Giáo lý

Giáo lý

    GIÁO LÝ

    Nói về giáo lý Phật Đà, tưởng cần nhắc lại đoạn lịch sử, để phân biệt tánh cách của hai giáo lý Bảo Thủ và Tân Tiến.

    Chẳng ai biết được, trong 25 thế kỷ về trước, Phật Tổ Gotama giảng dạy những điều chi, bởi trong thời gian 45 năm hoằng pháp độ sanh. Ngài chỉ dùng phương pháp “khẩu khẩu tương truyền”. Thế thì tại sao hiện giờ lại có kinh sách lưu hành và chia ra hai loại khác nhau: Tam tạng Bảo Thủ và Tam tạng Tân Tiến?

    Lịch sử đã cho biết rằng trong buổi đầu tiên, nhờ chư vị Thinh văn, La-hán nằm lòng Tam tạng Pháp bảo, và mỗi khi trong hàng phàm tăng mưu mô canh cải kinh luật, các ngài liền triệu tập Hội nghị Tăng chúng, để ôn cố Phật ngôn, hầu cảnh cáo phần tử trụy lạc và nhắc nhở những bậc tu hành chơn chánh.

    Trong ba kỳ Kết tập đầu tiên tại Ấn Độ (lần thứ nhất tại Rajagaha, lần thứ nhì tại Vesali, lần thứ ba tại Pataliputta), chư vị Thánh tăng chỉ lập lại bằng miệng cho Hội nghị nghe các lời di giáo của Phật Tổ Gotama. Đến lúc Kết tập kỳ thứ tư tại Tích Lan (thành Malaya), vì nhận thấy số Thánh tăng suy giảm rất nhiều, chư tăng sợ không còn ai đủ trí tuệ nằm lòng Pháp bảo, nên đồng biểu quyết viết trọn bộ Tam tạng và bộ Chú giải của chư vị Thinh văn, La hán vào lá bối đa (lá buôn). Qua kỳ kết tập thứ năm tại xứ Miến Điện (thành Mandalay), vua Mindong xin phép khắc Tam tạng và bộ Chú giải vào những bia đá cẩm thạch trắng, từ năm 2414 tới nay gần một thế kỷ mà chữ khắc vẫn còn nguyên vẹn. Chưa biết kỳ kết tập lần thứ sáu hiện giờ tại Rangoon (Miến Điện). Chư tăng sẽ định bảo tồn Tam tạng lâu dài bằng cách nào.

    Phái Bảo Thủ, nhờ mỗi xứ đều có tổ chức đoàn thể Tăng già và giao nhiệm vụ cho các bậc trưởng lão thông suốt Tam tạng, cai quản hàng tỳ khưu, trong khắp châu quận, cho nên vị nào phạm giới luật cùng canh cải kinh điển, đều bị đem ra Giáo hội phân xử, răn phạt hoặc bị trục xuất. Bên ngoài những cư sĩ hộ pháp được phép tố cáo những nhà sư trụy lạc, hoặc loan truyền cho tín đồ hay biết và đồng nhau tuyệt giao, không cúng dường, không hộ độ vật thực đến vị tỳ khưu phá giới nữa. Nhờ hai bên tăng, tục, dòm ngó lẫn nhau, thức tỉnh cho nhau, nên Chánh pháp mới được trường tồn. Vậy mà lâu lâu cũng có tín đồ mê tín, giấu lỗi của các nhà sư, hoặc có các tín đồ không thông hiểu kinh luật, để cho các ngài tự do hành động phi pháp, nên thỉnh thoảng các bậc cao tăng và hộ pháp phải hiệp nhau tổ chức Hội nghị Kết tập để duy trì Chánh giáo.

    Về phần Tân Tiến, Tăng già ra đời từ khi nhóm thầy tỳ khưu Vajjiputta tách ra khỏi hệ thống Giáo hội, vì bởi Hội nghị Kết tập Tam tạng kỳ nhì tại Vesali (Ấn Độ) bác bỏ 10 điều luật của họ canh cải như đã tường thuật trong đoạn lịch sử. Từ đó mạnh ai nấy lo mở đạo lập giáo. Ai ưa thích môn nào trong ba tạng, cứ tùy theo kiến thức mình viết ra kinh sách, làm nền tảng cho đạo giáo mình. Phần đông khinh thường giới luật và thiên về triết lý huyền học để rộng giải Phật ngôn ra thiên hình vạn trạng nối tiếp nhau phổ thông giáo lý Tân Tiến ra nhiều tông chỉ. Như ở Ấn Độ các ông: Vasubandhu (Thế Thân), Tổ sư Câu Xá tông viết ra cuốn Abhidharma-Koca Castra (A-tì-đạt-ma Câu-xá luận); Kumāralabdha (Cưu-ma-la-da), Tổ sư Thành Thật tông, nhờ học trò ông là thầy Harivarman (Ha-lỹ-bạt-ma) viết ra cuốn Satya Siddhi Castra (Thành Thật luận); Nagarjuna (Long Thọ), Tổ sư Tam Luận tông, viết ra ba quyển Madhyamika- Castra (Trung luận), Dvādaca Nikāya Castra (Thập Nhị Môn luận), Prajna Pāramitā Sutra Castra (Bát nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh); Asanga (Vô Trước), Tổ sư Duy Thức hay Dù Dà tông, viết cuốn Yogācāra-BhumiCastra (Dù Dà Sư Địa luận), anh ông là ông Vasubandhu (Thiên Thân) viết cuốn Vidyāmātra-Castra-Kārikā

    (Duy Thức luận); Acvaghosa (Mã Minh), Tổ sư Hoa Nghiêm tông, viết ra cuốn Mahāyāna Craddhatpāda Castra là một bộ luận Đại thừa trọng yếu về Phật tánh. Bên Tàu có ông Tổ sư Trí Khải, chiếc trung luận thuyết của ba tông là Tam luận, Hoa Nghiêm và Thiền na làm căn bản cho Thiên Thai tông. Bên Nhật có ông tổ sư Nichiren (Nhựt Liên) sang Tàu khảo cứu Thiên Thai tông về viết ra Diệu Pháp Liên Hoa kinh.

    Chúng ta sẽ có dịp biết thêm tên nhiều soạn giả các pho kinh đã được liệt vào Tam tạng Tân Tiến, dưới trào vua Kanishka. Từ đó về sau vì Tân Tiến không có đoàn thể Tăng già và vì Chánh pháp thất lạc, không ai đủ tư cách và khả năng đứng ra chỉnh đốn Tam tạng, để mặc tình tăng đồ và tín đồ hậu lai trì tụng kinh sách theo sở thích của mình, hoặc thực hành những tôn chỉ dễ thực hành.

    Tới đây tưởng cũng vừa đủ cho hàng thức giả nhận định tánh cách của giáo lý Bảo Thủ và Tân Tiến; Tam tạng Pāḷī là kho Pháp bảo, gồm cả lời di huấn của Phật Tổ Gotama, Tam tạng Sanskrit là kho Luận thuyết của các vị giáo tổ. Phật Tổ Gotama là Bậc Chánh đẳng Chánh giác, các ông giáo tổ là những triết học gia, nhờ tài biện luận xuất chúng nên được phong tặng là Bồ tát Tổ sư. Nếu hiểu theo định nghĩa Tân Tiến của hai chữ Bồ tát, thì các Ngài chưa phải là bực tu chứng. Nếu tu chứng thì chẳng bao giờ các ngài ly khai với Phật giáo Nguyên Thủy, để đứng theo hàng ngũ của nhóm Vajjiputta và bài bác giáo pháp của Phật Tổ

    Gotama, như các ông Harivarman (Ha-lỹ-bạt-ma), Nagarjuna (Long Thọ) đã viết sách phê bình chỉ trích Phật ngôn đáo để, ông Bodhi Dharma (Bồ-Đề Đạt-Ma) đã thản nhiên thốt rằng giáo Pháp của Phật Gotama là một thứ giáo pháp chai sạn như đá, cần chi phải noi theo Thánh giáo cổ truyền33. Chẳng may chúng ta hấp thụ Phật giáo Trung Hoa, bị nung đúc theo kinh sách của hạng người quá ư ngã mạn, nên vô tình chúng ta hùa theo tác giả khinh thường giáo lý Bảo Thủ, là giáo lý của vị Giáo chủ mà chúng ta hết lòng sùng kính tôn thờ, thật là trớ trêu.

