Đại phẩm thứ Mười Lăm: Duyên khởi ngữ, hổ tương duyên ngữ, kỳ gian ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Lăm: Duyên khởi ngữ, hổ tương duyên ngữ, kỳ gian ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

     TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM MƯỜI LĂM

    ---

     

    DUYÊN KHỞI NGỮ (PACCAYA KATHĀ)

    1596.

    • Tự ngôn: Sự thành duyên (paccaya) Ngài sắp hạn chế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thẩm (vimansā) thành nhân và thành trưởng luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thẩm thành nhân (hetu) và thành trưởng (adhipati) luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Nhân duyên (Hetupaccaya) và thành duyên bằng Trưởng duyên (adhipatipaccaya).

    1597.

    • Tự ngôn: Dục trưởng thành trưởng của pháp đồng sanh (sahajātadhamma) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Dục trưởng (chandādhipati) thành trưởng nơi pháp đồng sanh, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Đồng Sanh duyên.

    1598.

    • Tự ngôn: Cần trưởng (Viriyadhipati) thành trưởng nơi pháp đồng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Cần trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Đồng Sanh duyên.
    • Tự ngôn: Cần trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành quyền luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Cần trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành quyền luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Quyền duyên.

    1599.

    • Tự ngôn: Cần trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành chi của đạo luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Cần trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành chi của đạo luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Đạo duyên (Maggapaccaya).

    1600.

    • Tự ngôn: Tâm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tâm trưởng (Cittādhipati) thành trưởng nơi pháp đồng sanh, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Đồng Sanh duyên (Sahajātapaccaya).

    1601.

    • Tự ngôn: Tâm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành thực (āhāra) luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tâm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành thực luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Thực duyên (Āhārapaccaya).

    1602.

    • Tự ngôn: Tâm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành quyền luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Tâm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành quyền luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên (Adhipatipaccaya) và thành duyên bằng Quyền duyên (Indrīyapaccaya).

    1603.

    • Tự ngôn: Thẩm trưởng (Vimaṅsādhipati) thành trưởng nơi pháp đồng sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thẩm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Đồng Sanh duyên.
    1.  
    • Tự ngôn: Thẩm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành quyền luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thẩm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành quyền luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Quyền duyên.

    1605.

    • Tự ngôn: Thẩm trưởng thành trưởng nơi pháp đồng sanh và thành chi của đạo luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Thẩm trưởng làm Trưởng nơi pháp đồng sanh và thành chi của đạo luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Đạo duyên.

    1606.

    • Tự ngôn: Sát-na phản khán làm Pháp Thánh (ariyadhamma) cho nặng, phát sanh ra và làm Pháp Thánh ấy cho thành cảnh luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sát-na phản khán (paccavekkhaṇā) làm Thánh Pháp (ariyadhamma) cho đặng phát sanh ra và làm Thánh Pháp đó cho thành cảnh luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng (Thánh Pháp) thành duyên bằng Trưởng duyên và thành duyên bằng Cảnh duyên (ārammaṇapaccaya).

    1607.

    • Tự ngôn: Pháp thiện trước kia thành duyên bằng Vô Gián duyên (Anantarapaccaya) nơi pháp đồng sanh sau sau và thành cố hưởng (āsevana) luôn đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp thiện trước trước thành duyên bằng Vô Gián duyên của pháp thiện sau sau và thành cố hưởng luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Vô Gián duyên và thành duyên bằng Cố Hưởng duyên (Āsevanapaccaya).

    1608.

    • Tự ngôn: Pháp bất thiện trước trước thành duyên bằng Vô Gián duyên của pháp bất thiện sau sau và thành cố hưởng luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp bất thiện trước trước thành duyên bằng Vô Gián duyên của pháp bất thiện sau sau và thành cố hưởng luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Vô Gián duyên và thành duyên bằng Cố Hưởng duyên[5].

    1609.

