhãn nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Nhĩ quyền ... sự không thu thúc Tỷ quyền ... sự không thu thúc Thiệt quyền thành thiệt nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Ý quyền thành ý nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Ý quyền thành ý nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Nhãn quyền thành nhãn nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Ý quyền thành ý nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không thu thúc Nhĩ quyền ... sự không thu thúc Tỷ quyền, sự không thu thúc Thiệt quyền ... sự không thu thúc Thân quyền thành thân nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1478.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng sự thu thúc hoặc không thu thúc đều thành nghiệp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng “Này chư Phíc-khú, Phíc-khú trong pháp luật này đã thấy sắc bằng nhãn thành người chấp tướng ... hay không thành người chấp tướng ... đã nghe tiếng bằng nhĩ ... đã hiểu cảnh pháp bằng tâm thành người chấp tướng ... không thành người chấp tướng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì sự thu thúc hoặc không thu thúc cũng thành nghiệp chớ gì.

    Dứt Thu thúc nghiệp ngữ

    ---

    NGHIỆP NGỮ (KAMMAKATHĀ)

    1479.

    • Tự ngôn: Tất cả nghiệp đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả sở hữu Tư đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả Sở hữu Tư đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành dị thục vô ký quả cũng có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả Sở hữu Tư đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành vô ký tố (kiriyā) cũng có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả Sở hữu Tư đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành vô ký quả phần Dục giới cũng có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả Sở hữu Tư đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành vô ký quả thuộc Sắc giới, thuộc Vô sắc giới, thuộc siêu thế cũng có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tất cả Sở hữu Tư đều có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành vô ký tố (kiriyā) thuộc Sắc giới, thuộc Vô sắc giới cũng có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1480.

    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành vô ký quả không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Sở hữu Tư thành vô ký quả không có dị thục quả thời không nên nói rằng tất cả sở hữu Tư đều có dị thục quả.

    1481.

    • Tự ngôn: Sở hữu Tư mà thành vô ký tố (kiriyā) không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Sở hữu Tư thành vô ký tố không có dị thục quả cũng không nên nói rằng tất cả sở hữu Tư đều có dị thục quả.

    1482.

    • Tự ngôn: Sở hữu Tư thành vô ký quả thuộc Dục giới, thuộc Sắc giới, thuộc Vô sắc giới, thuộc siêu thế không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Sở hữu Tư thành vô ký quả thuộc siêu thế không có dị thục quả cũng không nên nói tất cả sở hữu Tư đều có dị thục quả.

    1483.

    • Tự ngôn: Sở hữu Tư thành vô ký tố thuộc Dục giới, thuộc Sắc giới, thuộc Vô sắc giới không có dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Sở hữu Tư thành vô ký tố thuộc Vô sắc giới không có dị thục quả thời không nên nói tất cả sở hữu Tư đều có dị thục quả.

    1484.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tất cả nghiệp đều có dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng “Này chư Phíc-khú, Như Lai không nói tất cả nghiệp mà làm với sự cố ý mà người đã làm chất chứa rồi sẽ tiêu mất bằng cách không hưởng quả bởi vì nghiệp ấy vẫn cho quả trong hiện tại, hoặc thân sau hay thân luôn về sau”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tất cả nghiệp cũng có dị thục quả chớ gì.

    Dứt Nghiệp ngữ

    ---

    THINH DỊ THỤC QUẢ NGỮ (SADDO VIPĀKOTI KATHĀ)

    1485.

    • Tự ngôn: Thinh là dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh là quả người hưởng lạc, thành quả của người hưởng khổ, thành quả của người hưởng phi khổ phi lạc, tương ưng với lạc thọ, tương ưng với khổ thọ, tương ưng với phi khổ phi lạc thọ, tương ưng với Xúc, tương ưng với Thọ, tương ưng với Tưởng, tương ưng với Tư, tương ưng với Tâm, có biết cảnh, có sự nhớ tưởng, có sự buộc lòng, có sự chú ý, có sự lưu ý, sự chăm chú, sự mong mỏi, sự cố tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thinh không thành quả của người hưởng lạc, không thành quả của người hưởng khổ ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thinh không thành quả của người hưởng lạc... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không cố quyết thời không nên nói thinh thành dị thục quả.

