Đại phẩm thứ Năm: Giải thoát ngữ, đạt thông ngữ, vị lai trí ngữ, ...

Đại phẩm thứ Năm: Giải thoát ngữ, đạt thông ngữ, vị lai trí ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o-- 
    TẠNG VÔ TỶ PHÁP (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)
    CẢO BẢN
    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM THỨ NĂM

    ---

    GIẢI THOÁT NGỮ (VIMUTTAKATHĀ)

    1026.

    • Tự ngôn: Trí giải thoát gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát chẳng hạng thứ nào đều gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí trong khi phản khán gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của người Chuyển Biến (Gotrabhū) gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1027.

    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Dự Lưu gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí của bực Dự Lưu là trí của người đến, đắc đơn độc, chứng, làm cho rõ quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí của bực Nhứt Lai là trí của người đến, đắc đơn độc, chứng, làm cho rõ quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí của bực Bất Lai, trí của bực người đến, đắc đơn độc, chứng, làm cho rõ quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí của La Hán gọi là trí của bực đến, đắc đơn độc, chứng, làm cho rõ quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1028.

    • Tự ngôn: Trí của bực người có sự hội hợp với quả Dự Lưu gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Dự Lưu gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hợp với quả Nhứt Lai gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hợp với quả Bất Lai gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hiệp với quả La Hán gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán gọi là đã giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1029.

    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hợp với quả Dự Lưu gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Dự Lưu gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hiệp với quả Nhứt Lai gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hợp với quả Bất Lai gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành đó làm cho rõ quả Bất Lai gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người có sự hội hợp với quả La Hán gọi rằng đã giải thoát và đó là trí của bực người chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí giải thoát của bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán gọi là đã giải thoát và đó là trí của bực người chứng quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Giải thoát ngữ

    ---

    VÔ HỌC TRÍ NGỮ (ASEKKHAÑĀṆAKATHĀ)

    1030.

    • Tự ngôn: Bực hữu học có trí của bực vô học phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực hữu học biết thấy pháp của bực vô học đặng, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân, chính pháp của bực hữu học đã tự thấy đã hiểu, đã làm cho rõ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Pháp của bực vô học mà bực hữu học biết không đặng, thấy không đặng, khi không đặng thấy, không đặng biết cũng vào đến không đặng, đụng chạm đến thân không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói pháp của bực vô học mà bực hữu học biết không đặng, thấy không đặng, khi không đặng thấy, không đặng biết, không đặng làm cho rõ cũng vào đến không đặng, đụng chạm với thân không đặng thời không nên nói bực hữu học có trí của bực vô học.

    1031.

    • Tự ngôn: Bực vô học có trí của bực vô học, bực vô học quyết thấy pháp của bực vô học đặng, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân; chính Pháp của bực vô học đã tự thấy, đã biết rõ, đã làm cho rõ đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực hữu học có trí của bực vô học, bực hữu học biết thấy pháp của bực vô học đặng, vẫn vào đến, vẫn đụng chạm với thân, chính pháp của bực vô học mà đã tự thấy, đã biết, đã làm cho rõ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1032.

    • Tự ngôn: Bực hữu học có trí của bực vô học, nhưng pháp của bực vô học thời bực hữu học biết không đặng, thấy không đặng, khi chẳng đặng thấy, chẳng đặng biết, chẳng đặng làm cho rõ, cũng vào đến không đặng, đụng chạm đến thân không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực vô học có trí của bực vô học nhưng pháp của bực vô học mà bực vô học biết không đặng, thấy không đặng, khi chẳng đặng thấy, chẳng đặng biết, chẳng đặng làm cho rõ, cũng vào không đặng, đụng chạm với thân không đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1033.

    • Tự ngôn: Bực hữu học có trí của bực vô học phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người Chuyển Biến (Gotrabhū) có trí trong đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Dự Lưu có trí trong quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai ... để làm cho rõ quả Bất Lai ... để làm cho rõ quả La Hán có trí trong quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1034.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực hữu học có trí của bực vô học phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài Ānanda khi chưa thành hữu học cũng biết đặng rằng Đức Xá Lợi Phất Trưởng lão, Đức Đại Mục Kiền Liên Trưởng lão, có công đức cao tột phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài Ānanda khi chưa thành hữu học cũng biết đặng rằng Phật có công đức cao tột, biết đặng rằng Đức Xá Lợi Phất Trưởng lão, Đức Đại Mục Kiền Liên Trưởng lão có công đức cao tột, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực hữu học có trí của bực vô học.