    • Tự ngôn: Pháp vô ký tố (kiriyā) sanh trước trước thành duyên bằng Vô Gián duyên cho pháp vô ký tố sanh sau sau mà thành cố hưởng luôn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà pháp vô ký tố trước trước thành duyên bằng Vô Gián duyên của pháp vô ký tố sau sau và thành cố hưởng luôn, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thành duyên bằng Vô Gián duyên và thành duyên bằng Cố Hưởng duyên (Āsevanapaccaya).

    1610.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói sự thành duyên Ngài hạn chế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thành duyên bằng Nhân duyên cũng đặng, thành duyên bằng Cảnh duyên cũng đặng, thành duyên bằng Vô Gián duyên cũng đặng, thành duyên bằng Liên Tiếp duyên cũng đặng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì sự thành duyên Ngài cũng hạn chế chớ gì.

    Dứt Duyên khởi ngữ

    ---

    HỔ TƯƠNG DUYÊN NGỮ (AÑÑAMAÑÑAPACCAYAKATHĀ)

    1611.

    • Tự ngôn: Hành sanh do Vô minh làm duyên trọn đó không nên nói hẳn do Hành làm duyên mới sanh ra Vô minh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh sanh chung với Hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Vô minh sanh chung với Hành, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tuy nhiên do Vô minh làm duyên mới sanh Hành đặng, tuy nhiên do Hành làm duyên mới sanh Vô minh đặng.

    1612.

    • Tự ngôn: Thủ sanh do Ái làm duyên trọn đó không nên nói hẳn do Thủ làm duyên mới sanh Ái đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái sanh đồng với Thủ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Ái sanh chung với Thủ, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng hẳn do Ái làm duyên mới sanh ra Thủ đặng, hẳn do Thủ làm duyên thời Ái sanh đặng.

    1613.

    • Phản ngữ: Lời nói: “Này chư Phíc-khú, do Lão và Tử làm duyên mới sinh ra Sanh (jāti), do Sanh làm duyên mới có Hữu”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Không có.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó Hành cũng sanh do Vô minh làm duyên trọn đó không nên nói hẳn bởi Hành làm duyên Vô minh mới sanh đặng; Thủ sanh do Ái làm duyên trọn đó không nên nói hẳn do Thủ làm duyên mới sanh ra Ái đặng.

    1614.

    • Tự ngôn: Lời nói: “Này chư Phíc-khú, do Thức làm duyên mới sanh ra Danh Sắc, hẳn do Sanh Sắc làm duyên thời mới sanh Thức đặng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó Hành cũng sanh ra hẳn do Vô minh làm duyên,Vô minh cũng sanh ra hẳn do Hành làm duyên, Thủ cũng sanh ra hẳn do Ái làm duyên, Ái cũng sanh ra hẳn do Thủ làm duyên chớ gì.

    Dứt Hổ tương duyên ngữ

    ---

    KỲ GIAN NGỮ (ADDHĀKATHĀ)

    1615.

