Đại phẩm thứ Tư: Cư sĩ ứng cúng ngữ, tướng hảo ngữ, phát sinh ngữ, ...

Đại phẩm thứ Tư: Cư sĩ ứng cúng ngữ, tướng hảo ngữ, phát sinh ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA 

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP (ABHIDHAMMAPIṬAKA) 

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU) 

    CẢO BẢN 

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Saṅtakicco

    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt 

    --- 

    PHẨM THỨ TƯ 

     

     

    CƯ SĨ ỨNG CÚNG NGỮ (GAHISSA ARAHĀTIKATHĀ)

    867.

    • Tự ngôn: Cư sĩ đáng thành La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán Cư sĩ vẫn còn có triền phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.
    • Tự ngôn: La Hán Cư sĩ không còn triền phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói La Hán Cư sĩ không có triền, thời không nên nói cư sĩ đáng thành La Hán đặng.

    868.

    • Tự ngôn: Cư sĩ đáng thành La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán Cư sĩ đã trừ tuyệt triền, nhổ gốc rễ rồi, làm cho đặng như cây thốt nốt đứt đọt không còn sanh ra nữa sau này đã là lẽ thường phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói cư sĩ La Hán đã trừ tuyệt triền, nhổ gốc rễ rồi làm như cây thốt nốt đứt đọt cho sau này không sanh đặng nữa đã lẽ thường thời không nên nói rằng cư sĩ đáng thành La Hán đặng.

    869.

    • Tự ngôn: Cư sĩ đáng thành La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cư sĩ ra sao mới không đặng trừ cư sĩ triền rồi thành bực làm cho khỏi nơi khổ đặng, chính ngay trong hiện tại vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nếu nói cư sĩ ra sao chưa đặng trừ cư sĩ triền, rồi thành bực làm cho khỏi nơi khổ ngay trong hiện tại chẳng có thời không nên nói rằng cư sĩ đáng thành La Hán đặng như thế.

    870.

    • Tự ngôn: Cư sĩ đáng thành La Hán đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Kẻ ngoại đạo người giống Độc (sacchagotto) đến đảnh lễ Đức Phật rồi bạch như vầy: “Dạ, bạch Đức Gotama, cư sĩ chi chi mà còn chưa đặng trừ cư sĩ triền rồi thành bực làm cho khỏi nơi khổ đặng bởi thân hoại vẫn có phải chăng? Đức thế Tôn ngài phán rằng, nầy họ Độc (sacchagotto), không có cư sĩ chi chi mà chưa đặng trừ cư sĩ triền rồi thành bực làm cho khỏi nơi khổ đặng vì thân hoại”. Thế nầy là bài Kinh vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói cư sĩ đáng thành La Hán đặng như thế.

    871.

    • Tự ngôn: Cư sĩ đáng thành La Hán đặng phải chăng?
    • Tự ngôn: La Hán phải hưởng pháp dục, phải còn pháp dục cho sanh lên, phải nằm mà nơi nằm chen chúc với con, phải dùng vải nhung và nhuyễn, phải chưng diện bằng bông đồ thơm, đồ thoa xức, phải ưa thích bạc vàng, phải thu nhận dê, trừu, gà, heo, phải thâu nhận voi, bò, ngựa, la, phải thâu nhận chim chá-cô, chim âm-thuần, gà đuôi công, phải có kẹp bướm, có tủ màu vàng, chữ vải trắng, có dây đai dài, phải thành người giữ nhà trọn đời phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    872.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng cư sĩ đáng thành La Hán đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ông Tước Lộc công tử (Yasakulaputta), ông Ngôn Ngữ gia trưởng (Uttiya gahapati), ông Kiều Lương thanh niên (Setumāṇavo) đắc chứng La Hán luôn khi còn cư sĩ phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà nói ông Tước Lộc công tử, ông Ngôn Ngữ gia trưởng, ông Kiều Lương thanh niên đắc chứng La Hán luôn khi còn cư sĩ, chính do nhân đó, Ngài mới nói cư sĩ đáng thành La Hán đặng.

    Dứt Cư Sĩ Ứng Cúng ngữ

    ---

    PHÁT SINH NGỮ (UPAPATTIKATHA)

    873.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đồng với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Dự Lưu đồng với cách thoát sanh cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    874.

    • Tự ngôn: Thành La Hán chung với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Nhứt Lai chung với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    875.

    • Tự ngôn: Thành La Hán chung với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Bất Lai đồng với cách thoát sanh cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    876.

    • Tự ngôn: Thành Dự Lưu hợp với cách thoát sanh không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành Dự Lưu hợp với cách thoát sanh không đặng cũng không nên nói thành La Hán hợp với cách thoát sanh đặng.

    877.

    • Tự ngôn: Thánh Nhứt Lai hợp với cách thoát sanh không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành Nhứt Lai hợp với cách thoát sanh không đặng thời không nên nói thành La Hán hợp với cách thoát sanh đặng.

    878.

    • Tự ngôn: Thành Bất Lai hợp với cách thoát sanh không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói thành bực Bất Lai đồng đều với cách thoát sanh không đặng thời không nên nói thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng.

    879.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đều đồng với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Xá Lợi Phất Trưởng lão thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đức Mục Kiền Liên Trưởng lão ... Đức Đại Ca Diếp Trưởng lão ... Đức Đại Ca Chiên Diên Trưởng lão ... Đức Đại Cu Hy La Trưởng lão, Đức Ly Bàn Đa Trưởng lão thành La Hán đều đồng với cách thoát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    880.

    • Tự ngôn: Đức Xá Lợi Phất Trưởng lão không đặng thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói Đức Xá Lợi Phất Trưởng lão không đặng thành La Hán đều đồng với cách thoát sanh thời không nên nói thành La Hán đều đồng với cách thoát sanh đặng.

    881.

    • Tự ngôn: Đức Đại Mục Kiền Liên Trưởng lão ... Đức Đại Ca Diếp Trưởng lão, Đức Đại Ca Chiên Diên Trưởng lão, Đức Đại Cu Ly Bàn Đa Trưởng lão...

    882.