    1486.

    • Tự ngôn: Xúc thành dị thục quả, thành quả của người hưởng lạc ... biết cảnh, có sự nhớ tưởng, sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thinh thành dị thục quả, thinh thành quả của người hưởng lạc ... có biết cảnh, có sự nhớ tưởng … sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1487.

    • Tự ngôn: Thinh thành dị thục quả nhưng thinh không thành quả của người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc thành dị thục quả nhưng Xúc không thành quả của người thọ lạc, không thành quả của người thọ khổ ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1488.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng thinh thành dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Như Lai đây là bực Hữu Thinh, tiếng như Phạm Thiên, tiếng nói có giọng hay như tiếng chim ca lăng tần già do nghiệp đã làm đặng chất chứa rồi, đã đặng tăng thêm thành nghiệp quảng hượt”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, thinh cũng thành dị thục quả chớ gì.

    Dứt Thinh dị thục quả ngữ

    ---

    LỤC NHẬP NGỮ (SAḶĀYATANA KATHĀ)

    1489.

    • Tự ngôn: Nhãn nhập thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn nhập thành quả của người thọ lạc, thành quả của người thọ khổ ... biết cảnh, có sự nhớ tưởng... có sự quyết tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhãn nhập không thành quả của người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Nhãn nhập không phải quả của người thọ lạc ... không biết, không nhớ tưởng, không có sự cố quyết thời không nên nói Nhãn nhập thành dị thục quả...
    • Tự ngôn: Xúc thành dị thục quả, Xúc thành quả của người thọ lạc ... có biết cảnh, có sự nhớ tưởng ... có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn nhập thành dị thục quả, Nhãn nhập thành quả của người thọ lạc ... có biết cảnh, có sự nhớ tưởng ... có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhãn nhập thành dị thục quả, nhưng Nhãn nhập không thành quả của người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng, không có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc thành dị thục quả nhưng Xúc không thành quả của người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không có sự cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Nhĩ nhập ... Tỷ nhập ... Thiệt nhập ...

    1490.

    • Tự ngôn: Thân nhập thành dị thục quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân nhập thành quả của người thọ lạc ... biết cảnh, có sự nhớ tưởng ... có sự cố ý phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thân nhập không thành quả nơi người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thân nhập không thành quả nơi người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... sự cố tâm thời không nên nói Thân nhập thành dị thục quả...
    • Tự ngôn: Xúc thành dị thục quả, Xúc thành quả nơi người thọ lạc ... có biết cảnh, có sự nhớ tưởng ... có cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân nhập thành dị thục quả, Thân nhập thành quả nơi người thọ lạc ... có biết cảnh, có nhớ tưởng ... có cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thân nhập thành dị thục quả nhưng Thân nhập không thành quả nơi người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc thành dị thục quả nhưng Xúc không thành quả nơi người thọ lạc ... không biết cảnh, không nhớ tưởng ... không cố quyết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1491.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng Lục nhập thành dị thục quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Lục nhập sanh do tạo nghiệp để lại phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Lục nhập sanh do nghiệp để lại, chính do nhân đó mới nói rằng Lục nhập thành dị thục quả.

    Dứt Lục nhập ngữ

    ---

    THẤT LAI CHÍ THƯỢNG NGỮ (SATTAKKHATTUPARAMAKATHĀ)

    1492.

    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng (Sattakkhattuparama) thành bực quyết định sanh bảy lần mới tột phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng có thể sát phụ, sát mẫu, sát La Hán, chích Phật thân huyết và phá hòa hợp Tăng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1493.

    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực quyết định sanh bảy lần là tột phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người Thất Lai Chí Thượng là bực không đáng để cho đắc chứng nghiệp trong chặng giữa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực không đáng để đắc chứng pháp trong chặng giữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng đó có thể sát phụ, sát mẫu, sát La Hán, chích Phật thân huyết, phá hòa hợp Tăng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1494.