    • Tự ngôn: Kỳ gian (Addhā) đã thành tựu thật tướng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Thọ ... thành Tưởng ... thành Hành ... thành Thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Kỳ gian quá khứ thật tướng thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Thọ ... thành Tưởng ... thành Hành ... thành Thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Kỳ gian (Addhā) vị lai thành tựu thật tướng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Thọ ... thành Tưởng ... thành Hành ... thành Thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Kỳ gian hiện tại là thành tựu thật tướng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Thọ ... thành Tưởng ... thành Hành ... thành Thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức nơi quá khứ thành Kỳ gian phần quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian phần quá khứ thành năm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức chỗ thành vị lai thành Kỳ gian phần vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian phần vị lai thành năm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức nơi thành hiện tại là Kỳ gian phần hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian phần hiện tại thành năm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ngũ uẩn mà thành quá khứ là Kỳ gian phần quá khứ; Ngũ uẩn mà thành vị lai là Kỳ gian phần vị lai, Ngũ uẩn mà thành hiện tại là Kỳ gian phần hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian thành mười lăm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thập nhị xứ mà thành quá khứ là Kỳ gian phần quá khứ, Thập nhị xứ mà thành vị lai là Kỳ gian phần vị lai, Thập nhị xứ mà thành hiện tại là Kỳ gian phần hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian có ba mươi sáu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thập bát giới mà thành quá khứ là Kỳ gian phần quá khứ, Thập bát giới mà thành vị lai là Kỳ gian phần vị lai, Thập bát giới mà thành hiện tại là Kỳ gian phần hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian thành năm mươi bốn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhị thập nhị quyền mà thành quá khứ là Kỳ gian phần quá khứ, Nhị thập nhị quyền mà thành vị lai là Kỳ gian phần vị lai, Nhị thập nhị quyền mà thành hiện tại là Kỳ gian phần hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kỳ gian (addhā) thành lục thập lục (66) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1616.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng: “Kỳ gian (addhā) là thật tướng thành tựu phải chăng?” Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Ngữ Tông (kathāvatthu) có ba thứ. Ba thứ ra sao? Người nên thuật lời mở mối Kỳ gian phần quá khứ như vầy: “Kỳ gian mà đã luống qua thành rồi thế này” hoặc như đây nên tường thuật mở mối Kỳ gian phần vị lai như vầy: “Kỳ gian phần vị lai sẽ là thế này” hoặc như đây nên tường thuật mở mối Kỳ gian phần hiện tại hiện nay như vầy: “Hiện tại vẫn là trong hiện nay thế này” hoặc như đây. Này chư Phíc-khú, Ngữ Tông (kathāvatthu) có ba thứ như thế vậy”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó Kỳ gian cũng là chân tướng thành tựu chớ gì.

    Dứt Kỳ gian ngữ

    ---

    SÁT-NA KỲ GIAN ĐIỂM ĐIỂM NGỮ (KHAṆALAYAMUHUTTA KATHĀ)

    1617.

    • Tự ngôn: Sát-na (khaṇa) thành thật tướng thành tựu, Kỳ gian (laya) là thật tướng thành tựu, Điểm điểm (muhutta) là thật tướng thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Thọ ... thành Tưởng ... thành Hành ... thành Thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1618.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Điểm điểm (muhutta) là thật tướng thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Ngữ Tông (Kathāvatthu) có 3 thứ. Ba thứ ra sao? Người nên nói mở mối Kỳ gian (addhā) phần quá khứ như vầy “Kỳ gian mà đã qua đặng thành rồi thế này”, hoặc như đây nên nói mởi mối Kỳ gian phần vị lai như vầy: “Kỳ gian phần vị lai sẽ là thế này”, hoặc như đây nên tường thuật mở mối Kỳ gian hiện tại nơi bây giờ như vầy: “Hiện Tại vẫn có nơi bây giờ thế này”, hoặc như đây. Này chư Phíc-khú, Ngữ Tông ba thứ như thế này vậy. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó Điểm điểm (chút xíu) cũng là thật tướng thành tựu chớ gì.

    Dứt Sát-na kỳ gian ddiểm điểm ngữ

    ---

    LẬU NGỮ (ĀSAVA KATHĀ)

    1619.

    • Tự ngôn: Tứ lậu không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành Sơ đạo, thành Sơ quả ... thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chớ nên nói Tứ lậu không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Những lậu ấy thành cảnh của lậu bằng những lậu nào thì những lậu ấy vẫn có một phần khác nửa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thứ đó thì Tứ lậu cũng không thành cảnh của lậu chớ gì.

    Dứt Lậu ngữ

    ---

    LÃO TỬ NGỮ (JARĀMARAṆA KATHĀ)

    1620.

    • Tự ngôn: Lão tử của pháp siêu thế cũng thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành Sơ đạo, thành Sơ quả ... thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử của Sơ đạo cũng thành Sơ đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử của Sơ đạo cũng thành Sơ đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử Sơ quả cũng thành Sơ quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử của đạo Nhứt Lai ... của quả Nhứt Lai ... của đạo Bất Lai ... của quả Bất Lai ... của đạo La Hán cũng thành đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử của đạo La Hán cũng thành đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử của quả La Hán cũng thành quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử của Niệm xứ, của Chánh cần, của Như ý túc, của Quyền, của lực ... Lão tử của Giác chi cũng thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1621.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Lão tử của pháp siêu thế cũng thành siêu thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó cũng thành siêu thế chớ gì.