    Nhờ phong tục giải phóng nhiều dân tộc Á châu và Phật tử toàn cầu được gặp nhau trong những Hội nghị Phật giáo, mà những người lầm lạc đã bắt đầu tỉnh ngộ. Phật tử Ấn Độ và Nam Dương đã can đảm đổi chiều xu hướng, nhờ nhà cầm quyền khuyến khích ủng hộ. Chỉ người Tàu, Nhựt và Việt Nam dường như còn e lệ rụt rè, vì chưa cởi bỏ được tánh tự tôn tự đại kiêu căng và còn tiếc địa vị, tập quán. Nhưng chẳng còn bao lâu toàn thể Phật tử sẽ đoàn kết dưới ánh từ quang của Phật Tổ Gotama, một nhà cách mạng duy nhứt về tinh thần đạo đức, để chế ngự làn sóng văn minh vật chất. Sự mau chậm chỉ tùy thuộc hành động sáng suốt của các nhà lãnh đạo, các bực trí thức, biết nhòm ngó để đánh giá cái tinh thần nhất trí của các dân tộc láng giềng trong khối Phật giáo Bảo thủ.

    Giáo lý Bảo thủ - Phật Gotama dạy những chi mà các thầy Tân Tiến lại chê là thấp hèn ích kỷ? Ngài chẳng dạy chi hơn là chỉ dẫn cho các tín đồ con đường tiến hóa từ thấp lên cao, từ dễ đến khó, từ phàm qua thánh. Cái thấp hèn trong phương pháp hợp lý này là sự thực tế không pha lẫn xảo quyệt và thần bí, không đường lối đi tắt. Ích kỷ, bởi phải khai sáng cho mình trước bằng tự lực cá nhân, không cần phải tha lực gia hộ, gọi là tự giác rồi mới giác tha, thua thuyết quên mình độ người, là một thuyết để đề cao tôn chỉ, nhưng chưa từng thấy ai áp dụng.

    Bồ tát Siddhatta là bực trí tuệ, đã thấu rõ đời là bể khổ trầm luân, nên đã tự nguyện xả thân cầu đạo, hầu cứu vớt sanh linh. Khi chứng đạo quả Vô thượng Chánh giác, sứ mạng của Ngài là chỉ dẫn cho chúng sanh ra khỏi vòng đau khổ. Cho nên mục đích của Ngài chẳng phải ru ngủ tín đồ bằng triết lý huyễn hoặc. Trái lại, đạo giải thoát của Ngài lấy cái khổ ở đời làm gốc và lấy sự diệt khổ làm ngọn. Khởi đầu, đối với người thế tục, Phật Gotama dạy phải cải thiện đời sống bằng cách thương yêu trợ giúp lẫn nhau, làm theo đạo lý luân thường, tập rèn cho một tinh thần khắc kỷ tự lập và khoan hồng bác ái. Ai tin theo Ngài phải tự khép mình theo một kỷ luật nhất định, để tu bồi đức tánh, trở nên những phần tử tốt đẹp trong gia đình xã hội, hầu cùng nhau vui hưởng một cuộc đời thanh đạm ôn hòa, và nâng cao trình độ tiến hóa trên đường giác ngộ.

    Với những người có năng lực theo dấu chơn Ngài thì Ngài dạy ăn theo kỷ luật nghiêm khắc hơn, để làm gương mẫu cho tín đồ, cần mẫn học tập cho thông suốt đạo lý để làm mô phạm cho quần sanh, và chỉ dạy phân minh cả phương thức huấn luyện thân tâm, diệt trừ phiền não ái dục.

    Tóm lược Phật Tổ dạy hai điều: 1- Học đủ tư cách và phẩm hạnh làm người; 2- Tiến vào con đường Thánh vức.

    Vì lòng tham lam ích kỷ, ganh tỵ thù hiềm, si mê trụy lạc của mỗi cá nhân, mà xã hội phải bị sa vướng trong vòng khổ não triền miên. Muốn diệt khổ, mỗi tín đồ phải nhẫn nại hạn chế dục vọng để tránh những cuộc tranh giành xâu xé, và sửa đổi lần lần tư cách ăn ở xử sự với đời cho ra vẻ hiền lương chơn thật. Mỗi người mỗi nói lành, làm lành, tưởng lành, sống theo luật điều hòa của vũ trụ, thì cái khổ ở đời dần dần tiêu diệt.

    Đó là con đường tiến hóa trong thế gian của hàng tại gia và xuất gia vậy. Một khi xã hội được tiến đến mức đó rồi, thì thế gian trở thành cảnh giới cực lạc. Nhưng than ôi! Giờ phút này nhân loại đương sống trên vực thẳm, chờ ngày diệt vong, mà mấy ai chịu hồi đầu hướng thiện.

    Người tu Phật, tại gia cũng như xuất gia, cũng chẳng ai tiến đến con đường thế gian. Đời sống khổ ở thế gian chưa cải thiện được, thì mong gì giải thoát khỏi thế gian. Đạo Phật cần phải phổ thông trong dân gian, người tu Phật còn nhiều phận sự đối với đời, hơn là mong giải thoát ra khỏi thế gian. Vậy thì khoan đề cập đến đạo xuất thế gian, bởi trình độ tiến hóa chưa đủ khả năng để vói tới bực cao. Pháp xuất thế gian là pháp luyện tâm, dành để các bậc phạm hạnh cao thâm.

    Phải thực hành mới chứng ngộ. Học lý luận mà không ứng dụng, chẳng khác nào con két học nói. Nói mà không hiểu, tức là nói đùa, có hại hơn là có lợi.

    Đúng ra Phật giáo không phải là một tôn giáo, cũng chẳng phải là một triết học, mà chính nó là một khoa cứu đời, rất thực tế và thời nào cũng áp dụng được cả. Không phải tôn giáo vì không tin nơi thần linh, không có quy luật về tín ngưỡng và không bắt buộc cúng tế. Không phải triết học vì không đề cập đến nguyên lý vũ trụ, đến linh hồn, đến tạo hóa. Phật giáo bác bỏ huyền học (hình nhi thượng học) và ảo thuật, và chỉ chú trọng đến những vấn đề lợi ít cho số phận loài người.

    Trong kinh Samyutta Nikaya, Phật Gotama thuyết: “Này các đệ tử! Các con chớ nên tọc mạch như người phàm tục, mệt trí tìm hiểu coi trời đất vạn vật trường tồn hay không trường tồn, có giới hạn hay không có giới hạn. Nếu các con muốn tìm hiểu, tốt hơn là hiểu như vậy: Đây là khổ, đây là nguồn cội của sự khổ, đây là phương pháp diệt khổ”.