    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực nhứt định sanh bảy lần là rất tột phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thông dụng nơi nhứt định bực người Thất Lai Chí Thượng sắp để sanh bảy lần rất tột vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Niệm xứ, Chánh cần, Như ý túc, Quyền, lực, Giác chi, mà nhứt định bực người Thất Lai Chí Thượng sắp đặt sanh bảy lần thành tột vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1495.

    • Tự ngôn: Thông thường chỗ nhứt định bực người Thất Lai Chí Thượng sắp đặt sanh bảy lần thành tột không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà chỗ thông dụng nhứt định, bực người Thất Lai Chí Thượng sắp đặt sanh bảy lần thành tột không có thời không nên nói bực người Thất Lai Chí Thượng thành người quyết định sanh bảy lần mới tột.

    1496.

    • Tự ngôn: Niệm xứ ... Giác chi mà nhứt định bực người Thất Lai Chí Thượng sắp đặt sanh bảy lần thành tột không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Giác chi nơi nhứt định bực người Thất Lai Chí Thượng sắp đặt sanh bảy lần thành tột không có thời không nên nói bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực quyết định sanh bảy lần thành tột.

    1497.

    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực quyết định sanh bảy lần là tột phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đối với Nhứt Lai có nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đối với Bất Lai có nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đối với La Hán có nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đối với nhứt định chi? Phản ngữ: Đối với Dự Lưu nhứt định.

    1498.

    • Tự ngôn: Bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực nhứt định sanh bảy lần mới tột phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi một người nào lướt đến Dự Lưu nhứt định thời tất cả người ấy thành bực nhứt định sanh bảy lần mới tột phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1499.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực nhứt định sanh bảy lần mới tột phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người ấy thành Thất Lai Chí Thượng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà người ấy thành Thất Lai Chí Thượng, chính do nhân đó mới nói rằng bực người Thất Lai Chí Thượng thành bực nhứt định sanh bảy lần mới tột.

    Dứt Thất Lai Chí Thượng ngữ

    ---

    LỤC LAI NHỨT SANH NGỮ (KOLAṄKOLA EKAVĪJĪ KATHĀ)

    1500.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói bực người Lục Lai (Kolaṅkola) thành bực nhứt định sanh hai, ba lần nữa phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người đó thành Lục Lai phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà người đó thành Lục Lai (Kolaṅkola), chính do nhân đó mới nói rằng bực người Lục Lai thành bực nhứt định sanh hai, ba lần nữa.

    1501.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng bực người Nhứt Lai (Ekabījī) là bực nhứt định sanh nữa chỉ một lần nữa chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Người đó thành Nhứt Lai (Ekabījī) phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà người đó thành bực Nhứt Lai (Ekabījī), chính do nhân đó mới nói rằng bực người nhứt sanh là bực nhứt định sanh chỉ một lần nữa.

    Dứt Lục Lai nhứt sanh ngữ

    ---

    MẠNG TUYỆT NGỮ (JĪVITAVOROPANAKATHĀ)

    1502.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến (Diṭṭhisampanno) có thể quyết giết mạng chúng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến có thể cố giết cha ... có thể cố giết mẹ ... có thể quyết giết La hán ... có thể chích Phật thân huyết ... có thể phá hoà hợp Tăng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1503.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến có thể quyết giết mạng sống của chúng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến thành người không cung kỉnh Tông giáo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành người không cung kỉnh trong ngôi Pháp ... thành người không cung kỉnh ngôi Tăng ... thành người không cung kỉnh trong điều học phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1504.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến thành người có sự cung kỉnh trong Tông giáo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người có tài sản tà kiến thành người cung kỉnh trong Tông giáo thời không nên nói bực người có tài sản tà kiến có thể cố giết chúng sanh.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến thành người cung kỉnh trong ngôi Pháp ... trong ngôi Tăng ... trong điều học phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người có tài sản tà kiến thành người cung kỉnh trong điều học thời không nên nói bực người có tài sản tà kiến có thể cố giết chúng sanh.