    Dứt Lão tử ngữ

    ---

    TƯỞNG HƯỞNG NGỮ (SAÑÑĀVEDAYITA KATHĀ)

    1622.

    • Tự ngôn: Tưởng hưởng nhập thiền Diệt thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành Sơ đạo, thành Sơ quả ... thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Chớ nói rằng Tưởng hưởng (Saññāvedayita) nhập thiền Diệt thành siêu thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thành hiệp thế phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó cũng thành siêu thế chớ gì.

    Dứt Tưởng hưởng ngữ

    ---

    TƯỞNG HƯỞNG NGỮ THỨ HAI (DUTIYASAÑÑĀVEDAYITAKATHĀ)

    1623.

    • Tự ngôn: Tưởng hưởng nhập thiền Diệt thành hiệp thế phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Thọ ... thành Tưởng ... thành Hành ... thành Thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Dục giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành Vô sắc giới phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1624.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói Tưởng hưởng nhập thiền Diệt thành hiệp thế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thành siêu thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó cũng là hiệp thế chớ gì.

    Dứt Tưởng hưởng ngữ thứ hai

    ---

    TƯỞNG HƯỞNG NGỮ THỨ BA (TATIYA SAÑÑĀ VEDAYITA KATHĀ)

    1625.

    • Tự ngôn: Bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng đáng chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc mà sanh trong khi chết lần chót, Thọ mà sanh trong khi chết lần chót, Tưởng mà sanh trong khi chết lần chót, Tư mà sanh trong khi chết lần chót, Tâm mà sanh trong khi chết lần chót của bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Tâm mà sanh trong khi chết lần chót của người nhập thiền Diệt thọ tưởng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Tâm sanh trong khi chết lần chót của người nhập thiền Diệt thọ tưởng không có, thời không nên nói người nhập thiền Diệt thọ tưởng đáng chết như đây.

    1626.

    • Tự ngôn: Bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng đáng chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Tâm của người nhập thiền Diệt thọ tưởng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Tâm của người nhập thiền Diệt thọ tưởng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người không có Xúc có cách đáng làm cho chết, bực người không có Thọ có cách làm cho chết ... bực người không có Tâm có cách làm cho chết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người có Xúc có cách đáng làm cho chết ... bực người có Tâm có cách làm cho chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người có Xúc có cách làm cho chết ... bực người có Tâm có cách làm cho chết thời không nên nói bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng đáng làm cho chết như đây.

    1627.

    • Tự ngôn: Bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng đáng làm cho chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thuốc độc đáng vào rồi, gươm bén đáng vào rồi, lửa đáng vào rồi trong thân của người nhập thiền Diệt thọ tưởng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thuốc độc không thể vào, gươm bén không thể vào, lửa không thể vào trong thân thể của bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó, thuốc độc không thể vào, gươm đao không thể vào, lửa không thể vào trong thân thể của bực Diệt thọ tưởng thời không nên nói bực nhập thiền Diệt thọ tưởng có thể làm cho chết ...

    1628.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền Diệt thọ tưởng có thể làm cho chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thuốc độc có thể đem vào, gươm đao có thể đem vào, lửa có thể đem vào trong thân của bực nhập thiền Diệt thọ tưởng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Không đặng nhập Diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng không thể làm cho chết phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Dĩ nhiên là thành nhân thông dụng là bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng không thể làm cho chết vẫn có phải chăng? Tự ngôn: Không có.
    • Phản ngữ: Nếu nói dĩ nhiên vẫn thành nhân thông dụng rằng bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng không thể làm cho chết không có thời không nên nói bực nhập thiền Diệt thọ tưởng không thể làm cho chết ...

    1629.