    Dứt vô học trí ngữ

    ---

    HUYỄN BIẾN NGỮ (VIPARĪTA KATHĀ)

    1035.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất, có sự biết huyễn biến (viparita) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có sự thấy sai trong chân tướng chỗ vô thường cho là thường phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Có sự thấy sai trong thật tướng nơi thành khổ cho là lạc phải chăng? ... có sự thấy sai trong thật tướng nơi thành vô ngã cho là hữu ngã ... có sự thấy sai trong chơn tướng chỗ không đẹp cho là đẹp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1036.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất, có sự biết huyễn biến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thành thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà thành thiện thời không nên nói bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến.

    1037.

    • Tự ngôn: Thật tướng nơi vô thường thấy là thường, thành sự thấy sai và đó là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất, có sự biết huyễn biến và đó là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thật tướng nơi thành khổ thấy rằng là lạc ... thật tướng nơi thành vô ngã thấy là hữu ngã, thật tướng nơi không tốt đẹp thấy là tốt đẹp, thành sự thấy sai và đó là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến và đó là bất thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1038.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến đó là thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thật tướng nơi vô thường thấy là thường và đó là thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có đề mục đất, có sự biết huyễn biến và đó là thiện phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chơn tướng mà thành khổ thấy cho là lạc ... chơn tướng nơi thành vô ngã thấy rằng là hữu ngã, chơn tướng nơi không đẹp thấy rằng tốt đẹp, thành sự thấy sai và đó là thiện phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1039.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất, có sự biết huyễn biến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán phải nhập thiền có cảnh đề mục đất phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán phải nhập thiền có cảnh đề mục đất thời không nên nói bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến.

    1040.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến, bực La Hán phải nhập thiền có cảnh đề mục đất phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán còn có sự vẫn thấy sai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1041.

    • Tự ngôn: Bực La Hán còn có sự vẫn thấy sai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán còn có sự công nhận sai, có sự suy xét sai, vẫn có sự thấy sai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1042.

    • Tự ngôn: Bực La Hán không có sự công nhận sai, không suy xét sai, không nhận thấy sai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực La Hán không có sự công nhận sai, không có sự suy xét sai, không có sự nhận thấy sai thời không nên nói bực La Hán còn có sự vẫn nhận thấy sai.

    1043.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đề mục đất hiện cho bực đang nhập thiền có cảnh đề mục đất chỉ thành đất luôn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó bực nhập thiền có đề mục đất cũng có sự biết huyễn biến chớ gì!

    1044.

    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đất vẫn có và người mà nhập đề mục đất từ đất cũng vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà đất vẫn có và người mà nhập đề mục đất từ đất cũng vẫn có thời không nên nói bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến.

    1045.

    • Tự ngôn: Đất vẫn có nhưng sự biết của bực nhập đề mục đất từ đất thành sự biết huyễn biến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Níp-bàn vẫn có nhưng sự biết của bực nhập thiền có cảnh Níp-bàn từ Níp-bàn cũng là sự biết huyễn biến phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu cách đó thời không nên nói bực nhập thiền có cảnh đề mục đất có sự biết huyễn biến.

    Dứt Huyễn biến ngữ

    ---

    NHỨT ĐỊNH NGỮ (NIYĀMA KATHĀ)

    1046.

    • Tự ngôn: Bực người bất định (phàm phu) có trí để đi đến con đường nhứt định (Thánh Đạo) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Nhứt định (Thánh nhân) có trí để đi đến pháp hiệp thế mà chẳng phải con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    1047.

    • Tự ngôn: Bực người Nhứt định không có trí để đi đến pháp hiệp thế mà không phải đường lối nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người bất định không có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1048.

    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người Nhứt định có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1049.

    • Tự ngôn: Bực người Nhứt định không có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người bất định không có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1050.

    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến pháp hiệp thế không phải đường lối nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1051.

    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến pháp hiệp thế mà chẳng phải con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người bất định không có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1052.

    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người bất định có con đường nhứt định hầu đi đến đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1053.