    Đại đức Malunkyāputta, ngày nọ đứng trước Phật và bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đệ tử lấy làm ngạc nhiên khi thấy đức Thế Tôn từ chối, không khứng trả lời những câu hỏi, như là: Vũ trụ là vô thỉ vô chung hay có hạn định trong thời gian? Vũ trụ là vô cùng tận hay hữu biên hữu giới? Sau khi tịch diệt Thế Tôn còn hay mất? Nếu đức Từ phụ Đại giác không trả lời cho những câu ấy, thì đệ tử lấy làm uất ức lắm vậy. Bạch đức Thế Tôn, nếu có thể trả lời, xin đức Thế Tôn hoan hỷ trả lời dùm, cho an lòng đệ tử.” Đức Phật mới phán rằng:

    “Này ông Malunkyāputta, Như Lai đã nói những gì với ông, khi ông mới nhập môn. Như Lai có bảo: Này ông Malunkyāputta ông cứ vào tu đi, rồi
    Như Lai sẽ dạy cho ông biết, trời đất bền vững hay không bền vững, vạn vật có giới hạn hay không giới hạn, vị Chánh đẳng Chánh giác còn hay mất, sau khi lìa bỏ cõi trần?” Đại đức Manlunkyāputta phải thú nhận rằng Phật chẳng bao giờ có hứa như thế ấy. Rồi Phật tiếp nói: “Này ông Malunkyāputta, ông có biết tại sao Như Lai không khứng giải thích các vấn đề ấy chăng? Bởi nó chẳng có ích lợi cho môn đệ của Như Lai chút nào trong sự tiến hóa trên con đường giác ngộ. Như Lai chỉ dạy sự thật về cái khổ ở đời và phương pháp diệt khổ ấy thôi. Này ông Malunkyāputta những điều nào Như Lai không nói ra, thì điều ấy sẽ không bao giờ được tiết lộ đâu”.

    Chẳng có lời tuyên ngôn nào rõ rệt hơn nữa: Phật giáo chỉ có một tôn chỉ thực nghiệm và lợi ích cho thế gian. Cổ điển còn miêu tả tôn chỉ ấy như vậy: Một người kia bị trúng tên tẩm thuốc độc. Cha mẹ và bậu bạn người ấy hối hả rước thầy cứu chữa. Kẻ bị thương từ chối và nói rằng: Tôi chẳng khứng chịu cho ai giải độc và cứu chữa tôi, nếu tôi chưa biết được kẻ nào bắn tôi, tên họ kẻ ấy là gì, nó thuộc dòng sang hay hèn và cây ná của nó ra sao. Hỏi vậy kết cuộc ra thế nào? Chắc người bị thương phải bỏ mình.

    Xem đó thì thấy công sưu tầm triết lý huyền học chẳng giúp cho sự giải thoát chút nào; và trong khi chờ đợi kết quả xa xâm, bậc trí tuệ phải gấp rút thực hành những điều cần thiết cấp thời, nghĩa là xác định cái đời, nhìn vào cái khổ ở đời và tìm thuốc điều trị.

    Những hệ thống triết học toàn là lý thuyết suy biện bao la, mà đời là thực tế, là một sự khổ hiển nhiên không thể chối cãi và bỏ qua được. Sự học hỏi có thể trọn đời cũng chưa xong, trong lúc chờ đợi, ai ai cũng phải sống, mà sống là khổ, là đau đớn, là hấp hối, là chết và tái sanh để mang lấy khổ nữa. Thế thì triết học có ích lợi gì? Nó chỉ làm cho con người ngạo mạn, kiêu căng thôi.

    Bảo Thủ không nhìn nhận cái atman (cái ta, cái bản ngã) của đạo Bà-la-môn, và cho rằng vũ trụ là một cái biển hiện tượng, không bờ không mé, vạn hữu toàn là những tiến triển không ngừng nghỉ, không tự chủ. Các sự biến đổi ấy gọi là pháp tập hợp, sanh như thế nào, diệt như thế ấy, hết sanh tới diệt, hết diệt rồi sanh, nên gọi là vô thường (biến đổi luôn luôn) và vô ngã (không tự chủ).

    Nơi trung tâm của sự biến đổi ấy, có cái viññāna (cái biết hay tâm thức). Thức ấy để giám thị những tư tưởng, những thọ cảm, song cũng là một pháp tập hợp (uẩn) như các pháp tập hợp khác cũng biến đổi và không tự chủ.

    Về phần người Ấn Độ, trước khi Phật giáo ra đời, họ đã thâm nhiễm giáo lý của Bà-la-môn giáo. Theo thuyết huyền học của Bà-la-môn, phái Vedanta (Phệ Đà) thì Brahma là cái đại hồn của vũ trụ. Cái atman là cái tiểu hồn của mỗi người trong đại hồn tách ra. Thuyết này được phổ thông trong dân gian từ thượng cổ. Theo một phái khác của Bàla-môn là phái Samkhya, đồng thời là Phật giáo, thì vũ trụ sanh ra bởi một phần purusha (tạm gọi là nguyên thần) và một phần prakriti (tạm gọi là nguyên chất), mường tượng như cái atman (hồn) và cái anatman (thể chất) của phái Vedanta nói trên. Phái Vedanta và Samkhya, cũng như Phật giáo cho rằng vũ trụ là ảo cảnh, nhưng trong khi Phật giáo không nhìn nhận có linh hồn bất di bất dịch, hai phái này cho rằng sau những hiện tượng, có một cái hồn trường cửu, dường như cái lòng sông chứa đựng những giọt nước chảy hoài không dứt.

    Phật giáo cũng nhìn nhận có cái ta, nhưng cái ta ấy có tánh cách thay đổi luôn luôn. Quan niệm về cái ta, cái hồn đã in sâu vào trí não người Ấn Độ, cho nên họ không thể bỏ được.

    Sách Phật cũng ghi chép nhiều bằng chứng khác biệt về chỗ Phật giáo không nhìn nhận cái ta. Như kinh Milindapānhā (Mi-lan-đà) thuật lại lời vấn đáp giữa vua Milinda (150 trước Gia-Tô) và ông đại Trưởng lão Nāgasena (Na-Tiên). Vua Milinda hỏi ông Tỳ khưu Nāgasena: “Bạch Đại đức, quý danh của ngài là chi?” Ông Nāgasena trả lời: “Tâu bệ hạ, bần tăng tên Nagasena, nhưng tiếng Nāgasena chỉ là một danh từ để gọi vậy thôi, thật là chẳng gì chứng chắc đó là bần tăng, đó là người”. ‒ “Bạch Đại đức, nếu không phải là người, vậy chớ ai nói chuyện đó? Ai đắc đạo quả34 Ai đắc Niết-bàn? Nếu nói như Ngài, chẳng là không có điều thiện, điều ác, không có phước, không có tội, không có thưởng phạt hay sao? Nếu có ai giết Ngài, kẻ ấy chẳng phải kẻ sát nhân sao?” ‒ “Tâu bệ hạ, cái ta chẳng phải cái tên, chẳng phải cái thân, chẳng phải cái thọ, chẳng phải cái hành, chẳng phải cái thức, mà danh sắc hành thức cũng chẳng phải cái chi ngoài cái thân này”. [Đây ám chỉ rằng Phật giáo không nhìn nhận ngoài cái thân này còn có đại hồn (paramatman) như của Phệ Đà hoặc cái bản tánh (purusha) của phái Samkhya]. Vua Milinda mới tiếp hỏi: “Bạch Đại đức, vậy thì trẫm biết đâu mà tìm ngài? Tiếng Nagasena chẳng là một tiếng rỗng hay sao? Ngài nói không thật, Ngài dối trẫm không có Đại đức Nagasena”. ‒ “Tâu Bệ hạ, cái xa (xe) là cái chi? Phải cái gọng chăng? Phải cái bánh chăng? Phải cái thùng chăng? Phải cái ách chăng? Phải toàn cả gọng, bánh, thùng và ách chăng? Gộp chung các món ấy, người ta gọi là cái xe. Tâu bệ hạ, gộp chung sắc, thọ, tưởng, hành, thức của bần Tăng lại, người ta gọi là Nagasena. Nhưng nói cho đúng ra, tiếng Nagasena chẳng chỉ người nào cả”.