    • Tự ngôn: Đức Ma-ha-banh-tha-ka (Mahāpañṭhaka) Trưởng lão không đặng thành La Hán đều đồng với cách thoát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói Đức Mahāpañṭhaka Trưởng lão không đặng thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh thời cũng không nên nói thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng.

    883.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Làm cho rõ ngôi La Hán đặng bằng thứ tâm tìm kiếm cách thoát sanh mà thành hiệp thế có lậu ... hiệp với phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    884.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thứ tâm tìm tòi cách thoát sanh thành nhân đưa ra khỏi luân hồi cho đến sự tuyệt mất, cho đến sự đắc chứng, cho đến Níp-bàn, không thành cảnh của lậu ... không thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    885.

    • Tự ngôn: Tâm tìm kiếm cách thoát sanh không thành nhân đưa ra khỏi luân hồi, không thành pháp cho đến sự dứt tuyệt, không thành pháp cho đến sự đắc chứng, không thành pháp cho đến Níp-bàn, thành cảnh của lậu ... thành cảnh của phiền não phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói tâm tìm cách thoát sanh không thành nhân đưa khỏi luân hồi, không thành pháp làm cho đến sự dứt đi, không thành pháp làm cho đến sự đắc chứng, không thành pháp làm cho đến Níp-bàn, còn thành cảnh của lậu, thành cảnh của phiền não thời không nên nói thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng.

    886.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trừ Ái đặng, trừ Sân đặng, trừ Si đặng ... trừ Vô úy đặng bằng tâm tìm kiếm cách thoát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    887.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm tìm tòi cách thoát sanh thành đạo ... thành Niệm xứ, thành Chánh cần, thành Như ý túc, thành Quyền, thành lực, thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    888.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đồng đều với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chăm chú biết Khổ, trừ Tập, làm cho rõ Diệt, có thể làm cho rõ Đạo phát sanh bằng tâm tìm tòi cách thoát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    889.

    • Tự ngôn: Thành La Hán đều đồng với cách thoát sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm tử là tâm đạo, tâm tìm tòi cách thoát sanh là tâm quả phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    Dứt Phát sanh ngữ

    ---

    PHI CẢNH LẬU NGỮ (ANASAVAKATHA)

    890.

    • Tự ngôn: Tất cả pháp của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Dự Lưu, thành quả Dự Lưu, thành đạo Nhứt Lai, thành quả Nhứt Lai, thành đạo Bất Hườn, thành quả Bất Hườn, thành đạo Ứng Cúng, thành quả Ứng Cúng, thành Niệm xứ, thành Chánh cần, thành Như ý túc, thành Quyền, thành Lực, thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    1.  
    • Tự ngôn: Tất cả pháp của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nhãn của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhãn của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Dự Lưu, thành quả Dự Lưu ... thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhĩ của La Hán ... Tỷ của La Hán ... Thiệt của La Hán ... Thân của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    892.

    • Tự ngôn: Thân của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành đạo, thành quả, thành Níp-bàn, thành đạo Dự Lưu, thành quả Dự Lưu ... thành Giác chi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    893.

    • Tự ngôn: Thân của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân của La Hán còn vào đến cách nâng đỡ và đè nén, còn vào đến cách chặt phá, còn vào cách cắt đoạn và phá hư dành cho cả bầy quạ, bầy diều hâu, kên kên phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp mà không thành cảnh của lậu có thể vào đến cách nâng đỡ và cách đè nén, còn vào đến cách chặt phá, cắt đoạn và phá hư dành cho cả bầy quạ, bầy diều hâu, bầy kên kên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    894.

    • Tự ngôn: Chất độc có thể vào, khí giới có thể vào, lửa có thể vào trong thân của La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chất độc, binh khí, lửa có thể vào trong pháp mà không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    895.

    • Tự ngôn: Thân của La Hán còn sẽ giam cầm bằng đồ giam cầm tức là cái còng, bằng đồ giam cầm tức là dây, bằng đồ giam cầm tức là còng chân, bằng đồ giam cầm tức là nhà, bằng đồ giam cầm tức là tập trung thôn, bằng đồ giam cầm tức là phủ, bằng đồ giam cầm tức là nông thôn, với đồ giam cầm năm cách đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Pháp mà không thành cảnh của lậu sẽ còn giam hãm bằng đồ giam cầm tức là cái còng, bằng đồ giam cầm tức là dây, bằng đồ giam cầm tức là còng chân, bằng đồ giam cầm tức là nhà, bằng đồ giam cầm tức là tập trung thôn, bằng đồ giam cầm tức là phủ, bằng đồ giam cầm tức là nông thôn, với đồ giam cầm năm cách đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    896.

    • Tự ngôn: Dả như nói rằng La Hán cho y đến phàm phu thì y đó không thành cảnh của lậu rồi thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Y ấy không thành cảnh của lậu rồi thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Của không thành cảnh lậu cái đó, của thành cảnh lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Của không thành cảnh lậu cái đó, của thành cảnh lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo không thành cảnh lậu rồi sau thành cảnh lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả, Niệm xứ, Chánh cần, Như ý túc, Quyền, Lực, Giác chi không thành cảnh của lậu rồi sau thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    897.

    • Tự ngôn: Dả như La Hán cho bát, cho tọa cụ, cho thuốc men, vật dụng đến phàm phu thì thuốc men, vật dụng đó không thành cảnh của lậu rồi sau thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thuốc men, vật dụng đó không thành cảnh của lậu rồi sau thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Của mà không thành cảnh của lậu cái đó, của mà thành cảnh của lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Của mà không thành cảnh của lậu cái đó, mà thành cảnh của lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo không thành cảnh của lậu rồi sau thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Quả, Niệm xứ, Chánh cần, Như ý túc, Quyền, Lực, Giác chi không thành cảnh của lậu rồi sau thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    898.

    Tự ngôn: Dả như phàm phu dưng y đến La Hán thì y đó thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    899.

    • Tự ngôn: Y ấy thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Của mà thành cảnh của lậu cái đó, của mà không thành cảnh của lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Của mà thành cảnh lậu cái đó, của mà không thành cảnh lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sân, Si … Vô úy thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    900.

    Tự ngôn: Dả như phàm phu dâng bát, dâng thuốc, các thứ vật dụng đến La Hán, vậy thuốc và các thứ vật dụng đó trước thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    901.

