Đại phẩm thứ Mười Một: Trí ngữ, thử khổ ngữ, thần thông lực ngữ, ...

Đại phẩm thứ Mười Một: Trí ngữ, thử khổ ngữ, thần thông lực ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--
     
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP - (ABHIDHAMMAPIṬAKA)
    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM THỨ MƯỜI MỘT

    --- 

    TAM CHỦNG TIỀM THÙY NGỮ (TISSOPI ANUSAYA KATHA)

    1432.

    • Tự ngôn: Tiềm thùy thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành vô ký tức là dị thục quả, thành vô ký tức là tố (kiriyā), thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1433.

    • Tự ngôn: Dục ái tiềm thùy thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái già cái (che ngăn), Dục ái triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái già cái (che ngăn), Dục dục cái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1434.

    • Tự ngôn: Phẫn tùy miên thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phẫn, Phẫn già cái (che ngăn), Phẫn triền thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phẫn, Phẫn già cái, Phẫn triền thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phẫn tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1435.

    • Tự ngôn: Ngã mạn tùy miên thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngã mạn, Ngã mạn già cái, Ngã mạn triền thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Ngã mạn, Ngã mạn già cái, Ngã mạn triền thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngã mạn tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1436.

    • Tự ngôn: Tà kiến tùy miên thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến, Tà kiến bộc, Tà kiến phối, Tà kiến già cái, Tà kiến triền thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tà kiến, Tà kiến bộc, Tà kiến phối, Tà kiến già cái, Tà kiến triền thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà kiến tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1437.

    • Tự ngôn: Hoài nghi tùy miên thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hoài nghi, Hoài nghi già cái, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hoài nghi, Hoài nghi già cái, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hoài nghi tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1438.

    • Tự ngôn: Hữu ái tùy miên thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hữu ái, Hữu ái già cái, Hữu ái triền thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hữu ái, Hữu ái già cái, Hữu ái triền thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hữu ái tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1439.

    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối, Vô minh già cái, Vô minhtriền, Vô minh cái thành vô ký phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối, Vô minh già cái, Vô minh triền, Vô minh cái thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1440.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tùy miên thành vô ký phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu khi tâm mà thành thiện và vô ký đang hiện hành nên nói rằng người có tùy miên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Pháp mà thành thiện và bất thiện đến gặp nhau phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tùy miên cũng thành vô ký chớ gì.
    • Tự ngôn: Phàm phu khi tâm mà thành thiện và vô ký đang hiện hành nên nói rằng người có Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp mà thành thiện và thành bất thiện đều gặp nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó Ái cũng thành vô ký chớ gì.

    1441.

    • Tự ngôn: tùy miên thành vô nhân (Ahetuka) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên thành vô nhân phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái già cái, Dục ái triền ... Dục dục cái thành vô nhân phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái già cái ... Dục dục cái thành hữu nhân (Sahetuka) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên thành hữu nhân phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Phẫn tùy miên, Ngã mạn tùy miên, Tà kiến tùy miên, Hoài nghi tùy miên, Hữu ái tùy miên, Vô minh tùy miên thành vô nhân phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối, Vô minh già cái, Vô minh triền, Vô minh cái thành vô nhân phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc ... Vô minh cái thành hữu nhân phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên thành hữu nhân phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1442.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói tùy miên thành vô nhân phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu khi tâm mà thành thiện và vô ký đang hiện hành nên nói rằng người có tùy miên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Tùy miên thành hữu nhân bằng nhân thứ đó phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó tùy miên cũng thành vô nhân chớ gì.
    • Tự ngôn: Phàm phu khi tâm mà thành thiện và thành vô ký đang hiện hành nên nói rằng người có Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái thành hữu nhân bằng nhân cái đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó Ái cũng là vô nhân chớ gì.

    1443.

    • Tự ngôn: tùy miên bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái già cái, Dục ái triền, Dục bộc, Dục phối, Dục dục cái bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái, Dục ái già cái ... Dục dục cái tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1444.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Liên quan trong uẩn nào? Phản ngữ: Liên quan trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Hành uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1445.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái liên quan trong Hành uẩn và tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên liên quan trong Hành uẩn và tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1446.