    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người bất định có Niệm xứ, Chánh cần, Như ý túc, Quyền, Lực, Giác chi để đi đến con đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1054.

    • Tự ngôn: Bực người bất định không có con đường nhứt định để đi đến đường nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người bất định không có con đường nhứt định để đi đến đường nhứt định thời không nên nói bực người bất định có trí để đi đến con đường nhứt định.

    1055.

    • Tự ngôn: Bực người bất định không có Niệm xứ ... Giác chi để đi đến đường lối nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người bất định không có Giác chi để đi đến đường lối nhứt định thời không nên nói bực người bất định có trí để đến đường nhứt định.

    1056.

    • Tự ngôn: Bực người bất định có trí để đi đến đường lối nhứt định phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người Chuyển Biến (Gotrabhū) có trí trong đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1057.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Dự Lưu có trí trong quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai ... để làm cho rõ quả Bất Lai ... để làm cho rõ quả La Hán có trí trong quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1058.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực người bất định có trí để đi đến con đường bất định phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Người này sẽ bước vào đến con đường nhứt định để đặng đúng sự, người này là bực đáng để sẽ chứng pháp này phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài có phán người này sẽ bước xuống đến con đường nhứt định để đặng đúng sự, người này là bực đáng để đặng sẽ chứng pháp. Chính do nhân đó Ngài mới nói rằng bực người bất định có trí để đi đến con đường nhứt định.

    Dứt Nhứt định ngữ

    ---

    ĐẠT THÔNG NGỮ (PAṬISAMBHIDĀKATHĀ)

    1059.

    • Tự ngôn: Sự biết tất cả thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự biết chế định (sammati) là đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự biết chế định là đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi một hạng người nào biết chế định tất cả bực người ấy thành bực đã đến đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự biết tất cả là đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự biết trong cách chăm chú hiểu tâm của người khác thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự biết trong cách chăm chú tâm người khác thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Mỗi một hạng người nào biết tâm của người khác, tất cả hạng người ấy thành bực đã đến đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1060.

    • Tự ngôn: Sự biết tất cả thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tuệ tất cả thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó..
    • Tự ngôn: Tuệ tất cả thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục đất cũng có tuệ đó thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực nhập thiền có cảnh đề mục nước ... có cảnh đề mục lửa ... có cảnh đề mục gió ... có cảnh đề mục màu xanh ... có cảnh đề mục màu vàng ... có cảnh đề mục màu đỏ ... có cảnh đề mục màu trắng ... Bực nhập thiền Không vô biên xứ ... Bực nhập thiền Thức vô biên xứ ... Bực nhập thiền Vô sở hữu xứ ... Bực nhập thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ ... Người bố thí ... Người dâng y... Người dâng bát ... Người dâng tọa cụ ... Người dâng y dược vật dụng cũng có tuệ mà tuệ ấy thành đạt thông phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1061.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng sự biết tất cả thành đạt thông phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Tuệ mà thành siêu thế vẫn có, tuệ ấy không thành đạt thông phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó sự biết tất cả cũng thành đạt thông chớ gì!

    Dứt Đạt thông ngữ

    TỤC TRÍ NGỮ (SAMMATIÑĀṆA KATHĀ)

    1062.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tục trí (sammatiñāṇa) chỉ có đế làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người nhập thiền có cảnh đề mục đất có trí và đề mục đất là tục đế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực người nhập thiền cảnh đề mục đất có trí và đề mục đất là tục đế, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tục trí chỉ có đế làm cảnh chớ không có pháp khác làm cảnh.

    1063.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói tục trí chỉ có đế làm cảnh không có pháp khác làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người nhập thiền cảnh đề mục nước ... cảnh đề mục lửa ... Bực người đang dâng y dược, vật dụng có trí và y dược vật dụng là tục đế phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực người vẫn cho y dược vật dụng có trí và y dược vật dụng thành tục đế, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng tục trí chỉ có đế làm cảnh không có pháp khác làm cảnh.

    1064.

    • Tự ngôn: Tục trí chỉ có đế làm cảnh không có pháp khác làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chăm chú biết Khổ đặng, trừ Tập đặng, làm cho Diệt rõ đặng, còn làm cho Đạo sanh đặng bằng trí ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tục trí ngữ

    ---

    TÂM CẢNH NGỮ (CITTĀRAMMAṆA KATHĀ)

    1065.