    Lại câu của Phật ngôn: “Này các đệ tử, nếu có đứa con nào chỉ có thân của nó để gọi là cái ta của nó như thế còn hay hơn là nó chỉ có cái tâm của nó”. Vì cái thân tứ đại có thể tồn tại trong một trăm năm, còn cái tâm cứ sanh diệt ngày đêm, không giờ phút nào ngưng nghỉ.

    Vì không cởi bỏ được thành kiến về thân tạo hóa, về cái ta, nên sau khi Phật Gotama tịch diệt rồi, nhóm Bà-la-môn nổi lên đánh đổ Phật giáo để lập lại uy thế. Trước kia họ đã chiếm một địa vị cao cả và nắm độc quyền chấp chưởng sự tế lễ thần linh. Đến khi Phật giáo ra đời, vua quan dân chúng bỏ tà đạo theo về với chánh pháp, làm cho Bà-lamôn giáo phải suy vong. Có nhiều ông thầy Bà-la-môn tức tối thù hằn vô cùng, như ông Samjaya, là thầy của hai ông Sariputta (Xá- Lợi-Phất) và Moggallāna (Mục-Kiền-Liên), căm giận, thổ huyết chết, sau khi hai ông này dắt hết cả 500 đệ tử của ông đi xuất gia theo Phật Gotama.

    Có bọn tìm cách cho mất thanh danh Phật, như nhóm nọ mướn nàng Cincā phao vu Phật tự tình với nàng có thai nghén, mà rồi mưu chước đê hèn ấy bại lộ, làm cho dân chúng oán ghét, càng bỏ các thầy Bà-la-môn theo về với Phật. Nhận thấy đạo mình không thể so sánh với đạo Phật giáo, có nhiều thầy Bà-la-môn35 xin quy đầu Phật. Trong số này có người thành thật yêu chuộng chơn lý, cố gắng tu hành đến đạo quả Niết-bàn, cũng có người giả dạng xuất gia để nuôi mạng cho qua ngày. Chính nhóm này là nhóm phá hoại Phật pháp. Trước kia vì kiêng sợ đức Thầy, họ nhẫn nại thu thúc theo chế độ Tăng già. Đến khi đức Thầy vừa viên tịch, họ tha hồ phóng túng theo đường xưa lối cũ.

    Họ khởi đầu sửa đổi giới luật, chia rẽ Tăng già, rồi lần lần họ khôn khéo đem giáo pháp của Phật ra giảng giải theo triết lý huyền học. Biết rằng Phật Gotama cấm luận biện về triết lý siêu hình, nhưng chính môn ấy là sở thích của tư tưởng người Ấn Độ. Nếu dùng huyền học để giải thích Phật ngôn, thì còn chi thích hợp với tâm lý dân chúng hơn nữa. Nhờ vậy mà lần lần họ đem tín đồ trở về đường cũ một cách êm dịu. Do đó mà Phật giáo dần dần bị Bà-la-môn giáo thay thế, mưu chước sắp đặt rất khôn ngoan sâu kín, cho đến đổi họ phế bỏ hẳn ông giáo chủ, mà tín đồ không hay không biết.36

    Tại Ấn Độ, Phật giáo bị bứng gốc rễ, Bà-la-môn giáo, trở lại thành hành. Ngoài Ấn Độ như Tây Tạng, Trung Hoa, Cao Ly, Nhựt Bổn, Việt Nam, Bà-la-môn giáo được truyền bá dưới danh từ Phật giáo, cho nên đạo Phật trong các xứ ấy, cũng như ở Ấn Độ miền Bắc, khác hẳn với Phật giáo Nguyên Thủy.

    Người Việt Nam hấp thụ theo Phật giáo của Tàu tức là Bà- la-môn giáo trá hình, pha trộn với Khổng giáo, Đạo giáo lâu đời, truyền tử lưu tôn, chẳng ai tìm tòi cho thấu căn cội, nên người người đều đinh ninh rằng đạo mình là chính gốc.

    Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng thế gian là bào ảnh, hiện tượng, vô thường biến đổi, tức là một cái biển khổ.

    Ưa thích đời, cố gắng theo đời, tưởng nghĩ theo đời, hành động theo đời, chỉ đưa con người từ cái khổ này đến cái khổ kia. Do đó, người ta nói Phật giáo là một chủ nghĩa yếm thế, bi quan. Nhưng tư cách chán đời theo Phật giáo, chẳng phải là ghét đời, bỏ đời, trốn đời. Bi quan đây có nghĩa là không thể hy vọng nơi đời để kiếm chỗ nương dựa bền vững, để tìm hạnh phúc chắc thật, vì đời như đã nói trên, là một hiện tượng không bờ không mé, mà con người chung phận phải cam chịu cái số phận chìm nổi lênh đênh.

    Những sự vô thường biến đổi, những tình trạng khổ não và tánh cách không tự chủ của thế gian, là ba thuyết giáo của Phật Gotama thường giảng lập đi lập lại trong lúc Ngài đi hoằng pháp độ sanh. Vừa mở đạo khai phá, thì Phật Gotama đề cập ngay đến vấn đề khổ: “Này các thầy Samôn37, số phận của chúng sanh phải mang lấy nhiều điều thống khổ, không sao tránh khỏi được. Khổ vì sanh già đau chết, khổ vì không ưa mà phải gần, ưa mà phải xa, khổ vì tử biệt sanh ly, vì trái ý nghịch lòng, vì uất ức thất vọng.” “Này các thầy Sa-môn, nguồn cội của các sự khổ ấy là lòng ái dục, là sự khao khát, ưa muốn vui thích theo kiến thức của mỗi chúng sanh.” “Này các thầy Sa-môn, muốn diệt khổ phải dập tắt lòng tham muốn.” “Này các thầy Sa-môn, muốn dập tắt lòng tham muốn, phải đi theo con đường chánh: thấy biết chơn chánh, hành động chơn chánh, nuôi mạng chơn chánh, lóng lòng chơn chánh. ”

    Lòng tham muốn là động lực, là lý do tồn tại của sự ráng sức cần cù của thế gian. Mà cố gắng tranh đua chừng nào, càng khổ chừng nấy. Khi đoạt được mục đích rồi, gọi là vui, vui trong chốc lát rồi phải khổ nữa, khổ để duy trì cái mục đích ấy. Con người chung thân phải nô lệ cho lòng tham muốn. Tuy vậy cái khổ trong một đời người cũng chẳng bao nhiêu, nhưng thương hại cho người phải chịu khổ vô cùng tận trong vòng luân hồi sanh tử.

    “Này các đệ tử, các ngươi nghĩ thế nào: Nước trong bốn biển cả và nước mắt của ngươi đã chảy trong vô lượng kiếp luân hồi, nước nào nhiều? Các ngươi đã từng rơi lụy trong khi mất cha, mất mẹ, mất thân bằng quyến thuộc, mất của cải lợi danh, những giọt lụy đã tuôn rơi trong thời gian không thể đo lường được, trong khi các ngươi trôi giạt từ kiếp này sang kiếp khác, nếu đem so sánh với nước trong bốn đại hải, thì nước mắt kia phải nhiều hơn.’’

    Đối với đời, thuyết giáo của Phật Gotama thật là bi quan, cho nên những người vui thích theo đời khinh thường pháp Tứ đế. Họ cho rằng đời không tham muốn là đời chết, đời vô vị, bởi có tham muốn mới có tranh đua, có tranh đua mới có tiến hóa, bằng chẳng vậy con người sẽ như cây, như đá.