    1505.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến thành người không cung kỉnh trong Tông giáo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến có thể ỉa có giọt, đái có giọt, khạc đàm có giọt nơi tháp Phật, có thể tạo tháp Phật để phía trái bên đường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1506.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến có thể cố giết chúng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, đại hải gìn giữ thật tướng vẫn không bờ mé như thế nào thì hàng Thinh Văn của ta không luống phạm điều học đó mà ta chế định để cho Chư Thinh Văn, dù cho vì nhân của mạng sống chính như thế đó vậy. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói bực người có tài sản Tà kiến có thể cố giết chúng sanh.

    Dứt Mạng tuyệt ngữ

    ---

    KHỔ THÚ NGỮ (DUGGATIKATHĀ)

    1507.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến bài trừ khổ thú đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến phải vui thích trong sắc của chúng sanh mà sanh trong ác đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người có tài sản tà kiến phải ưa thích trong sắc của chúng sanh mà sanh trong ác đạo thời không nên nói rằng bực người có tài sản tà kiến bài trừ khổ thú đặng.

    1508.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến bài trừ khổ thú đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến mới ưa thích trong thinh ... trong khí ... trong vị ... trong xúc của chúng sanh mới sanh trong ác đạo ... mới hành dâm với nàng phi nhân, với nàng bàng sanh, với nàng rồng, với dê, với gà, với heo, với tượng, với bò, với ngựa, với con la ... với chim chá cô, con công, con phụng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người có tài sản tà kiến phải thương chim chá cô, chim công, chim phụng thời không nên nói bực người đến đầy đủ với Tà kiến bài trừ khổ thú đặng.

    1509.

    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến bài trừ khổ thú đặng nhưng bực người có tài sản Tà kiến nên ưa thích trong sắc của chúng sanh mà sanh trong ác đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán bài trừ khổ thú đặng nhưng bực La Hán nên vui thích trong sắc của chúng sanh mà sanh trong ác đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản Tà kiến bài trừ khổ thú đặng nhưng bực người có tài sản Tà kiến phải vui thích trong thinh ... trong khí ... trong vị ... trong xúc của chúng sanh mà sanh trong ác đạo ... phải thọ chim chá cô, con công và con phụng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán bài trừ khổ thú đặng nhưng Bực La Hán phải thọ chim chá cô, con khỉ và con công phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1510.

    • Tự ngôn: Bực La Hán bài trừ khổ thú đặng và La Hán không phải vui thích trong Sắc chúng sanh mà sanh trong ác đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến bài trừ khổ thú đặng và bực người có tài sản Tà kiến không thể vui thích trong sắc của chúng sanh mà sanh trong ác đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán bài trừ khổ thú đặng và La Hán không thể vui thích trong thinh ... trong khí ... trong vị ... trong xúc của chúng sanh mà sanh trong ác thú ... không thể hưởng pháp dục với nàng phi nhân, với bàng sanh cái, với rồng cái, không thể thọ dê, không thể thọ gà và heo, không thể thọ voi, bò, ngựa và la ... không thể thọ chim chá cô, chim trĩ và chim công phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có tài sản tà kiến bài trừ khổ thú đặng và bực người có tài sản Tà kiến không thể thọ chim chá cô, chim trĩ và chim công phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1511.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng bực người có tài sản Tà kiến bài trừ khổ thú đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người có tài sản tà kiến phải vào đến Địa ngục ... phải vào đến Bàng sanh ... phải đến cõi Ngạ quỉ phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó bực người có tài sản Tà kiến cũng bài trừ khổ thú đặng chớ gì.

    Dứt khổ thú ngữ

    ---

    THẤT SANH NGỮ (SATTAMABHAVIKAKATHĀ)

    1512.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói bực người có bảy đời là tột, bài trừ khổ thú đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người có bảy đời là tột phải vào Địa ngục, phải đến Bàng sanh, phải sanh Ngạ quỉ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó bực người Thất Sanh cũng bài trừ khổ thú đặng chớ gì.

    Dứt Thất sanh ngữ

    Hết Phẩm mười hai

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.