    • Tự ngôn: Dục ái tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm, phần Dục ái liên quan trong Hành uẩn và tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1447.

    • Tự ngôn: Phẫn tùy miên, Ngã mạn tùy miên, Tà kiến tùy miên, Hoài nghi tùy miên, Hữu ái tùy miên, Vô minh tùy miên bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối, Vô minh cái bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh, Vô minh bộc, Vô minh phối, Vô minh cái bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Liên quan trong uẩn nào? Phản ngữ: Liên quan trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Hành uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh liên quan trong Hành uẩn tương ưng tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên liên quan trong Hành uẩn tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh tùy miên liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm, phần Vô minh liên quan trong Hành uẩn và tương ưng tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1448.

    • Phản ngữ: Chẳng nên nói tùy miên bất tương ưng Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Phàm phu khi tâm mà thành thiện và thành vô ký đang hiện hành nên nói rằng người đó có tùy miên phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: tùy miên tương ưng với Tâm phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, tùy miên cũng bất tương ưng Tâm chớ gì.
    • Tự ngôn: Phàm phu trong khi tâm mà thành thiện và thành vô ký đang hiện hành nên nói rằng người có Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái tương ưng với Tâm đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó, Ái cũng bất tương ưng Tâm chớ gì.

    Dứt Tam chủng tùy miên ngữ

    ---

    TRÍ NGỮ (ÑĀṆA KATHĀ)

    1449.

    • Tự ngôn: Đến sự không biết sẽ lìa đi rồi khi tâm mà thành bất tương ưng trí đang hiện hành, không nên nói người có sự biết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi Ái lìa đi rồi không nên nói rằng người đó xa lìa Ái phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đến sự không biết sẽ lìa đi rồi, khi tâm mà thành bất tương ưng trí đang hiện hành không nên nói người có sự biết phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi Sân lìa đi rồi ... khi Si lìa đi rồi ... khi phiền não lìa đi rồi không nên nói người hết phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1450.

    • Tự ngôn: Khi Ái lìa đi rồi nên nói rằng người xa lìa Ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi sự không biết lìa đi rồi thời tâm mà thành bất tương ưng trí sẽ vẫn hiện hành thời nên nói rằng người có sự biết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi Sân lìa đi rồi ... khi Si lìa đi rồi ... khi phiền não lìa đi rồi ... nên nói rằng người hết phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi sự không biết lìa đi rồi đến tâm mà thành bất tương ưng trí sẽ vẫn hiện hành thời không nên nói người có sự biết phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Khi sự không biết lìa đi rồi đến tâm mà thành bất tương ưng trí sẽ vẫn hiện hành thời không nên nói người có sự biết phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Gọi rằng người có sự biết thành quá khứ gọi là người có sự biết bằng sự biết mà diệt rồi, lìa đi rồi, đã vắng lặng phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...

    Dứt Trí ngữ (Ñāṇa kathā)

    ---

    TRÍ BẤT TƯƠNG ƯNG TÂM NGỮ (ÑĀṆAṂ CITTAVIPPAYUTTANTI KATHĀ)

    1451.

    • Tự ngôn: Trí bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Níp-bàn, thành Nhãn xứ ... thành Xúc xứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ, Tuệ quyền, Tuệ lực, Chánh kiến, Trạch pháp Giác chi cũng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ, Tuệ quyền, Tuệ lực, Chánh kiến, Trạch pháp Giác chi tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí cũng tương ưng với tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1452.

    • Tự ngôn: Trí bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Liên quan trong uẩn nào? Phản ngữ: Liên quan trong Hành uẩn.
    • Tự ngôn: Hành uẩn bất tương ưng tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tuệ liên quan trong Hành uẩn và tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí liên quan trong Hành uẩn và tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí liên quan trong Hành uẩn nhưng bất tương ưng Tâm, phần Tuệ liên quan trong Hành uẩn và tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thọ uẩn, Tưởng uẩn một phần tương ưng với Tâm, một phần nữa bất tương ưng với Tâm phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1453.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng trí bất tương ưng Tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán người đầy đủ Nhãn thức nên nói rằng người có trí phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Trí tương ưng với Tâm ấy phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó trí cũng bất tương ưng Tâm chớ gì.
    • Tự ngôn: Bực La Hán người đầy đủ với Nhãn thức nên nói rằng người có tuệ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ tương ưng với Tâm ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó tuệ cũng bất tương ưng Tâm chớ gì.