    Tiến hóa trong vòng tham lam ích kỷ, là tiến hóa đến chỗ điêu tàn khốc hại, đến nơi tận diệt. Nếu dùng văn minh khoa học với tấm lòng từ bi bác ái, để xây đắp niềm hạnh phúc cho nhân loại, ấy mới gọi là tiến hóa. Tiến hóa trong sự hạn chế lòng tham lam ích kỷ, tiến hóa trong sự tham lam ích kỷ, tiến hóa ngoài thống khổ, chính đó là tiến hóa theo Bát chánh đạo, tiến hóa đến nơi hạnh phúc hòa bình. Rồi từ chỗ hạnh phúc thế gian, là hạnh phúc tương đối trong Bát chánh đạo, con người mới có thể thâu đoạt được cái hạnh phúc tuyệt đối của Bát thánh đạo, là con đường, là hành trình của một số người rất ít có trong thời gian, gọi là bậc Thánh nhơn, đã tận diệt lòng tham lam ích kỷ.

    Sự lợi ích của Phật pháp đối với thế gian rất hiển nhiên. Chỉ những người không nhận định được sự lợi ích ấy, mới gọi Phật giáo là một chủ nghĩa bi quan.

    Dùng hai cái định lý luân hồi và khổ não trong phạm vi hiện tượng, Phật Gotama chỉ ra cái luật tuần hoàn biến đổi thế gian, của đời sống nhân loại và của nguồn tư tưởng. Luật ấy gọi luật nhân quả: 1) vô minh sinh ra hành ; 2) hành sinh ra thức ; 3) thức sinh ra danh-sắc ; 4) danh-sắc sinh ra lục nhập ; 5) lục nhập sinh ra xúc ; 6) xúc sinh ra thọ ; 7) thọ sinh ra ái ; 8) ái sinh ra thủ ; 9) thủ sinh ra hữu ; 10) hữu sinh ra sanh ; 11) sanh sinh ra lão, tử... ; 12) ...lão, tử khổ. Cả thảy là 12 cái nhân liên thuộc, gọi là Thập nhị nhân duyên. Cái chi đem lại một kết quả là nhân. Kết quả nào trở thành nhân gọi là duyên.

    Thập nhị nhân duyên chẳng khác nào một vành tròn, một vòng dây xích có 12 khoen, nối không đầu không đuôi. Nhân trước là quyên khởi của nhân sau, nhân sau giải thích trở lại nhân trước.

    1)  Vô minh38 là pháp tối mê che án không cho chúng sanh hiểu được Tứ đế, không nhận thấy được rõ rệt đời là khổ, cứ lấy thật làm giả, lấy giả làm thật (tiếng avijjā gọi là vô minh, trước kia Phệ Đà giáo đã dùng với cái nghĩa: từ công việc làm thông thường đến những kết quả của khoa học, tóm tắt là sự hiểu biết của trí óc).

    2)  Hành là chuyển động, không đứng một chỗ. Vì tối mê nên chúng sanh cứ hành vi tạo tác: muốn vật này, tham món nọ: thương người này, ghét kẻ kia, tưởng quấy hiểu lầm, chẳng phân được lành dữ, chánh tà.

    3)  Các sự hành động ấy, chính là sự biểu lộ của lòng tham muốn, mong mỏi, ước ao, hy vọng, ước ao, hy vọng, gọi là thức, cái biết từ trong vô minh mà ra.

    4)  Có thức rồi39 thì liền có thân thể. Thân thuộc về phần vật chất, thức thuộc về tinh thần. Tinh thần, vật chất hay danh sắc, tức là thân sống tứ đại.

    5)  Thân có sáu cửa: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý gọi là lục nhập hay lục căn.

    6)  Có lục căn mới có tiếp xúc, đụng chạm với lục trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

    7)  Có tiếp xúc với sáu trần, mới có cảm giác, gọi là thọ.

    8)  Có cảm giác mới sanh ra ưa thích, gọi là ái.

    9)  Có ưa mến, nên có quyến luyến, bám chặt vào chỗ vui thích, không chịu buông ra, gọi là thủ.

    10) Không buông ra, nên có tích trữ những tiềm lực, làm mầm mống, phôi chủng để luân hồi, gọi là hữu40.

    11) Có hữu mới có tái sanh trong ba giới bốn loài.

    12) Có tái sanh, nên có lão, bịnh, tử, khổ.

    I - Hai pháp đầu: Vô minh và hành, ám chỉ cái nghiệp quá khứ.

    Chúng sanh vì ngu muội và tham ái, nên đã tạo những động lực lành và dữ. Do các động lực ấy, xuất hiện những phản động lực. Động lực và phản động lực hợp lại gọi là nghiệp lực. Muốn nói rõ hơn nữa, thì nghiệp lực là một lực lượng tiềm tàng, làm cho mỗi động lực (nhân) có một sức phản ứng (quả hay duyên) theo sau. Vì nghiệp lực quá khứ mà ta có đời hiện tại; rồi vì cái đời hiện tại, ta sẽ có đời vị lai. Đời người chẳng khác một nguồn nước vô tận. Bao giờ chúng ta còn những tác ý lành dữ, còn làm nộ lệ cho lòng ái dục, thì nghiệp lực còn là một cái cường lực thực tế để ban thưởng hoặc trừng trị hành vi thiện ác của chúng ta41.

    Tóm lại nghiệp lực chẳng chi khác hơn là cái luật thiên nhiên trong vũ trụ để duy trì những pháp hành (nhứt là thiện pháp) mà thế gian thường gọi là “thế lực bảo tồn luật”. Theo luật này, các sức mạnh chỉ thay đổi từ sức này ra sức khác, không hao mòn không tiêu tan. Ta đây cũng không thể làm sao cho mất được, bởi đời này ta trả chưa hết những quả đã gây ra do sự ham muốn trong đời quá khứ; mà ta lại đương tạo thêm những nhân mới, cho nên ta còn phải tái sanh trong kiếp vị lai và luân hồi mãi mãi vì lòng tham muốn.

    Người tu Phật biết bỏ dữ theo lành là nhờ hiểu được luật nhân quả và nghiệp báo ứng nói trên. Họ biết rằng chính vì hành vi đó làm cho đời sống của họ được vui sướng hay khổ sở, họ cũng biết rằng sự ấm no hay đói rách hiện giờ của họ đều do nơi nhân lành hoặc dữ mà họ đã tạo trong quá khứ.

    Chẳng ai chạy khỏi cái nghiệp được, dầu cho lên trời, xuống biển hoặc vào hang núi cũng không thể trốn tránh được quả báo của ta đã gây ra. Đức Phật cũng không thể che chở cho ta khỏi bị nghiệp lực lôi kéo, và vớt ta ra ngồi vòng luân hồi được.

    Xin nhắc lại vô minh chẳng phải là cái nhân đầu tiên, mà chỉ là một điều kiện của sự luân hồi.

    Bây giờ thử hỏi chúng ta có thể biết được cái nhân đầu tiên sanh ra loài người chăng? Và biết được, nhân ấy sẽ đem lại cho chúng ta lợi ích chi? Đức Phật nói rằng: Chẳng một ai hiểu được cái khởi điểm của luân hồi ; chẳng một ai tìm cho ra nguồn gốc của loài người trong một quá khứ vô cùng tận. Các điều đã xảy ra trong đời ta, từ bé đến lớn, từ sớm đến chiều, ta còn không thể nhớ lại được. Cũng như bắt đầu từ đời ta kể lên đời cha ta, ông nội ta, ông cố, ông sơ ta..., kể chừng đó, ta cảm thấy không suy tầm cho ra vị thủy tổ của ta được. Nhược bằng tìm được nguồn cội của ta, thử hỏi để làm gì? Ta nên biết rằng, đời người chẳng khác một thếp đèn. Bao giờ còn dầu trong thếp, là còn tham lam, ham muốn, thì còn sống, chết mãi mãi cho đến ngày giờ nào ta thôi châm thêm dầu vô thếp nữa, là diệt tận những lòng ham muốn.