    • Tự ngôn: Sự rõ trong cách chăm chú biết tâm người khác chỉ có tâm làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có người khi tâm có ái cũng biết rõ là tâm có ái phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà cũng có người khi tâm có ái cũng biết rõ là tâm có ái thời không nên nói sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm của người khác chỉ có tâm làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh.
    • Tự ngôn: Cũng có người khi tâm xa lìa ái cũng biết rằng tâm xa lìa ái ... khi tâm có sân ... khi tâm có si, khi tâm lìa si, khi tâm thùy miên, khi tâm Phóng dật, khi tâm đáo đại, khi tâm phi đáo đại, khi tâm hữu thượng, khi tâm vô thượng, khi tâm định, khi tâm phi định, khi tâm giải thoát, khi tâm chưa giải thoát cũng biết rõ là tâm chưa giải thoát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà có người khi tâm chưa giải thoát cũng biết rõ tâm chưa giải thoát thời không nên nói sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm của người khác chỉ có tâm làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh.

    1066.

    • Tự ngôn: Sự hiểu chăm chú biết tâm người khác phải nói rằng sự hiểu trong cảnh tức là Xúc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác phải nói rằng sự biết trong cảnh tức là Xúc thời không nên nói sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác chỉ có tâm làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh.
    • Tự ngôn: Sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác phải nói rằng sự biết trong cảnh tức là Thọ, nói sự biết trong cảnh tức là Tưởng, nói sự biết trong cảnh tức là Tư, nói sự biết trong cảnh tức là Tầm, nói sự biết trong cảnh tức là Tín, nói sự biết trong cảnh tức là Cần, nói sự biết trong cảnh tức là Niệm, nói sự biết trong cảnh tức là Định, nói sự biết trong cảnh tức là Tuệ, nói sự biết trong cảnh tức là Ái ... nói sự biết trong cảnh tức là Sân ... nói sự biết trong cảnh tức là Vô úy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác phải nói rằng sự biết trong cảnh tức là Vô úy thời không nên nói sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác chỉ có tâm làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh.

    1067.

    • Tự ngôn: Sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác không nên nói sự biết trong cảnh tức là Xúc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hiểu trong cách chăm chú biết Xúc phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác không nên nói sự biết trong cảnh tức là Thọ ... không nên nói sự biết trong cảnh tức là Tưởng ... không nên nói sự biết trong cảnh tức là Vô úy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành sự hiểu trong cách chăm chú biết Vô úy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1068.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác chỉ có tâm làm cảnh, không có pháp khác làm cảnh phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Thành sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà thành sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng sự hiểu trong cách chăm chú biết tâm người khác chỉ có tâm làm cảnh chớ không có pháp khác làm cảnh.

    Dứt Tâm cảnh ngữ

    ---

    VỊ LAI TRÍ NGỮ (ANĀGATAÑĀṆAKATHĀ)

    1069.

    • Tự ngôn: Sự biết vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị lai biết đặng bằng căn (mūla), biết đặng bằng nhân (hetu), biết đặng bằng sự tích (nidāna), biết đặng bằng nghiệp hữu (sambhavato), biết đặng bằng sanh hữu (pabhavato), biết đặng bằng sở y sinh (samuṭṭhāna), biết đặng bằng vật thực, biết đặng bằng cảnh, biết đặng bằng duyên (paccaya), biết đặng bằng tập (samudaya) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1070.

    • Tự ngôn: Sự biết quá khứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Biết sự thành Nhân duyên (Hetupaccaya) nơi vị lai đặng, biết sự thành Cảnh duyên (Ārammaṇapaccaya) nơi vị lai đặng, biết sự thành Trưởng duyên (Adhipaṭipaccaya) nơi vị lai đặng, biết sự thành Vô Gián duyên (Anantarapaccaya) nơi vị lai đặng, biết sự thành Liên Tiếp duyên (Samanantarapaccaya) nơi vị lai đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1071.

    • Tự ngôn: Trí vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Biến Chuyển (Gotrabhū) có trí trong đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Dự Lưu có trí trong quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai ... để làm cho rõ quả Bất Lai ... để làm cho rõ quả La Hán có trí trong quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1072.