    Dứt Trí bất tương ưng Tâm ngữ

    THỬ KHỔ NGỮ (IDAṂDUKKHANTI KATHĀ)

    1454.

    • Tự ngôn: Khi nhắc nói đây là Khổ, Trí gọi đây là khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi nhắc nói đây là Tập, Trí gọi đây là Tập cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi nhắc nói đây là Khổ, Trí gọi đây là Khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi nhắc nói đây là Diệt, Trí gọi đây là Diệt cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ, Trí gọi đây là Khổ cũng hiện hành đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Đạo, Trí gọi đây là Đạo cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1455.

    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Tập nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Tập phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Diệt ... đây là Đạo nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ, nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1456.

    • Tự ngôn: Khi bày lời nói đây là Khổ, Trí gọi đây là Khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói Sắc Vô Thường, Trí gọi Sắc Vô Thường cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày lời nói đây là Khổ, Trí gọi đây là Khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói Thọ ... Tưởng, Hành ... Thức Vô Thường, Trí gọi Thức Vô Thường cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1457.

    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ, Trí gọi đây là Khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói Sắc là vô ngã, Trí gọi Sắc là vô ngã cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ, Trí gọi đây là Khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức là vô ngã, Trí gọi Thức là vô ngã cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1458.

    • Tự ngôn: Khi bày nói Sắc là vô thường, nhưng Trí không hiện hành rằng Sắc là vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là khổ, nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày nói Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức là vô thường nhưng Trí không hiện hành rằng Thức là vô thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày nói Sắc là vô ngã nhưng Trí không hiện hành rằng Sắc là vô ngã phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khi bày nói Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức là vô ngã nhưng Trí không hiện hành rằng Thức là vô ngã phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ nhưng Trí không hiện hành rằng đây là Khổ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1459.

    • Tự ngôn: Khi bày nói đây là Khổ, Trí gọi rằng đây là Khổ cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí gọi “I”, Trí gọi “Daṃ”, Trí gọi “Du” và Trí gọi “Khaṃ” cũng hiện hành phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Thứ khổ ngữ (Idaṃdukkhanti kathā)

    ---

    THẦN THÔNG LỰC NGỮ (IDDHIBALA KATHĀ)

    1460.