    Như thế, khi ta nhìn chung quanh, trong các tầng lớp dân chúng, thật sự giàu sang hoặc nghèo khổ, thấy kẻ mạnh khỏe cùng người tàn tật, ta nên biết rằng những hoàn cảnh khác nhau của họ không phải là một sự ngẫu nhiên, hoặc do nơi một vị thần nào định đoạt, mà do nơi nhân lành hay nhân dữ của họ đã tạo trong quá khứ.

    Tóm lại, chúng ta đã là người sáng tạo các nghiệp thiện hoặc nghiệp ác cho chúng ta. Giờ nay chúng ta đang sống dưới uy quyền của nó và bị nó dẫn dắt, phiêu bạt từ kiếp này sang kiếp khác. Hẳn thật chẳng ai sanh ra ta, mà chính ta là tạo hóa của ta. Bởi thế lúc nào ta cũng bẻ gãy cái bánh xe luân hồi bằng cách diệt tận lòng ái dục.

    II - Bốn pháp kể từ thức, danh sắc, lục nhập và xúc hiệp lại tròn đủ giai đoạn tái sanh.

    Nhiều người tưởng rằng đời sống của một chúng sanh bị gián đoạn từ giờ lâm chung đến giờ tái sanh. Chẳng phải vậy, đến giờ xác thân phải hư hoại, hơi thở vừa tắt, thì nghiệp lực vừa tạo một xác thân khác trong giờ ấy, nơi cảnh giới người, súc sanh, a-tu-la, ngạ quỷ, hoặc địa ngục tùy theo tỷ lượng lành dữ của hai động lực và phản động lực tích trữ trong thân tâm. Nói về người, thì nghiệp lực hấp vào một thai bào. Đúng ngày khai hoa nở nhụy, có đủ thân hình ngũ uẩn, là sắc thọ tưởng hành thức, làm con của một cặp vợ chồng có nhiều bẩm tánh thích hợp với chúng sanh ấy.

    Ngoài Phật giáo, có thuyết cho rằng cái linh hồn đi đầu thai hoặc cái thần thức bị nghiệp lực dắt dẫn đi thọ sanh, vì người ta nhìn nhận có một cái linh hồn bất di bất dịch, y như Bà-la-môn giáo. Theo Phật giáo, một chúng sanh khi chết rồi, thì năm uẩn đều tan rã; chỉ có nghiệp lực là nhân tạo ra một “hóa hợp vật” mới, có 4 phần trọng yếu là thức, danh sắc, lục nhập và xúc, chẳng khác nào bốn bộ phận của cái máy “dẫn lực” cho những tiềm lực tích trữ trong bình chứa (nghiệp) hiển xuất tự nhiên, theo thứ tự của luật nhân quả báo ứng. Thức ví như vị chủ nhà, danh sắc là thân gồm cả tinh thần và vật chất, ví như bên trong và vật chất, ví như bên trong và bên trong của cái nhà; lục nhập như sáu cửa; xúc như phòng rước khách.

    III - Bốn pháp kể từ thọ, ái, thủ, hữu, là giai đoạn tạo nghiệp mới trong đời hiện tại.

    Theo đoạn trên thì nghiệp đã biểu hiện đầy đủ bằng thân hình: Bên ngoài tốt đẹp hay xấu xa, tròn đủ hay bịnh tật và bên trong khí bẩm thông minh hay ngu độn, tánh tình hiền hậu hay hung ác, tùy theo kết quả của hành vi quá khứ. Thân hình, có thức làm chủ, gọi là chúng sanh có thức tánh, được sanh ra trong một hoàn cảnh thích hợp với kết quả nói trên, để rồi, tùy theo ảnh hưởng gia đình, theo trào lưu xã hội, xoay chuyển, biến đổi và tạo thành nghiệp mới trong buổi hiện tại.

    Nhà đã sẵn tạo, chủ nhà lại được tự do rộng mở, sáu cửa là lục căn, để tiếp rước sáu hạng khách bên ngoài là lục trần. Cho nên có cảm xúc mới biết ưa thích sắc tốt, lời hay, mùi thơm, vị ngọt, vật đụng chạm mềm mại và danh lợi quyền tước. Sự tiếp rước lục trần, gọi là thọ.

    Nói cho đúng, có cảm giác rồi thì có ba thứ thọ: thọ vui, thọ khổ, thọ không vui không khổ. Nếu thọ vui thì mê say theo các vật vừa lòng, gọi là ái. Rồi bám vào các vật ấy, không chịu rời bỏ, gọi là thủ. Rũi mất đi thì mưu kia kế nọ, tìm kiếm, giành giựt, cấu xé, để đem trở lại cho một mình mình hưởng lấy. Lại còn lo sợ cho xác thân tiêu hoại. Răng long, tóc bạc cũng chưa chịu cho rằng mình già. Sợ cái già, cái chết cho đến đổi không dám nghe hai tiếng ấy; muốn cho xác thân sống mãi để làm nơ lệ cho lòng tham ái.

    Các hành vi tạo tác nói trên chính là những lực lượng sâu kín tích trữ trong đời hiện tại, gọi là hữu, tức là các nghiệp lực mới, sẵn chờ giây phút thuận tiện để tạo thân sau.

    IV - Các pháp chót là sanh và lão, bịnh, tử, khổ là giai đoạn tái sanh trong kiếp vị lai.

    Khi lâm bịnh nặng, mười phần kể chết, bịnh nhân vẫn hy vọng sống hoài. Hoặc trước một tai nạn, mười người như một, la hoảng lên “chết tôi rồi”, để tỏ rằng mình tham sống sợ chết. Lúc hấp hối, phần nhiều bị tâm thần tán loạn: lớp thì thương tiếc gia đình sự nghiệp, lớp thì lo sợ mất cái xác thân, ráng sức chống chọi với tử thần. Ô hô! Có mãnh lực nào trên thế gian này thắng nổi tử thần. Bởi vậy khi vừa mới thở hơi cuối cùng thì “nghiệp lực mới” (tiềm lực tích trữ trong đời) hấp dẫn vào một thai bào khác để tái sanh lại kiếp khác đặng cam chịu lấy lại những thống khổ triền miên trong cảnh sanh già đau chết.

    Già, đau, chết, ái dục, phiền não là duyên cuối cùng trở thành nhân của vô minh sanh trở lại hành, hành sanh lại thức v.v... thành ra thế giới hữu tình sanh diệt, diệt sanh, trong vòng 12 nhân duyên liên tiếp, không phân đâu là thủy đâu là chung. Bởi đó là thế gian đối với Phật giáo là vô thủy vô chung. Bị trói buộc và luân chuyển mãi mãi trong nhân quả, để mang lấy những khổ sanh già đau chết với bao nhiêu phiền não trong đời. Muốn giải thoát ra khỏi chốn ấy. Phật Gotama dạy nên bẻ gảy cái xiềng Thập nhị nhân duyên, nên diệt cái đời sống.

    Diệt đời sống không phải là tự sát hay giết lẫn nhau. Càng tự sát, càng giết lẫn nhau, càng tái sanh để thọ khổ, hiệp theo lý nhân quả nói trên. Muốn siêu xuất khỏi nguồn sanh tử, phải diệt tất cả 12 nhân duyên, nghĩa là bẻ gãy mỗi khoen dây xích, không còn cho dư sót khoen nào.

    Nhận thấy những khổ hiển nhiên ở đời sanh, già, đau, chết với tất cả phiền no, tham sống, sợ chết, tranh giành đoạt lợi đều do lòng ái dục. Muốn thoát khổ phải diệt dục. Muốn diệt dục phải ngừng bước trên đường “tạo nghiệp”. Lỡ sanh ra rồi, thấy đời là khổ, chán chê cái khổ, nhất định không sanh lại nữa. Không gây duyên, không tạo nghiệp tức là diệt sự sanh. Sanh diệt là hữu diệt; thủ, ái, thị, xúc, lục nhập, danh, sắc, thức, hành và vô minh cũng đều diệt cả. Ấy gọi là giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.