    • Tự ngôn: Thuốc luôn cả vật dụng đó thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Của mà thành cảnh của lậu cái đó, của mà không thành cảnh của lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Của mà thành cảnh của lậu cái đó, của mà không thành cảnh của lậu cũng cái đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sân ... Si ... Vô úy thành cảnh của lậu rồi sau không thành cảnh của lậu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    902.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng tất cả pháp của La Hán không thành cảnh của lậu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: La Hán thành bực không có lậu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu nói La Hán thành bực không có lậu chính do nhân đó mới nói rằng tất cả pháp của La Hán không thành cảnh lậu như thế.

    Dứt Phi cảnh lậu ngữ

    ---

    TÙNG HIỆP NGỮ (SAMANNAGATAKATHA)

    903.

    • Tự ngôn: La Hán tùng hiệp với tứ quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán tùng hiệp với tứ Xúc, với tứ Thọ, với tứ Tưởng, với tứ Tầm, với tứ Tín, với tứ Cần, với tứ Niệm, với tứ Định, với tứ Tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    904.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai có tùng hiệp với tam đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai có tùng hiệp với tam Xúc ... với tam Tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    905.

    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai tùng hiệp với nhị quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai tùng hiệp với nhị Xúc ... với nhị Tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    906.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán thành Dự Lưu, bực Thất Lai, bực Lục Lai, bực Nhứt Lai (Ekabījī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán thành bực Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán thành bực Bất Lai Trung bang bất hườn (Antarāparinibbāyī), bực Sanh bang bất hườn (Upahaccaparinibbāyī), bực Vô hành bang bất hườn (Asaṅkhāraparinibbāyī), bực Hữu hành bang bất hườn (Sasaṅkharaparinibbāyī), bực Thượng lưu bang bất hườn (Uddhasoto akaniṭṭhagāmī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    907.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai tùng hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai thành Dự Lưu Thất Lai (Sattakhatuparana), bực (Dự Lưu) Lục Lai (Kolaṅkola), bực (Dự Lưu) Nhứt Lai (Ekabījī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai tùng hiệp với quả Nhứt lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai thành bực Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    908.

    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai tùng hiệp với quả Thất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai thành bực Dự Lưu Thất Lai (satakhatuparana), bực (Dự Lưu) Lục Lai, bực (Dự Lưu) Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    909.

    • Tự ngôn: Bực tùng hiệp với quả Dự Lưu thời gọi là hoàn thành Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đó cũng là bực Dự Lưu đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    910.

    • Tự ngôn: Bực tùng hiệp với quả Nhứt Lai nên nói là hoàn thành Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: vị La Hán tùng hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: vị La Hán đó cũng là vị Nhứt Lai đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    911.

    • Tự ngôn: Bực tùng hiệp với quả Bất Lai nói là hoàn thành Bất Hườn (Anagami) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: vị La Hán tùng hiệp với quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: vị La Hán đó cũng là vị Bất Hườn đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    912.

    • Tự ngôn: Bực tùng hiệp với quả Dự Lưu nói là hoàn thành Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị Bất Lai tùng hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị Bất Lai đó cũng là vị Dự Lưu đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    913.

    • Tự ngôn: Bực tùng hiệp với quả Nhứt Lai nên nói hoàn thành Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai tùng hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị Bất Lai đó cũng là vị Nhứt Lai đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    914.

    • Tự ngôn: Bực tùng hiệp với quả Dự Lưu nên nói thành tựu Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai tùng hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vị Nhứt Lai đó cũng là vị Dự Lưu đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    915.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã lướt qua khỏi quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói La Hán đã lướt qua khỏi quả Dự Lưu thời không nên nói rằng bực La Hán tùng hiệp với quả Dự Lưu.

    916.

    • Tự ngôn: Bực La Hán đã vượt khỏi quả Dự Lưu còn gọi là tùng hiệp với quả Dự Lưu đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã vượt khỏi đạo Dự Lưu, vượt khỏi Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ, khinh thị, ái mà thành sa đọa khổ thú, sân mà thành sa đọa khổ thú, si mà thành sa đọa khổ thú, hết rồi mà còn gọi là tùng hiệp với si mà thành sa đọa khổ thú đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    917.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã vượt khỏi quả Nhứt Lai rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói bực La Hán đã vượt khỏi quả Nhứt Lai thời không nên nói rằng bực La Hán tùng hiệp với quả Nhứt Lai.

    918.

    • Tự ngôn: Bực La Hán vượt khỏi quả Nhứt Lai rồi còn gọi là tùng hiệp với quả Nhứt Lai ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã vượt khỏi đạo Nhứt Lai, vượt khỏi dục ái thứ thô, Sân độc thứ thô rồi còn gọi là tùng hiệp với sân thứ thô đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    919.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã vượt khỏi quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu nói bực La Hán đã vượt khỏi quả Bất Hườn thời không nên nói rằng La Hán tùng hiệp với quả Bất Hườn.

    920.

    • Tự ngôn: Bực La Hán vượt khỏi quả Bất Hườn rồi còn gọi là tùng hiệp với quả Bất Hườn đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã vượt khỏi đạo Bất Hườn, vượt khỏi dục ái thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế rồi còn gọi là tùng hiệp với Sân độc thứ vi tế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    921.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai tùng hiệp với quả Thất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai vượt khỏi quả Thất Lai rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực Bất Lai đã vượt khỏi quả Thất Lai thời không nên nói bực Bất Lai tùng hiệp với quả Thất Lai.

    922.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai vượt khỏi quả Thất Lai rồi còn gọi là tùng hiệp với quả Thất Lai đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai đã vượt khỏi đạo Thất Lai vượt khỏi Thân kiến ... Si mà thành đưa đi ác thú rồi còn gọi là tùng hiệp với si, mà thành sa đoạ ác thú đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    923.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai tùng hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai vượt khỏi quả Nhứt Lai rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực Bất Lai đã vượt khỏi quả Nhứt Lai thời không nên hỏi bực Bất Lai tùng hiệp với quả Nhứt Lai.