    • Tự ngôn: Bực người đầy đủ với Nhãn thức không thể làm cho chết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dĩ nhiên mà thành nhân thông dụng rằng bực đầy đủ với Nhãn thức không thể làm cho chết vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nói rằng dĩ nhiên mà thành nhân thông dụng như vầy: “Bực đầy đủ với Nhãn thức không thể làm cho chết không có, thời không nên nói người đầy đủ Nhãn thức không thể làm cho chết”.

    Dứt Tưởng hưởng ngữ thứ ba

    ---

    VÔ TƯỞNG HỮU NGỮ (ASAÑÑĀSATTUPIKA KATHĀ)

    1630.

    • Tự ngôn: Nhập thiền Diệt thọ tưởng là nhân cho vào đến Vô tưởng hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Căn Thiện tức là Vô tham, căn Thiện tức là Vô sân, căn Thiện tức là Vô si, Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ của bực nhập thiền Diệt thọ tưởng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Căn Thiện tức là căn Vô tham, căn Thiện tức là Vô sân ... Tuệ bực người nhập thiền không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà căn Thiện tức là Vô tham, căn Thiện tức là Vô sân, căn Thiện tức là Vô si, Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ của bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng không có thời không nên nói nhập thiền Diệt thọ tưởng là nhân làm cho đến Vô tưởng hữu.

    1631.

    • Tự ngôn: nhập thiền Diệt thọ tưởng là nhân cho vào đến Vô tưởng hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Tâm của bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Tâm của bực người nhập thiền Diệt thọ tưởng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người không có Xúc cũng có cách tiến hóa đạo đặng ... bực người không có Tâm cũng có cách tiến hóa đạo đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người có Xúc có cách tiến hóa đạo đặng ... bực người có Tâm có cách tiến hóa đạo đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người có Xúc có cách tiến hóa đạo đặng ... bực người có Tâm có cách tiến hóa đạo đặng thời không nên nói nhập thiền Diệt thọ tưởng là nhân làm cho đến Vô tưởng hữu.

    1632.

    • Tự ngôn: nhập thiền Diệt thọ tưởng là nhân cho đến Vô tưởng hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi một người nào nhập thiền Diệt thọ tưởng tất cả những người ấy thành người vào đến Vô tưởng hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1633.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói nhập thiền Diệt thọ tưởng là nhân làm cho đến Vô tưởng hữu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Dù trong lúc nhập Diệt này, bực nhập cũng không có Tưởng dĩ nhiên người vào đến Vô tưởng hữu ấy cũng không có Tưởng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Dù rằng trong lúc nhập thiền Diệt này người vào cũng không có Tưởng, dĩ nhiên bực vào đến Vô tưởng hữu đó cũng không có Tưởng, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng nhập Diệt thọ tưởng là nhân làm cho đến Vô tưởng hữu.

    Dứt Vô tưởng hữu ngữ

    ---

    NGHIỆP TẠO CHỨA NGỮ (KAMMŪPACAYA KATHĀ)

    1634.

    • Tự ngôn: Nghiệp là một thứ, sự chất chứa của nghiệp cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xúc là một thứ, sự chất chứa của Xúc cũng là một thứ? Thọ là một thứ, sự chất chứa của Thọ cũng là một thứ? Tưởng là một thứ, sự chất chứa của Tưởng cũng là một thứ? Tư là một thứ, sự chất chứa của Tư cũng là một thứ? Tâm là một thứ, sự chất chứa của Tâm cũng là một thứ? Tín là một thứ, sự chất chứa của Tín cũng là một thứ? Cần là một thứ, sự chất chứa của Cần cũng là một thứ? Niệm là một thứ, sự chất chứa của Niệm cũng là một thứ? Định là một thứ, sự chất chứa của Định cũng là một thứ? Tuệ là một thứ, sự chất chứa của Tuệ cũng là một thứ? Ái là một thứ, sự chất chứa của Ái cũng là một thứ? ... Vô úy là một thứ, sự chất chứa của Vô úy cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1635.