    “Này các đệ tử, nước biển có một vị là vị mặn. Đạo của Như Lai cũng có một vị là vị giải thoát. Người nào biết thực hành pháp của Như Lai, thì người ấy thực hành được Thập nhị nhân duyên”.

    Theo Thập nhị nhân duyên, chúng ta thấy rằng thế giới bên ngoài, cũng như thân mạng con người, chỉ là một sự cấu tạo hư huyền, một biến thái mộng huyền. Muốn giải thoát phải phá tan màn ảo mộng thế gian, là dùng trí tuệ suy xét thấu rõ vạn vật không thường tồn, không thật tướng. Một khi trí tuệ nhận biết tường tận như thế, thì thản nhiên vạn vật sẽ biểu lộ cái giả tướng trước tuệ nhãn của hành giả.42

    Tâm thức vẫn đồng một bản thể với vạn vật, là không tự tánh, cũng không tồn tại, như bóng tối bị phá tan bởi cái sáng của tuệ giác.

    Bởi đời là ảo mộng, bực trí tuệ thấy đời như ảo mộng; đời là ái dục, bực trí tuệ diệt bỏ ái dục bằng cách không tham ái, không vui khổ, không thương tiếc. Làm được như thế ấy, Phật giáo gọi là chơn giải thoát, là Niết-bàn43.

    Niết-bàn theo quan niệm nói trên, của Phật giáo Nguyên Thủy, phải chăng là cái chơn không, cái hư vô? Chơn không và hư vô vốn là hai cái thực thể của huyền học, mà Phật giáo Nguyên Thủy đã cấm nhặt không nói đến huyền học. Thế thì Niết-bàn không phải chơn không, cũng không phải hư vô, mà chính là sự liễu ngộ xác thực rằng: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ảo mộng, và sự diệt tận ái dục là diệt tận nguồn cội của sự tái sanh luân hồi.

    Đời là khổ, nhưng đời cũng là ảo mộng, thì khổ kia cũng đồng một tánh cách mộng huyễn như đời. Đời là khổ, thân người cũng khổ. Trước tình trạng ấy, lực trí tuệ diệt được lòng tham muốn, hết cố chấp vui buồn, lại thấu ra đời với thân chỉ là cái dạng bề ngoài, cái danh từ rỗng không. Diệt được tham lam, sân hận, si mê, gọi là không tạo tác nữa, là Niết-bàn.44

    Đến trình độ tiến hóa ấy, và trong khi chờ đợi cái chết cuối cùng, bậc Thánh nhân tự tại tiêu giao trong trạng thái yên lặng của Niết-bàn.

    Muốn diệt luân hồi, phải tiến từ giai đoạn, phải trãi qua nhiều kiếp, phải nhận thức lý Nhân duyên, phải ứng dụng pháp Tứ đế, nghĩa là trước nhất phải học đạo làm người. Biết rằng đời là khổ, phải nhẫn nại với cái khổ, hạn chế sự tham muốn, diệt trừ tánh ích kỷ, biết hổ ngươi và ghê sợ tội lỗi, tu bổ kiếp vị lai cho thêm phần tốt đẹp. Cải thiện đời sống cái nhân như thế ấy cũng chưa đủ, còn phải giúp đỡ khuyến khích những người chung quanh ta, bởi ta không thể sống riêng biệt một mình giữa xã hội. Sống nhờ xã hội thì tỏ ra biết ơn xã hội. Hơn nữa, chúng ta phải chịu trách nhiệm liên đới về kết quả xấu tốt phát sanh do hành vi dữ lành của những người ở chung quanh ta, chúng ta còn phải bị lôi cuốn trong cộng nghiệp của xã hội. Vì vậy chúng ta phải cố gắng khuyến khích chư Phật tử cãi ác tùng thiện, để tạo giữa họ và ta một hoàn cảnh thuận tiện, một chiều xu hướng thích hợp với tinh thần đạo đức, hiệp theo tôn chỉ tự giác giác tha của Phật giáo. Nhiệm vụ này, trong đạo Phật, luôn luôn phải căn cứ nơi lòng từ bi bác ái. Ta thương ta chưa đủ, ta còn phải thương toàn thể nhân loại. Nhưng ở thế gian có mấy ai thương nhân loại như Phật thương chúng sanh. Người ta chỉ lạm dụng những danh từ “từ bi, bác ái” để nói cho suôn câu, kỳ dư lòng người vẫn ích kỷ. Muốn tiến đến những trình độ Phật, chúng sanh còn phải tu tập nhiều đời nhiều kiếp. Bởi thế nên Phật chẳng dạy chi hơn là sống theo năm điều răn cấm và mười pháp lành45. Phần đông tín đồ lại cho các pháp ấy là thấp thỏi. Đạo làm người trong gia đình xã hội chưa tròn, mà hiếm kẻ mong làm Bồ tát, mong chứng quả Phật, mong đắc Niết-bàn.

    Hơn nữa họ muốn biết bên kia lằn mức của luân hồi có cái chi, mặc dầu vị Giáo chủ đã nhiều phen từ chối, không chịu nói ra. Họ xúm nhau bàn tán, định vẹo, ước đoán, miêu tả Niết-bàn là thế này là thế nọ. Chớ chi mỗi tín đồ tự xét trình độ của mình, rồi thủ phận tiến lần từ thấp đến cao, thì họ sẽ thấy rõ tại sao đức Phật không cho biết trước Niếtbàn ra thế nào.

    Thử hỏi trong cảnh tương đối, có danh từ nào giải thích được cái tuyệt đối? Lại nữa, ai chứng ấy biết, dầu có nói ra được, trí óc phàm tục bao giờ cũng vượt đến phạm vi Thánh vức, chẳng khác nào học trò lớp đồng ấu muốn ông thầy cắt nghĩa bài vở của bậc tiến sĩ cho nghe hoặc như ở thế gian mà không biết cảnh vật trên trời. Có học có hành rồi mới thành đạo chứng quả. Có học không hành, hoặc có hành mà chưa thành đạo quả, dầu là người trí tuệ thông minh xuất chúng, cũng vẫn còn ở trong vòng tương đối, làm sao hiểu biết Niết- bàn được?

    Sợ tín đồ mê theo triết lý huyền học, lạc vào tà kiến nên Phật Tổ Như Lai cấm dùng hình nhi thượng học, trong giáo pháp của Ngài. Nhưng than ôi! Cái mà Phật Tổ cấm không cho vào cửa trước, môn đệ của Ngài lại đem vô cửa sau. Cho nên khi đức Thầy vừa khuất bóng, các ông tỳ khưu không còn kiêng nể ai nữa, tha hồ ôn tập huyền học, hồi chuyển theo triết lý của Bà-la-môn, cố tìm cho ra những điều mà đức Tôn Sư đã không chịu tiết lộ. Nhân đó mà sanh ra phân tranh, chia rẽ, làm cho giáo pháp của Phật Gotama trở thành một tôn giáo đa thần với một rừng triết lý rậm rạp, khiến cho tín đồ phải thất lạc theo tà đạo và Phật giáo phải suy đồi đến ngày nay.