    924.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai vượt khỏi quả Nhứt Lai rồi còn gọi tùng hiệp với quả Nhứt Lai đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai đã vượt khỏi đạo Nhứt Lai, khỏi dục ái thứ thô, Sân độc thứ thô rồi còn gọi là tùng hiệp với Sân độc thứ thô ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    925.

    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai tùng hiệp với quả Thất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai vượt khỏi quả Thất Lai rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai đã vượt khỏi quả Thất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực Nhứt Lai đã vượt khỏi quả Thất Lai thời không nên nói bực Nhứt Lai tùng hiệp với quả Thất Lai.

    926.

    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai đã vượt khỏi quả Thất Lai còn gọi là tùng hiệp với quả Thất Lai ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai đã vượt khỏi đạo Thất Lai, vượt khỏi Thân kiến ... Si thành đi khổ thú rồi còn gọi là tùng hiệp với si mà đưa đi khổ thú ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    927.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng La Hán tùng hiệp với tứ quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán đã đặng tứ quả rồi và không hoại lìa tứ quả ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực La Hán đặng tứ quả và không hoại lìa tứ quả ấy, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực La Hán tùng hiệp với tứ quả.

    928.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói bực Bất Lai tùng hiệp với tam quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực Bất Lai đã đặng tam quả và không hoại lìa tam quả ấy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Bất Lai đặng tam quả và không hoại lìa tam quả ấy, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực Bất Lai tùng hiệp với tam quả.

    929.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực Nhứt Lai tùng hiệp với nhị quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực Nhứt Lai đã đặng nhị quả và không hoại lìa nhị quả ấy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực Nhứt Lai đã đặng nhị quả và không hoại lìa nhị quả ấy, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực Nhứt Lai tùng hiệp với nhị quả.

    930.

    • Tự ngôn: Bực La Hán đã đặng tứ quả và không hoại lìa tứ quả ấy, bởi nhân đó, bực La Hán mới gọi là tùng hiệp với tứ quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán đã đặng tứ đạo và không hoại lìa tứ đạo ấy, chính do nhân đó, bực La Hán mới gọi là tùng hiệp với tứ đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    931.

    • Tự ngôn: Bực Bất Lai đã đặng tam quả và không hoại lìa tam quả ấy, chính do nhân đó, bực Bất Lai mới gọi là tùng hiệp với tam quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực Bất Lai đã đặng tam đạo và không hoại lìa tam đạo ấy, do nhân đó, bực Bất Lai mới gọi là tùng hiệp với tam đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    932.

    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai đã đặng nhị quả và không hoại lìa nhị quả ấy, do nhân đó, bực Nhứt Lai mới gọi là tùng hiệp với nhị quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi
    • Tự ngôn: Bực Nhứt Lai đã đặng nhị đạo và không hoại lìa nhị đạo ấy, do nhân đó, bực Nhứt Lai mới gọi là tùng hiệp với nhị đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tùng hiệp ngữ

    ---

    XẢ TÙNG HIỆP NGỮ (UPEKKHĀSAMANNĀGATAKATHĀ)

    933.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với lục xả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với lục xúc, lục thọ, lục tưởng ... Lục tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    934.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với lục xả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực La Hán vẫn thấy sắc bằng nhãn, còn nghe tiếng bằng nhĩ, còn hửi hơi bằng tỷ, còn nếm vị bằng thiệt, còn đụng chạm bằng thân, còn biết cảnh pháp bằng tâm đặng ... vẫn biết cảnh pháp bằng tâm, còn thấy sắc bằng nhãn đặng, còn nghe tiếng bằng nhĩ đặng, còn hửi hơi bằng mũi đặng, còn nếm vị bằng lưỡi đặng, còn đụng chạm xúc bằng thân đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    935.

    • Tự ngôn: Bực La Hán tùng hiệp với lục xả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tùng hiệp đình trụ với lục xả, lục xả hiện thường thường đều đồng không trộn nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    936.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực La Hán tùng hiệp với lục xả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán có lục xả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực La Hán có lục xả, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng bực La Hán tùng hiệp với lục xả.

    Dứt Xả tùng hiệp ngữ

    ---

    PHẬT DO GIÁC NGỮ (BODHIYA BUDDHOTIKAKATHA)

    937.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khi tuệ là cơ quan đắc chứng đã diệt rồi, đã xa lìa, đã im lặng thời trở thành bực Phi Phật phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    938.

    • Tự ngôn: Gọi Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng sở thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    939.

    • Tự ngôn: Gọi Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng sở thành quá khứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Còn làm việc mà phải làm bằng tuệ là cơ quan đắc chứng, đặng với tuệ là cơ quan đắc chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    940.

    • Tự ngôn: Còn làm việc mà phải làm với tuệ là cơ quan đắc chứng, đặng với tuệ là cơ quan đắc chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Còn chăm chú biết Khổ, trừ Tập, làm cho rõ Diệt, còn làm cho Đạo phát sanh đặng với tuệ là cơ quan đắc chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    941.

    • Tự ngôn: Gọi Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng nơi thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    942.

    • Tự ngôn: Gọi Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng nơi thành vị lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Làm việc mà phải làm với tuệ là cơ quan đắc chứng, đặng với tuệ làm cơ quan đắc chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    943.