    • Tự ngôn: Nghiệp là một thứ, sự chất chứa của nghiệp cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp sanh chung với nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp sanh chung với nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà thành thiện đồng sanh với nghiệp mà thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà thành thiện, đồng sanh với nghiệp mà thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà tương ưng với lạc thọ đồng sanh với nghiệp tương ưng lạc thọ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa nghiệp mà tương ưng với khổ thọ ... mà tương ưng với phi khổ phi lạc đồng sanh với nghiệp mà tương ưng với phi khổ phi lạc thọ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp đồng sanh với nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà thành bất thiện đồng sanh với nghiệp thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà thành bất thiện đồng sanh với nghiệp thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà đồng sanh với lạc thọ, đồng sanh với nghiệp tương ưng lạc thọ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp mà tương ưng với khổ thọ ... mà tương ưng với phi khổ phi lạc thọ đồng sanh với nghiệp tương ưng với phi khổ phi lạc thọ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1636.

    • Tự ngôn: Nghiệp đồng sanh với Tâm và tâm biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp đồng sanh với Tâm và sự chất chứa của nghiệp biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp đồng sanh với Tâm nhưng sự chất chứa của nghiệp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp đồng sanh với Tâm nhưng nghiệp không biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1637.

    • Tự ngôn: Nghiệp đồng sanh với Tâm và khi tâm diệt, nghiệp cũng hư hoại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp đồng sanh với Tâm và khi tâm diệt cách chất chứa của nghiệp cũng hư hoại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1638.

    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp đồng sanh với Tâm nhưng khi tâm diệt thời sự chất chứa của nghiệp không hư hoại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp đồng sanh với Tâm, nhưng khi tâm diệt nghiệp không hư hoại phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nghiệp có sự chất chứa của nghiệp cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp cái đó, sự chất chứa của nghiệp cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nghiệp có cách chất chứa của nghiệp cũng có, và dị thục quả cũng sanh từ sự chất chứa của nghiệp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp cái đó, sự chất chứa của nghiệp cũng cái đó vậy, dị thục quả của nghiệp cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi nghiệp có sự chất chứa của nghiệp cũng có và dị thục quả cũng sanh từ sự chất chứa của nghiệp luôn cả dị thục quả cũng biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự chất chứa của nghiệp không có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dị thục quả không có biết cảnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nghiệp là một thứ, sự chất chứa của nghiệp cũng là một thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Puṇṇa, cũng có người trong đời này tạo chứa thân hành mà hoặc có sự ép uổng, hoặc không có sự ép uổng; tạo chứa khẩu hành ... Ý hành mà có sự ép uổng hoặc không có sự ép uổng. Người ấy khi tạo chứa thân hành mà hoặc có sự ép uổng hoặc không ép uổng; tạo chứa khẩu hành ... Ý hành mà hoặc đã có sự ép uổng hoặc không ép uổng vẫn vào đến thế giới hoặc ép uổng hoặc không ép uổng; tất cả xúc hoặc có ép uổng hoặc không ép uổng, vẫn đụng chạm bực người vào thế giới hoặc có ép uổng hoặc không ép uổng, người ấy là bực mà tất cả xúc chỗ có ép uổng hoặc không ép uổng đã đụng chạm vẫn hứng chịu hoặc có ép uổng hoặc không ép uổng vui và khổ trộn lẫn nhau như nơi nhân loại, có hạng Chư thiên và có thứ trong đường ác đạo bị hình phạt vẫn còn. Này Puṇṇa sự đưa đến của chúng sanh lớn nhỏ thành như thế này, họ làm nghiệp chi thời họ đến theo nghiệp ấy, tất cả xúc vẫn đụng chạm người đã vào đến ấy. Này Puṇṇa, ta nói rằng tất cả chúng sanh thành người hưởng thừa kế, tất cả chúng sanh là người lãnh di sản của nghiệp vẫn có bằng cách thế này”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói nghiệp là một thứ, sự chứa để của nghiệp cũng là một thứ.

    Dứt Nghiệp tạo chứa ngữ

    Hết Phẩm mười lăm

    Dứt 15.000 chữ phần thứ ba

    ---

    [5] “Cố Hưởng duyên” sau này được Trưởng Lão Tịnh Sự điều chỉnh thành “Trùng Dụng duyên”

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.