Điều Saṅghādisesa (Tăng Tàng) Thứ Ba: Nói Lời Dâm Dục Với Người Nữ

Điều Saṅghādisesa (Tăng Tàng) Thứ Ba: Nói Lời Dâm Dục Với Người Nữ

    TẠNG LUẬT - BỘ PHÂN TÍCH GIỚI BỔN
    Vinaya Pitaka - Suttavibhanga

    Phân Tích Giới Tỳ-khưu - I
    (Bhikkhuvibhanga I)

    Tỳ-khưu Indacanda dịch

    ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ BA: NÓI LỜI DÂM DỤC VỚI NGƯỜI NỮ

    [399] Câu chuyện về tỳ-khưu Udāyi. Sự quy định điều học
    [400] Giải nghĩa từ ngữ của điều học
    [401] Các tiêu đề của sự phân tích
    [403] Các trường hợp phạm tội
    [408] Các trường hợp không phạm tội
    [409] Bài kệ về các câu chuyện dẫn giải
    [410] Các câu chuyện dẫn giải

    [399] Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng. Trú xá của đại đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người đàn bà đã đi đến tu viện có ý muốn nhìn ngắm trú xá của đại đức Udāyi. Khi ấy, những người đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

    - Thưa ngài, chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài đại đức.

    Khi ấy, đại đức Udāyi sau khi cho những người đàn bà ấy nhìn ngắm trú xá rồi đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của những người đàn bà ấy, còn nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ nữa. Những người đàn bà nào thuộc hạng táo tợn, ranh mãnh, trơ trẽn, những người ấy cùng với đại đức Udāyi cười cợt, khoe khoang, cười vang, trêu chọc. Trái lại, những người đàn bà nào có sự hổ thẹn, những người ấy đi ra bên ngoài và phàn nàn với các tỳ khưu rằng:

    - Thưa các ngài, điều này là không đúng đắn, không thích hợp. Chúng tôi dầu được chồng nói như thế còn không thích, huống hồ là ngài đại đức Udāyi!

    Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

    - Vì sao đại đức Udāyi lại nói với người nữ bằng những lời dâm dật?

    Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng:

    - Này Udāyi, nghe nói ngươi nói với người nữ bằng những lời dâm dật, có đúng không vậy?

    - Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

    Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

    - Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nói với người nữ bằng những lời dâm dật? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ...(như trên)... đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi nói với người nữ bằng những lời dâm dật như là việc người trai trẻ nói với cô gái bằng những lời có tính chất đôi lứa thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).

    [400] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

    Tỳ khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

    Bị khởi dục nghĩa là có dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.

    Bị thay đổi: tâm có dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm có dục vọng là (tâm) “bị thay đổi” được đề cập trong ý nghĩa này.

    Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật và không dâm dật.

    Lời nói dâm dật nghĩa là là lời nói liên quan đến đường tiêu, đường tiểu, và việc đôi lứa.

    Nói: là sự vi phạm được đề cập đến.

    Như là việc người trai trẻ nói với cô gái: là trai tơ với gái tơ, thanh niên với thanh nữ, người nam hưởng dục với người nữ hưởng dục.

    Có tính chất đôi lứa: bằng những lời nói có liên quan đến việc hành dâm.

    Tội saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

    [401] Nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có liên hệ đến đến hai đường khiếu.[1]

    [402] Nói lời ca ngợi nghĩa là tán dương, khen ngợi, ca tụng về hai đường khiếu.

    Nói lời chê bai nghĩa là xỉ vả, khinh khi, chê bai về hai đường khiếu.

    Yêu cầu nghĩa là (nói rằng): “Hãy ban cho tôi, hãy dâng hiến cho tôi, cô là thích hợp để dâng hiến cho tôi.”

    Nài nỉ nghĩa là (nói rằng): “Khi nào mẹ cô sẽ hoan hỷ? Khi nào cha cô sẽ hoan hỷ? Khi nào các thiên nhân của cô sẽ hoan hỷ? Khi nào là thời khắc tốt, là thời giờ tốt, là thời điểm tốt của cô? Khi nào tôi sẽ đạt được được việc đôi lứa với cô?

    Hỏi han nghĩa là (nói rằng): “Cô dâng hiến cho chồng như thế nào? Cô dâng hiến cho tình nhân như thế nào?

    Chất vấn nghĩa là (nói rằng): “Nghe nói cô dâng hiến cho chồng như vầy, cô dâng hiến cho tình nhân như vầy.

    Chỉ bảo nghĩa là khi được hỏi thì nói rằng: “Hãy dâng hiến như vầy, người dâng hiến như vầy sẽ được chồng yêu quý và thương mến.”

    Dạy dỗ nghĩa là khi không được hỏi thì nói rằng: “Hãy dâng hiến như vầy, người dâng hiến như vầy sẽ được chồng yêu quý và thương mến.”