    • Tự ngôn: Làm việc mà phải làm với tuệ là cơ quan đắc chứng, đặng với tuệ là cơ quan đắc chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chăm chú biết Khổ ... còn làm cho Đạo phát sanh đặng với tuệ là cơ quan đắc chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    944.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng chỗ thành hiện tại, làm việc thì phải làm với tuệ là cơ quan đắc chứng, đặng với tuệ là cơ quan đắc chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng chỗ thành quá khứ, làm việc thì phải làm với tuệ là cơ quan chứng, đặng với tuệ là cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    1.  
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ là cơ quan chứng nơi thành hiện tại, chăm chú biết Khổ, trừ Tập, làm cho rõ Diệt, còn làm cho Đạo sanh đặng bằng tuệ là cơ quan chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng nơi thành quá khứ, chăm chú biết Khổ còn làm cho Đạo sanh đặng bằng Tuệ thành cơ quan chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    946.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ làm cơ quan chứng nơi thành hiện tại, làm việc thời phải làm với tuệ là cơ quan chứng, đặng với tuệ là cơ quan chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ làm cơ quan chứng nơi thành quá khứ, làm việc thời phải làm với tuệ thành cơ quan chứng, đặng với tuệ thành cơ quan chứng ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    947.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng nơi thành hiện tại, chăm chú biết Khổ ... còn làm cho Đạo sanh đặng bằng tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng nơi thành vị lai, chăm chú biết Khổ ... còn làm cho Đạo sanh đặng bằng Tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    948.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng chỗ thành quá khứ, nhưng làm việc thì phải làm với tuệ thành cơ quan chứng, không đặng với tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng mà thành hiện tại, nhưng làm việc thì phải làm việc với tuệ thành cơ quan chứng, không đặng với tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    949.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng nơi thành quá khứ, nhưng chăm chú biết Khổ ... còn làm cho Đạo phát sanh không đặng với tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng nơi thành hiện tại, nhưng chăm chú biết Khổ ... còn làm cho Đạo phát sanh không đặng bằng Tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    950.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng chỗ thành vị lai, nhưng làm việc thì phải làm với tuệ thành cơ quan chứng không đặng với tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng thuộc về hiện tại nhưng làm việc thì phải làm với tuệ thành cơ quan chứng không đặng với tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    951.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng nơi thành vị lai, nhưng chăm chú biết Khổ ... còn cho Đạo sanh không đặng bằng tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng thuộc về hiện tại nhưng chăm chú biết Khổ ... còn cho Đạo phát sanh không đặng bằng tuệ thành cơ quan chứng đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    952.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng thuộc về quá khứ, gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng thuộc về vị lai, gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng thuộc về hiện tại phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng cả ba phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    953.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do tuệ thành cơ quan chứng cả ba phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tập hợp, đình trụ với tuệ thành cơ quan chứng cả ba, tuệ thành cơ quan chứng cả ba hiện thường thường đồng đều không lộn xộn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    954.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng gọi là Phật do tuệ thành cơ quan đắc chứng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Gọi là Phật do cách đặng tuệ thành cơ quan đắc chứng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà gọi rằng Phật do cách đặng tuệ là cơ quan đắc chứng, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng gọi là Phật do tuệ thành cơ quan đắc chứng.

    955.

    • Tự ngôn: Gọi là Phật do cách đặng tuệ là cơ quan đắc chứng, bởi thế đó mới gọi là Phật do tuệ là cơ quan đắc chứng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Gọi là Giác (Bodhi) cũng do cách đặng tuệ thành cơ quan đắc chứng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Phật do giác ngữ

    ---

    TƯỚNG HẢO NGỮ (LAKKHAṆAKATHĀ)        

    956.

    • Tự ngôn: Người hiệp với tướng hảo là Bồ tát (Bodhisatta) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người hiệp với tướng hảo phần nào là Bồ tát phần nấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    957.

    • Tự ngôn: Người hiệp với tướng hảo là Bồ tát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người hiệp với tướng hảo trong một phần ba là Bồ tát trong một phần ba phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    958.

    • Tự ngôn: Người hiệp với tướng hảo là Bồ tát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người hiệp với phân nửa tướng hảo là Bồ tát phân nửa phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    959.

    • Tự ngôn: Người hiệp với tướng hảo là Bồ tát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chuyển luân thánh vương là người hiệp với tướng hảo thì Chuyển luân thánh vương cũng là Bồ tát phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    960.

    • Tự ngôn: Chuyển luân thánh vương là người hiệp với tướng hảo thời Chuyển luân thánh vương cũng là Bồ tát phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thu thúc thân, thu thúc hạnh, cách tường thuật pháp, cách giải pháp của Bồ tát như thế nào thời cách thu thúc thân, thu thúc hạnh, cách thuyết pháp, cách giải pháp của Chuyển luân thánh vương cũng như thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    961.

    Tự ngôn: Khi Bồ tát giáng sanh, hàng Chư thiên đỡ trước, nhơn loại đỡ sau như thế nào thì khi Chuyển luân thánh vương sanh ra, Chư thiên cũng bồng trước, nhơn loại bồng sau giống như thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    962.

    Tự ngôn: Khi Bồ tát sanh ra, Tứ thiên vương bồng rồi để trước mặt mẹ tâu rằng: “Muôn tâu lệnh Hoàng hậu, nên mừng Thái tử, bực có đại thế lực của Ngài đã phát sanh”, như thế nào thì khi Chuyển luân thánh vương sanh ra Tứ thiên vương cũng bồng để trước mặt bà mẹ tâu rằng muôn tâu lệnh Hoàng hậu nên vui mừng vị Thái tử có đại thế lực của Đức vua đã sanh ra giống nhau như thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    963.

    Tự ngôn: Khi Bồ tát sanh ra, cả hai vòi nước là giọt nước mát và giọt nước nóng hiện ra trên hư không thuộc về nước tắm của Bồ tát và bà mẹ như thế nào thì khi Chuyển luân thánh vương sanh ra, cả hai vòi nước tức là vòi nước mát và vòi nước nóng cũng hiện ra trên không thuộc về nước tắm của Chuyển luân thánh vương và bà mẹ thế đó giống như nhau phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    964.

    Tự ngôn: Đức Bồ tát vừa mới sanh ra rồi đó cũng đứng dậy đặng với cả hai chân bằng phẳng, day mặt hướng Bắc đi đặng bảy bước, có bạch liên đỡ dưới chân, Ngài xem tất cả hướng và Ngài buông lời hùng dũng như vầy: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, thử sanh cùn thế vô hữu hậu lai”, như đây thế nào thì bực Chuyển luân thánh vương mới vừa sanh ra rồi cũng đứng đặng cả hai chân thẳng, day mặt phía Bắc, Ngài đi đặng bảy bước, có bông sen trắng đỡ dưới chân, Ngài ngó đủ hướng và phát lời hùng dũng như vầy: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, thử sanh cùn thế vô hữu hậu lai” giống như thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    965.

    Tự ngôn: Khi Đức Bồ tát giáng sanh vẫn hiện ánh sáng to, hào quang lớn, vũ trụ chuyển động mạnh như thế nào thời khi Chuyển luân thánh vương sanh ra, cũng vẫn hiện ánh sáng to, hào quang lớn, vũ trụ chuyển động mạnh giống nhau như thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    966.