    • Tự ngôn: Người hiệp với sức của thần thông phải sống đặng luôn đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Số thọ ấy thành tựu theo thần thông, cõi ấy thành tựu theo thần thông, cách đặng thân thể ấy thành tựu theo thần thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực hiệp với sức thần thông phải sống đặng luôn đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phải sống luôn đại kiếp mà thành quá khứ, phải sống luôn đại kiếp mà thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực mà hiệp với thần thông phải sống luôn đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phải sống luôn hai đại kiếp, phải sống luôn ba đại kiếp, phải sống luôn bốn đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực hiệp với sức thần thông, phải sống luôn đại kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Phải sống trong khi sanh mạng tức là sanh mạng phần dư ra, vẫn còn có phải chăng? Hay là sống trong khi sanh mạng tức là sanh mạng phần dư ra vẫn không có. Phản ngữ: Phải sống trong khi sanh mạng tức là sanh mạng phần còn dư vẫn còn có.
    • Tự ngôn: Nếu mà phải sống trong khi sanh mạng tức là sanh mạng phần dư ra vẫn còn có, thời không nên nói rằng bực hiệp với sức thần thông phải sống luôn đại kiếp như thế ...
    • Phản ngữ: Phải sống luôn trong khi sanh mạng tức là sanh mạng phần còn dư vẫn không có. Tự ngôn: Người chết rồi vẫn phải sống, người đã tử biệt vẫn phải sống phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1461.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với sức thần thông phải sống luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người phải đặng gìn giữ để bằng thần thông như vầy: “Xúc đã sanh đừng diệt đi như thế” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người phải đặng để gìn giữ bằng thần thông như vầy “Thọ đã sanh ... Tưởng đã sanh ... Tư đã sanh ... Tâm đã sanh ... Tín đã sanh, Cần đã sanh, Niệm đã sanh, Định đã sanh ... Tuệ đã sanh đừng diệt mất như thế” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1462.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với sức thần thông phải sống luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực phải đặng gìn giữ để lại bằng thần thông như vầy: “Sắc phải thành đồ vĩnh viễn như thế” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực phải đặng gìn giữ để lại bằng thần thông như vầy “Thọ ... Tưởng ... Hành … Thức trọn thành vĩnh viễn như thế “phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1463.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với sức thần thông phải sống cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực phải đặng gìn giữ để lại bằng thần thông như vầy: “Tất cả chúng sanh lẽ thường phải sanh mà đừng cho sanh như thế” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực duy trì để lại đặng bằng thần thông như vầy: “Tất cả chúng sanh lẽ thường phải sanh mà đừng cho sanh ... tất cả chúng sanh có bệnh hoạn là lẽ thường nhưng không cho bệnh hoạn ... tất cả chúng sanh có sự chết là lẽ thường nhưng đừng cho chết như thế” phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1464.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực người hiệp với thần thông phải sống cả kiếp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Ānanda, Tứ như ý túc mỗi một người nào trau dồi làm cho nhiều, làm cho thành như mũ, làm cho thành chỗ nương, làm cho kiên cố, đầy đúng nhuần nhãn, rành rẽ rồi, thời người ấy hy vọng phải sống luôn cả kiếp hoặc hơn cả kiếp”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó bực người hiệp với sức thần thông cũng phải sống luôn cả kiếp chớ gì.

    1465.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với sức thần thông đặng sống luôn cả kiếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng “Này chư Phíc-khú, bốn thứ pháp không có những ai dù cho Sa Môn hoặc Bà La Môn hay Chư thiên, Ma Vương cùng Phạm Thiên cho đến tất cả người trong đời không ai bảo đảm đặng”. Bốn pháp chi? (1) Sự già của người, dĩ nhiên mà bảo đừng già như thế không có một ai dù cho Sa Môn, Bà La Môn, Chư thiên, Ma Vương cho đến Phạm Thiên luôn cả người trong đời không ai sẽ là người bảo đảm đặng. (2) Sự đau theo lẽ thường của người mà bảo đừng đau ... (3) Sự chết theo lẽ thường của người mà bảo đừng chết. (4) Những tội ác ẩn theo phiền não làm nhơn sanh đời mới có cái khổ làm lời, có dị thục quả thành khổ hiện hành để cho sanh, lão, tử sau này cũng do hành động của người khi trước mà đừng cho quả của tất cả nghiệp ấy sanh ra, như thế chẳng có một ai dù cho Sa Môn, Bà La Môn, Chư thiên, Ma Vương, Phạm Thiên luôn cả trong đời sẽ không ai bảo đảm đặng. Này chư Phíc-khú, chính bốn pháp này không có một ai dù Sa Môn, Bà La Môn, Chư thiên, Ma Vương, Phạm Thiên cho đến cả trong đời không ai sẽ là người bảo đảm đặng”. Đây là bài Kinh hẳn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó không nên nói người hiệp với sức thần thông đặng sống luôn cả kiếp chớ gì.

    Dứt Thần thông lực ngữ

    ---

    ĐỊNH NGỮ (SAMĀDHI KATHĀ)

    1466.

    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp thành định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp (santati) phần quá khứ thành định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp thành Định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp nơi vị lai thành định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp thành Định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Quá khứ cũng đã diệt, vị lai cũng sẽ sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà quá khứ đã diệt, vị lai sẽ sanh thời không nên nói tâm liên tiếp (Santati) thành Định.

    1467.