    • Tự ngôn: Chớ nên nói rằng trí vị lai vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Ānanda, ba thứ nạn sẽ sanh đến thành Hoa Thị (Pātalīputta) tức là từ nơi lửa, hay từ nơi nước, hoặc từ nơi cách chia rẽ sự đoàn kết”. Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó, vị lai trí cũng vẫn có chớ gì!

    Dứt Vị lai trí ngữ

    ---

    HIỆN TẠI TRÍ NGỮ (PACCUPPANNAKATHĀ)

    1073.

    • Tự ngôn: Hiện tại trí vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người trí biết đặng bằng trí đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người trí biết đặng bằng trí đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người trí biết đặng trí đó là sự biết bằng trí đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Người trí biết đặng trí đó là sự biết bằng trí đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trí đó là cảnh của trí đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Trí đó là cảnh của trí đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người đụng chạm xúc đó đặng bằng Xúc đó, hưởng thọ đó bằng Thọ đó, nhớ cái tưởng đó bằng Tưởng đó, cố quyết đó bằng Tư (cetanā) đó, suy xét tâm đó đặng bằng Tâm đó, nghĩ ngợi đó đặng bằng Tầm đó, gìn giữ đó bằng Tứ đó, hưởng mừng đó đặng bằng Hỷ đó, nhớ đặng đó bằng Niệm đó, biết rõ tuệ đó đặng bằng Tuệ đó, chặt gươm đó đặng bằng gươm đó, chém phản đó đặng bằng phản đó, cào cái bồ cào đó đặng bằng bồ cào đó phải chăng? Chặt dao đó bằng dao đó phải chăng? May kim đó đặng bằng kim đó phải chăng? Chà sát ngọc hành đó đặng bằng ngọc hành đó phải chăng? Chà sát âm hộ đó đặng bằng âm hộ đó phải chăng? Chà cái đầu đó đặng bằng cái đầu đó phải chăng? Rửa phẩn đó đặng bằng phẩn đó phải chăng? Rửa mũi dãi đó bằng mũi dãi đó phải chăng? Rửa đàm đó đặng bằng đàm đó phải chăng? Rửa mủ đó đặng bằng mủ đó phải chăng? Rửa máu đó đặng bằng máu đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1074.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng trí biết hiện tại hẳn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Khi người tu đang tỏ ngộ thấy các pháp hành vi bằng vô thường, dĩ nhiên cái trí đó người tu ấy cũng đặng thấy bằng sự thành đồ vô thường luôn phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà khi người tu đang tỏ ngộ thấy các pháp hành vi bằng vô thường, dĩ nhiên cái trí đó người tu ấy cũng đặng thấy bằng sự thành đồ vô thường luôn. Chính do nhân đó Ngài mới nói rằng trí hiện tại vẫn có.

    Dứt Hiện tại trí ngữ

    ---

    QUẢ TRÍ NGỮ (PHALAÑĀNAKATHĀ)

    1075.

    • Tự ngôn: Bực Thinh Văn có quả trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách biết sự thái quá, sự bất cập của quả, cách biết sự thái quá sự bất cập của quyền, cách biết sự thái quá sự bất cập của người bực Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực Thinh Văn có quả trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cách chế định uẩn, cách chế định xứ, cách chế định giới, cách chế định đế, cách chế định quyền, cách chế định người của bực Thinh Văn vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực Thinh Văn có quả trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Thinh Văn thành bực Phật, thành bực Giáo chủ, thành Chánh Đẳng Chánh Giác, thành bực Toàn Giác, thành bực thấy tất cả pháp, thành Giáo chủ của pháp, thành chỗ nương đỡ hiện bày của pháp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực Thinh Văn có quả trí phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Thinh Văn là bực làm cho đạo chưa sanh đặng sanh, là bực làm cho đạo chưa sanh đặng sanh đầy đủ, là bực tường thuật đạo mà ai ai chưa đặng tường thuật thành bực biết đạo, thành bực biết rõ đạo, thành bực khôn khéo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1076.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực Thinh Văn có quả trí phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bậc Thinh Văn là người không có trí phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó bậc Thinh Văn cũng có quả trí chớ gì!

    Dứt Quả trí ngữ

    Dứt Phẩm thứ năm

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.