    Tự ngôn: Thân thể theo thường của Đức Bồ tát hào quang sáng ra một sải khắp đều thế nào thì thân của Chuyển luân thánh vương theo thường cũng có hào quang chói ra một sải khắp cùng giống nhau như thế phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    967.

    Tự ngôn: Đức Bồ tát Ngài thấy đại mộng như thế nào thời Chuyển luân thánh vương cũng thấy đại mộng giống nhau như thế đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    968.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực hiệp với tướng hảo thành Bồ tát phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, tướng đại trượng phu của bực đại nhân có 32 cách này nơi bực đại nhân người tùng hiệp chỉ có 2 chí hướng chớ không khác ngoài, tức là nếu ở tại gia sẽ đặng thành bực Chuyển luân thánh vương, người giữ pháp thành Pháp Vương trùm luôn 5 châu tột đến 4 biển, có tài trí phương lược kế hoạch là nhân vững chắc của dân chúng. Ngài tùng hiệp với thất bảo mà thất bảo này vẫn sanh với y như là xa ngọc, tượng ngọc, mã ngọc, ngọc như ý, ngọc nữ, khố trưởng ngọc, binh trưởng ngọc, thành 7 thứ và y có cả ngàn Thái tử lanh lẹ dũng cảm đủ sức dày xéo binh bộ, chinh phục rất hoàn toàn trùm khắp Trái Đất này mà có thế giới thành ranh rấp, trị bằng Chánh Pháp, không phải dùng quyền phạt, không phải dùng gươm đao. Nhưng nếu xuất gia thành Không Môn, sẽ chứng Ứng Cúng Chánh Biến Tri, bực đã giỡ nhà là phiền não trong đời. Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì bực tùng hiệp với tướng hảo cũng là Bồ tát chớ gì!

    Dứt Tướng hảo ngữ

    ---

    LIÊN QUAN NHỨT ĐỊNH NGỮ (NIYĀMOKKANTIKATHĀ)

    969.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng vào đường lối chắc chắn (Thánh Đạo) đã có phẩm hạnh tốt đối với trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát là Thinh Văn của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    970.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát là Thinh Văn của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Thinh Văn rồi mới thành Phật phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    971.

    • Tự ngôn: Thành Thinh Văn rồi mới thành Phật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành bực đắc chứng bằng cách nghe theo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    972.

    • Tự ngôn: Thành bực đắc chứng bằng cách nghe theo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Phật là bực tự chứng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu Đức Phật là bực tự chứng thời không nên nói thành bực đắc chứng bằng cách nghe theo.

    973.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo dõi đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Phật chỉ đặng chứng 3 quả phổ thông nữa đó nơi cây Bồ đề phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    974.

    • Tự ngôn: Đức Phật đặng chứng 4 quả thông thường nơi cây Bồ đề phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Phật đặng chứng cả 4 quả nơi cây Bồ đề thời không nên nói Đức Bồ tát đặng theo dõi đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp.

    975.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo dõi đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bồ tát đặng làm khổ hạnh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người bực đến đầy đủ bằng thấy (dassana) phải làm khổ hạnh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    976.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng làm sự tinh tấn cách khác, đặng tín ngưỡng Tông giáo khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người bực vào đến đầy đủ bằng thấy (dassana) phải tín ngưỡng Tông giáo khác phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    977.

    • Tự ngôn: Ngài Ānanda đặng theo dõi con đường nhứt định, đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Phật, Ngài thành Thinh Văn của Phật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo dõi con đường chắc chắn, đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Phật hiệu là Ca Diếp, Đức Bồ tát thành Thinh Văn của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    978

    • Tự ngôn: Ngài Tâm Trưởng (Citta), Ngài Thủ Công (Hatthaka) dâng nước Alavaka đặng theo dõi đường lối nhứt định, đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật thời Ngài Tâm trưởng, Ngài Thủ Công dâng nước Alavaka thành Thinh Văn của Đức Phật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo dõi đường lối quyết định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp thời Đức Bồ tát cũng thành Thinh Văn của Đức Phật Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    979.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo đường lối quyết định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp nhưng không thành Thinh Văn của Đức Phật Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Ānanda đặng theo đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật nhưng không thành Thinh Văn của Đức Phật phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    980.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo đường lối nhứt định, đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp, nhưng không thành Thinh Văn của Đức Phật Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ngài Tâm trưởng, Ngài Thủ Công dâng nước Alavaka đặng theo đường lối, đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật nhưng không thành Thinh Văn của Đức Phật phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    981.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo đường lối nhứt định, đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp nhưng không thành Thinh Văn của Đức Phật Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Thinh Văn qua một đời rồi trở thành người Phi Thinh Văn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    982.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Đức Bồ tát đặng theo đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này Ānanda, Như Lai đặng phẩm hạnh tốt trong Đức Phật hiệu là Ca Diếp để sau này đắc chứng”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó, Đức Bồ tát cũng đặng theo đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp chớ gì!

    983.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng theo đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Như Lai là bực trùm chứa đủ tất cả pháp là bực rõ tất cả pháp, đã không chấp trước trong tất cả pháp, bài trừ tất cả pháp hiệp thế, đã giải thoát trọn dứt tuyệt nơi ái. Như Lai đã tự biết bằng tuệ cao tột, sẽ phải dẫn chứng Tông giáo nào đâu. Như Lai không có thầy cũng không có bực nào sẽ bằng Như Lai trong đời này luôn cả Chư thiên không có người sánh kịp Như Lai bởi Như Lai là Ứng Cúng trong đời. Như Lai là Giáo chủ mà không có Giáo chủ nào hơn nữa. Chỉ có Như Lai thành Chánh Đẳng Chánh Giác, thành bực mất rồi, thành bực tắt rồi. Như Lai sẽ đi đến nước của dân Kāsī đặng làm cho Pháp Xa hiện hành. Như Lai sẽ trổi nhạc bất tử cho nghe dội trong đời tối này. (Ngài Upakā nói rằng): “Này em, theo mà Ngài Cấp Trí đây Ngài cũng đáng là Vô Lượng Thế Tôn”. (Phật phán): “Người như ta đây đã đến luôn sự dứt lậu thành bực gọi là Thế Tôn. Này Upakā, Như Lai đã thắng tất cả pháp tội, do đó, Như Lai mới gọi là Thế Tôn”. Đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu cách đó thời không nên nói rằng Đức Bồ tát đặng theo đường lối nhứt định đã có phạm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp chớ gì!