    Khinh bỉ nghĩa là (nói rằng): “Cô không có hiện tướng (người nữ), cô không có đủ hiện tướng (người nữ), cô không có kinh nguyệt, cô bị băng huyết, cô thường xuyên mang vải lót, cô bị rong kinh, cô là người nữ có dị căn, cô là người nữ vô căn, cô là người bị lại đực, cô là người nữ tiêu tiểu chung một khiếu (sambhinnā), cô là người nữ lưỡng căn.

    [403] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

    Là người nữ và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

    Là người vô căn và biết là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người vô căn ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

    Là người vô căn và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người vô căn ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Là người nam và biết là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nam ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Là loài thú và biết là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của loài thú ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [404] Hai người nữ và biết hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy của thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).

    Hai người nữ và có sự hoài nghi là hai người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

    Hai người vô căn và biết hai người vô căn là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người vô căn ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

    Hai người vô căn và có sự hoài nghi là hai người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người vô căn ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Hai người nam và biết hai người nam là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nam ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Hai con thú và biết hai con thú là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai con thú ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    [405] Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và người vô căn, có sự hoài nghi về cả hai, ...(như trên)... thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác). ...(như trên)... (lầm) tưởng là người vô căn, ...(như trên)... thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... (lầm) tưởng là người nam, ...(như trên)... (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người vô căn và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Người vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

    Người vô căn và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    [406] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

    Là người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)... Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)... Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)... thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

    Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

    [407] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của người nữ ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Là người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)... Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)... Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, ...(như trên)... thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người nữ ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của người nữ ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Là người vô căn ...(như trên)... Là người nam ...(như trên)... Là loài thú ...(như trên)... thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người nữ ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    Người nữ và người vô căn và (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ...(như trên)..., và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

    [408] Khi giảng về ý nghĩa của từ ngữ (với sự nghiêm trang), khi đọc tụng Pháp (với sự nghiêm trang), khi chỉ dạy Giáo Pháp (với sự nghiêm trang), vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

    [409]

    Màu đỏ, bị sần sùi,
    bị rối, và thô dày,
    lông dài, được gieo giống,
    đạo lộ là thông suốt?
    đức tin, với vật thí,
    (ba chuyện) về công việc.

    [410] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len được nhuộm mới. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này chị gái, của chị là màu đỏ.

    Cô ấy không hiểu được.

    - Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len được nhuộm mới.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len sần sùi (có lông rậm và ngắn). Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này chị gái, của chị là sần sùi.

    Cô ấy không hiểu được.

    - Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len sần sùi.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len đã được giặt sạch. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này chị gái, của chị có lông bị rối.

    Cô ấy không hiểu được.

    - Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len được giặt sạch.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len thô dày. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này chị gái, của chị có lông rậm.

    Cô ấy không hiểu được.

    - Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len thô dày.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [411] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm áo choàng dài. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này chị gái, của chị có lông dài.

    Cô ấy không hiểu được.

    - Thưa ngài, đúng vậy. Tấm áo choàng dài.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [412] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi cho người gieo giống thửa ruộng rồi đi về. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này chị gái, của chị đã được gieo giống.

    Cô ấy không hiểu được.

    - Thưa ngài, đúng vậy. Vẫn còn chưa được lấp kín.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [413] Vào lúc bấy giờ, khi nhìn thấy người nữ du sĩ ngoại đạo đi ngược chiều, vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này:

    - Này chị gái, phải chăng đạo lộ (maggo) của chị là thông suốt?

    Cô ấy không hiểu được.

    - Này tỳ khưu, đúng vậy. Rồi ngươi sẽ đạt đến.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).[2]

    [414] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này:

    - Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi việc cô đã dâng cho chồng.

    - Thưa ngài, việc gì vậy?

    - Việc đôi lứa.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

    Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này:

    - Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi vật thí hạng nhất.

    - Thưa ngài, việc gì vậy?

    - Việc đôi lứa.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

    [415] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này em gái, cô hãy đứng, tôi sẽ làm.

    Cô ấy không hiểu được.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này em gái, cô hãy ngồi xuống, tôi sẽ làm.

    Cô ấy không hiểu được.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

    - Này em gái, cô hãy nằm xuống, tôi sẽ làm.

    Cô ấy không hiểu được.

    Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

    - Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ ba.

    *******

    [1] Là đường tiêu và đường tiểu. Từ “magga” có nghĩa thông thường là “đường đi, con đường.” Trong văn cảnh này được dịch là khiếu, đường khiếu (trong điều pārājika thứ nhất có đề cập đường khiếu khác nữa là miệng).

    [2] Trường hợp này vị tỳ khưu bị phạm tội thullaccaya (trọng tội) vì đã ám chỉ “đường khiếu” khi sử dụng từ “magga” nhưng người nữ du sĩ hiểu theo nghĩa thông thường là “con đường.” Nếu cô ấy hiểu được ý thô tục thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.