    • Phản ngữ: Định hành vi trong mỗi sát-na tâm phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người đầy đủ với Nhãn thức gọi là người nhập thiền phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Bực người đầy đủ với Nhĩ thức ... Người đầy đủ với Tỷ thức ... Người đầy đủ với Thiệt thức ... Người đầy đủ với Thân thức ... Người đầy đủ với tâm bất thiện ... Người đầy đủ với tâm đồng sanh Ái ... Người đầy đủ với tâm đồng sanh Sân ... Người đầy đủ với tâm đồng sanh Si ... Người đầy đủ với tâm đồng sanh Vô úy gọi là người nhập thiền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    1.  
    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp (Santati) là định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự liên tiếp của tâm bất thiện là định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tâm liên tiếp đồng sanh với Ái ... đồng sanh với Sân ... đồng sanh với Si ... đồng sanh với Vô úy thành định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1469.

    • Phản ngữ: Chớ nói rằng tâm liên tiếp thành định phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng “Này Pháp hiền đệ, Chư Ni Kiền Tử, Như Lai đây có thể sẽ làm cho thân không lay động, miệng không nói năng, thành người chỉ thọ lạc luôn 7 ngày đêm”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì tâm liên tiếp cũng là định chớ gì.

    Dứt Định ngữ

    ---

    PHÁP TRỤ NGỮ (DHAMMAṬṬHITATĀ KATHĀ)

    1470.

    • Tự ngôn: Pháp trụ là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự đình trụ của pháp đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự đình trụ của pháp đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự đình trụ đó hẳn không có cách làm cho tuyệt khổ, không có cách dứt tuyệt luân hồi, không có Níp-bàn Phi y sinh (Anupādā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1471.

    • Tự ngôn: Sự trụ của pháp là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trụ, cách vững vàng của Sắc đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự đình trụ là cách vững vàng của Sắc đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự đình trụ những đó vậy không có cách làm cho tuyệt khổ, không có cách dứt luân hồi, không có Níp-bàn phi y sinh (Anupādā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự đình trụ của Thọ ... sự đình trụ của Tưởng ... sự đình trụ của Hành ... sự đình trụ của Thức là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự đình trụ cách vững vàng của Thức đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự đình trụ cách vững vàng của Thức đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự đình trụ những đó vậy không thể làm cho tuyệt khổ, không có dứt luân hồi, chẳng có Níp-bàn phi thủ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Pháp trụ ngữ

    ---

    VÔ THƯỜNG NGỮ (ANICCATĀKATHĀ)

    1472.

    • Tự ngôn: Vô thường là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự không bền của vô thường đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự không bền của vô thường đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vô thường những đó vậy không có cách tuyệt khổ, không có dứt luân hồi, không có Níp-bàn phi y sinh (Anupādā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1473.

    • Tự ngôn: Lão là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự già của lão đó cũng là thái độ đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự già của lão đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự già những đó vậy không có cách tuyệt khổ, chẳng có sự dứt luân hồi, không có Níp-bàn phi y sinh (anupādā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1474.

    • Tự ngôn: Tử là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: cái chết của tử đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: cái chết của tử đó cũng là trạng thái đã thành tựu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: cái chết những đó vậy không có cách tuyệt khổ, chẳng có sự dứt luân hồi, không có Níp-bàn phi y sinh (anupādā) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1475.

    • Tự ngôn: Sắc là trạng thái đã thành tựu nhưng sự vô thường của Sắc cũng có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự vô thường là trạng thái đã thành tựu, nhưng sự không bền của vô thường cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc là trạng thái đã thành tựu nhưng sự già của Sắc cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão là trạng thái đã thành tựu nhưng sự già của lão cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sắc là trạng thái đã thành tựu nhưng sự bể, sự hư của Sắc cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tử là trạng thái đã thành tựu nhưng sự bể, sự hư của tử cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thọ ... Tưởng ... Hành ... Thức là trạng thái đã thành tựu nhưng sự vô thường của Thức cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô thường là trạng thái đã thành tựu nhưng sự không thường của vô thường cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thức là trạng thái đã thành tựu nhưng sự lão của Thức cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão là trạng thái đã thành tựu nhưng sự già của lão cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thức là trạng thái đã thành tựu nhưng sự bể, sự hư của Thức ấy cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tử là trạng thái đã thành tựu nhưng sự bể, sự hư của tử cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Vô Thường ngữ

    Hết phẩm thứ mười một

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.