    984.

    • Tự ngôn: Đức Bồ tát đặng nhận đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh tốt trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, nhãn, trí, tuệ, minh, ánh sáng đã đặng sanh cho Như Lai trong pháp tất cả mà không đặng đã từng nghe trong lúc trải qua như vầy đây là Khổ Thánh đế như thế, nhắc nữa nhãn ... ánh sáng đã đặng sanh cho Như Lai trong tất cả pháp mà chẳng đặng đã từng nghe trong trải qua trước như vầy Khổ Thánh đế này đây mà ta phải chăm chú biết như thế ... gọi là Khổ Thánh đế này đây mà Như Lai đã đặng chăm chú hiểu như thế đó ... gọi đây là Khổ Tập Thánh đế đây nè mà Như Lai phải trừ tuyệt như thế ... nói Khổ Tập Thánh đế đây nè mà Như Lai đã trừ đặng như vậy ... nói đây là Khổ diệt Thánh đế như thế ... nói Khổ diệt Thánh đế đây nè mà Như Lai phải làm cho tỏ như thế ... nói Khổ diệt Thánh đế đây nè mà Như Lai đặng làm cho tỏ rồi như thế ... nói đây là Khổ diệt con đường lối tiến hành Thánh đế như thế ... nói Khổ diệt đường lối tiến hành Thánh đế đây nè mà Như Lai phải cho sanh như thế. Một nửa nhãn, trí, tuệ, minh và ánh sáng đã đặng phát sanh cho Như Lai trong tất cả pháp mà Như Lai không đặng đã từng nghe trong thuở trước bằng Khổ diệt đường lối thật hành đến Thánh đế đây nè mà Như Lai đã cho sanh. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói Đức Bồ tát đặng nhận đường lối nhứt định đã có phẩm hạnh trong sạch trong Tông giáo của Đức Phật hiệu là Ca Diếp.

    Dứt Liên quan nhứt định ngữ

    ---

    TÙNG HIỆP NGỮ MỘT NỮA (APARĀPĪ SAMANNĀGATAKATHĀ)

    985.

    • Tự ngôn: Người bực thật hành để làm cho rõ quả La Hán thành bực tùng hiệp với 3 quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với tứ xúc, tứ thọ, tứ tưởng, tứ tư, tứ tâm, tứ tín, tứ cần, tứ niệm, tứ định, tứ tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    986.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai là bực hiệp với 2 quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai là người hiệp với tam xúc, tam thọ ... tam tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    987.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là người hiệp với nhị xúc, nhị thọ ... nhị tuệ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    988.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với đạo Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực Dự Lưu Thất Lai (Sotāpanno sattakkhattumparamo), bực Lục Lai (Kolaṅkola), bực Nhứt Lai (Ekabījī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    989.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là người hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực Nhứt Lai (sakadāgāmī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    990.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Bất Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán thành bực Bất Lai người Trung bang bất hườn (Anāgāmī Antarāparinibbāyī), người Sanh bang bất hườn (Upahaccaparinibbāyī), người Vô hành bang bất hườn (Asaṅkhāraparinibbāyī), người Hữu hành bang bất hườn (Sasaṅkhāraparinibbāyī), người Thượng lưu bang bất hườn (Uddhaṅsoto akaniṭṭhagāmī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    991.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai là bực Dự Lưu người Thất Lai (Sattakkhattumparamo), người Lục Lai (Kolaṅkola), người Nhứt Lai (Ekabījī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    992.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là người hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là bực Nhứt Lai (Sakadāgāmī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    993.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là bực Dự Lưu người Thất Lai, người Lục Lai, người Nhứt Lai (Ekabījī) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    994.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với quả Dự Lưu phải gọi là thành tựu Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán vị đó thành tựu Dự Lưu cũng vị đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    995.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với quả Nhứt Lai phải gọi là thành tựu Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là người hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả La Hán vị đó, thành tựu Nhứt Lai cũng vị đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    996.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với quả Bất Hườn mới gọi thành tựu Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là người hiệp với quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả La Hán vị ấy, thành tựu Bất Hườn cũng vị ấy vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    997.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với quả Dự Lưu mới gọi thành tựu quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn vị đó, thành tựu Dự Lưu cũng vị đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    998.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với quả Nhứt Lai mới gọi là bực Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là người hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn vị đó, Nhứt Lai cũng vị đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    999.

    • Tự ngôn: Bực hiệp với quả Dự Lưu mới gọi thành tựu Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực thực hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai vị đó, thành tựu Dự Lưu cũng vị đó vậy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1000.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Dự Lưu rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Dự Lưu rồi thời không nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Dự Lưu.

    1001.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Dự Lưu nhưng còn hiệp với quả Dự Lưu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi đạo Dự Lưu, vượt khỏi Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ, khinh thị, ái mà đưa đến khổ thú, Sân mà đưa đến khổ thú, Si thành chỗ đưa đến khổ thú đã vượt khỏi rồi nhưng còn hiệp với Si thành chỗ đưa đến khổ thú ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1002.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Nhứt Lai rồi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Nhứt Lai thời không nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là người hiệp với quả Nhứt Lai.

    1003.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Nhứt Lai, nhưng còn hiệp với quả Nhứt Lai ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi đạo Nhứt Lai, vượt khỏi Ái dục thứ thô, Sân độc thứ thô rồi nhưng còn hiệp với Sân độc thứ thô đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1004.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán, đã vượt khỏi quả Bất Hườn thời không nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Bất Hườn.

    1005.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Bất Hườn nhưng còn hiệp với quả Bất Hườn ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi đạo Bất Hườn vượt khỏi Ái dục thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế rồi nhưng còn hiệp với Sân độc thứ vi tế ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1006.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã vượt khỏi quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người thật hành hầu làm cho rõ quả Bất Hườn đã vượt khỏi quả Dự Lưu thời không nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là bực hiệp với quả Dự Lưu.

    1007.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đã vượt khỏi quả Dự Lưu, nhưng còn hiệp với quả Dự Lưu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đã vượt khỏi đạo Dự Lưu, vượt khỏi Thân kiến ... Si mà thành khổ thú rồi nhưng còn hiệp với Si sa đọa khổ thú ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1008.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Lai là bực hiệp với quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn, đã vượt khỏi quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đó vượt khỏi quả Nhứt Lai thời không nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là bực hiệp với quả Nhứt Lai.

    1009.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán, đã vượt khỏi quả Nhứt Lai nhưng còn hiệp với quả Nhứt Lai ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn, đã vượt khỏi đạo Nhứt Lai, vượt khỏi Ái dục thứ thô, Sân độc thứ thô rồi mà còn hiệp với Sân độc thứ thô ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1010.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là người hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai, đã vượt khỏi quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đã vượt khỏi quả Dự Lưu thời không nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là người hiệp với quả Dự Lưu.

    1011.

    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đã vượt khỏi quả Dự Lưu mà còn hiệp với quả Dự Lưu ấy phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đã vượt khỏi đạo Dự Lưu, vượt khỏi Thân kiến ... Si mà thành khổ thú nhưng còn hiệp với Si mà thành khổ thú ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1012.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với ba quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán, đã đặng ba quả và không hoại lìa ba quả ấy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã đặng ba quả và không hoại lìa ba quả ấy, chính do nhân đó, Ngài mới nói bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán là bực hiệp với ba quả.

    1013.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là bực hiệp với nhị quả phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đã đặng nhị quả và không hoại lìa nhị quả ấy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đã đặng nhị quả và không hoại lìa nhị quả ấy, chính do nhân đó, Ngài mới nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn là bực hiệp với nhị quả.

    1014.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là bực hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đã đặng Quả Dự Lưu và không hoại lìa quả Dự Lưu ấy phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đã đặng Quả Dự Lưu và không hoại lìa quả Dự Lưu ấy, chính do nhân đó, Ngài mới nói bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai là bực hiệp với quả Dự Lưu.

    1015.

    • Tự ngôn: Do bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán đã đặng tam quả mà không hoại lìa tam quả ấy thế đó, bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán mới là bực hiệp với tam quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bởi bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán, đã đặng tứ đạo và không hoại lìa tứ đạo ấy thế đó bực người thật hành để làm cho rõ quả La Hán mới là bực hiệp với tứ đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1016.

    • Tự ngôn: Bởi bực người thật hành hầu làm cho rõ quả Bất Hườn đã đặng nhị quả và không hoại lìa nhị quả ấy thế đó, bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn mới gọi là bực hiệp với nhị quả phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bởi bực người thật hành để làm cho rõ quả Bất Hườn đã đặng tam đạo và không hoại lìa tam đạo ấy thế đó, bực người thật hành để làm cho rõ đạo Bất Hườn mới là bực hiệp với tam đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó…

    1017.

    • Tự ngôn: Bởi bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai đã đặng quả Dự Lưu và không hoại lìa quả Dự Lưu ấy, bởi thế bực người thực hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai mới là bực hiệp với quả Dự Lưu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bởi bực người thật hành để làm cho rõ quả Nhứt Lai, đã đặng nhị đạo và không hoại lìa nhị đạo đó, bởi thế bực người thật hành để làm cho rõ đạo Nhứt Lai mới là bực hiệp với nhị đạo phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Tùng hiệp ngữ (một nữa)

    ---

    TUYỆT TRỪ CHƯ TRIỀN NGỮ (SABBASAÑÑOJANAPPAHĀNAKATHĀ)

    1018.

    • Tự ngôn: Cách bài trừ tất cả triền gọi là quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả triền bài trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1019.

    • Tự ngôn: Tất cả triền trừ đặng bằng La Hán đạo phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ, cũng trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1020.

    • Tự ngôn: Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ cũng trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài phán cách trừ tam triền là quả Dự Lưu? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài phán cách trừ tam triền là quả Dự Lưu thời không nên nói tất cả triền trừ đặng bằng đạo La Hán.
    • Tự ngôn: Tất cả triền trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái dục thứ thô, Sân độc thứ thô cũng trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1021.

    • Tự ngôn: Ái dục thứ thô, Sân độc thứ thô cũng bài trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài phán sự nhẹ nhàng của Ái dục và Sân độc là quả Nhứt Lai phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài phán sự nhẹ nhàng của Ái dục và Sân độc là quả Nhứt Lai thời không nên nói tất cả triền trừ đặng bằng đạo La Hán như thế.
    • Tự ngôn: Tất cả triền trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Ái dục thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế cũng trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1023.

    • Tự ngôn: Ái dục thứ vi tế, Sân độc thứ vi tế cũng trừ đặng bằng quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài phán cách trừ không có phần dư của Ái dục và Sân độc là quả Bất Hườn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài phán cách trừ không đặng phần dư của Ái dục và Sân độc là quả Bất Hườn thời không nên nói tất cả triền bài trừ đặng bằng La Hán đạo.

    1024.

    • Tự ngôn: Tất cả triền trừ đặng bằng đạo La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài phán cách trừ không có phần dư của Sắc ái, Vô sắc ái, Ngã mạn, Phóng dật[4] và vô minh gọi là quả La Hán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà Đức Thế Tôn Ngài phán cách trừ không có phần dư của Sắc ái, Vô sắc ái, Ngã mạn, Phóng dật và Vô minh gọi là La Hán quả thời không nên nói tất cả triền trừ đặng bằng đạo La Hán.

    1025.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói cách trừ tất cả triền gọi là quả La Hán phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Bực La Hán đã có hoại mất tất cả triền phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà bực La Hán đã có hoại hết tất cả triền, chính do nhân đó, Ngài mới nói cách trừ tất cả triền gọi là quả La Hán như thế.

    Dứt Tuyệt trừ chư triền ngữ

    Hết Phẩm thứ tư

    ---

    [4] Từ “phóng dật” sau này được Trưởng Lão Tịnh Sự chỉnh lại thành “điệu cử”

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.