    Như chúng ta đã thấy, về mặt tôn giáo và triết lý, Bảo Thủ và Tân Tiến luôn luôn có những quan điểm khác nhau. Như đã nói, Bảo Thủ không chuyên lo giải thích Niếtbàn, cũng không đem kinh điển ra mà biện luận theo tư kiến của mình. Họ chỉ tin nơi Phật và vâng lời Phật di truyền trong Tam tạng: cần mẫn học tập các pháp y theo thứ tự: nghiêm trì giới luật, thực nghiệm thiền định, trau dồi trí tuệ: cũng như ở đất bằng muốn lên tận chóp núi, chậm rãi từng nấc bước lên, không vội ước đoán coi trên chóp đảnh có những gì. Trong khi hành trình đến mục đích, ai tiến đến bực nào sẽ chứng bậc nấy, không cần lo nghĩ xa vời, cũng không mong tìm được lối nào vắn tắt hơn con đường của đức Phật đã trãi qua rồi. Ngoài con đường giải thoát ấy của một bậc Chánh đẳng Chánh giác đã sưu tầm trên bao nhiêu a-tăng-kỳ kiếp, không còn một đường lối vắn tắt nào khác, có thể đưa người đến ngôi vị Phật một cách dễ dàng hơn. Không tin nơi Phật Tổ Như Lai, không nương theo giáo pháp của Ngài, để miệt mài theo giả thuyết của những tác giả lạc đạo rất uổng cho một đời công phu tụ tập.

    Quan niệm của Tân Tiến lại khác. Niết-bàn là then chốt của sự giải thoát. Gia công sưu tầm cho thấu rõ Niết-bàn, há chẳng phải là mục đích của sự tu học hay sao?

    Hơn nữa, trong khi chúng sanh đang mê thích theo đời, nếu nói như Phật “đời là khổ” mà không chỉ cho họ thấy một cảnh giới no vui, thì mấy ai chịu theo chủ nghĩa bi quan ấy. Nếu bày ra cho họ biết những giới răn phiền phức, mấy ai chịu đem cái tự do của mình mà đổi lấy sự câu thúc trong những giới luật nghiêm túc?

    Hỡi chúng sanh! Đời là khổ, các người ráng ăn chay niệm Phật, khi lâm chung sẽ có Phật đem tràng phang bửu cái rước các người về Tây phương, cộng hưởng lạc thú an nhàn, đời đời kiếp kiếp với Phật. Một khi đã làm dân của xứ Phật, các ngươi hết gặp những nhà tranh bẩn thỉu, đất đai bùn lầy, hố ao nhơ nhớp, quần áo vải thô, bữa đói bữa no. Trái lại, các ngươi sẽ ở trong ngôi biệt thự bằng trân châu, mã não, vàng ròng lót đất, ao ngọc nước trong, gió thổi, tùng reo như nhạc trỗi ngày đêm không dứt, thức ăn đủ món, y phục đủ màu, ước chi có nấy. Một cảnh giới cực kỳ vui thú, không đâu sánh bằng; và muốn đến đó, thật không khó: chỉ ăn chay niệm Phật thôi. Ai tình nguyện cứ đăng tên, không hạn định nhân số và cũng không cần căn cước tánh hạnh.

    Thỉnh thoảng trong số tình nguyện có người tọc mạch hỏi: Tại sao ở đất Phật lại có đủ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp như ở thế gian? Cái huyền bí của Phật ở chỗ đó. Tại các anh còn mê muội, u ám, nên phải dùng phương tiện để gạt các anh đó thôi. Đối với người trí tuệ, Tây phương là Niết-bàn, Phật là tại tâm. Nào có Tây phương, nào có Phật. Mê là luân hồi, giác là Niết-bàn, lục trần là phiền não, mà phiền não là Bồ đề, các anh hiểu chưa? Đối với kẻ yêu thích cảnh giới, sẽ có cảnh giới cho họ mong mỏi. Đối với người yêu chuộng tà thuật, sẽ có tà thuật cho họ duyên theo. Đủ phương tiện, đủ triết lý, đủ ngành chuyên môn huyền bí, đủ học thuyết thần quyền: Bà-la-môn, Du Dà, Duy tâm, Vạn thần, Phù chú. Kinh điển Tân Tiến Ấn Độ, từ trong giáo lý Nguyên Thủy tách ra, bị pha trộn nhiều học thuyết ngoại đạo, rất khó cho tín đồ phân biệt chơn giả. Vì đó mà các bậc lão thành thường khuyên dạy: Muốn biết Phật giáo, trước nhất phải khảo cứu Tam tạng Pāḷī (Nam Phạn), rồi sau sẽ xem qua kinh điển Sanskrit (Bắc Phạn) và Trung Hoa, để khỏi phải bị cảm nhiễm theo huyền học.

    Kết luận

    Đạo Phật là đạo cứu khổ, cứu đời, nhưng cứu khổ cứu người không phải cứu toàn bộ nhân loại, mà chỉ cứu những người có duyên lành với Phật pháp, là người có trí tuệ suy xét tìm làm những điều lợi ích cho mình và cho nhân quần xã hội.

    Cứu là cứu từ một người, mà người được cứu ấy phải là người hiểu biết được đạo Phật và thực hành y theo lời Phật dạy. Hiểu theo đạo Phật mà không tinh tấn hành theo, Phật cũng chẳng biết làm sao cứu được. Không gia công sưu tầm học hỏi, không dùng trí tuệ suy xét, gặp đâu tin đó hoặc cố chấp theo cổ tục tập quán sai lầm, rồi đinh ninh rằng mình tu Phật, tu như thế chẳng khác nào lấy cát để mong nấu thành cơm.

    Cụm từ “cứu từ người” nghĩa là mỗi người tự mỗi cứu lấy, tự buộc mình phải thông hiểu giáo lý của Phật để tự khai sáng cho mình và tự tiến trên con đường thanh cao tốt đẹp. Không dùng năng lực cá nhân để tự độ, tự giác mà cứ mong nhờ Phật cứu độ và tìm nơi sự ủng hộ của thần linh là sai lầm.

    Tự độ là tự cứu khổ cho mình. Muốn cứu khổ cho mình phải tự giác. Trước nhất phải nhìn về cái thực tại của đời và suy xét coi cái đời phải là khổ như lời Phật dạy chăng? Cái khổ ở đời là một sự hiển nhiên, không ai chối cải được. Mà khổ ấy do ở đâu? Phải chăng là nơi do lòng tham sống? Có tham sống mới có hành động tạo tác, quanh năm quẩn tháng, danh lợi cạnh tranh. Tự mình đem cái cực đến cho mình, mà chẳng hay biết rằng hành động tức là tạo nghiệp. Có tạo nghiệp mới có nghiệp báo. Có nghiệp báo ắt phải luân hồi, luân hồi là sống chết, chết sống đời đời kiếp kiếp.
    Tùy theo nghiệp lực lành dữ, cứ phiêu dạt trong thời gian vô tận, khi lên bổng, lúc xuống trầm, luân chuyển mãi mãi trong ba cõi sáu đường. Biết số phận làm người là khổ như thế ấy, hàng thức giả bao giờ cũng tìm đường thoát khổ, dầu là đương sống trong chốn cao sang quyền quý, hay đã sanh nhầm nhà hàn vi dân giả.

    Muốn thoát khổ phải thực hành phương pháp diệt khổ. Phương pháp ấy có hai:

    1. Trước nhất phải làm thế nào để giảm phần khổ não cho mình và cho những người chung quanh; nghĩa là tránh các việc ác, làm các việc lành. Làm những việc nào có lợi cho mình, hại cho người, là làm việc ác.

    Làm những việc nào lợi cho mình mà không hại cho người, hoặc lợi cho mình mà cũng lợi cho người, là làm lành. Không làm lợi cho người mà cũng không làm hại cho người, chưa phải tư cách của người lành. Ví như đi đường gặp kẻ hoạn nạn đói khổ, mà không thí ơn cứu giúp; người như thế không phải là người ác, nhưng không thể gọi là người lành, bởi thiếu lòng từ thiện. Hành động ấy không chút ảnh hưởng tốt đẹp đến mình và đến người. Trong thế gian chẳng ai có thể sống cô lập một mình được, mà cần phải sống chung để nhờ sự giúp đỡ lẫn nhau: người giàu có giúp tiền cho kẻ tàn tật đơn côi, nhân công thợ thuyền giúp việc cho các ông chủ xưởng, người nông phu giúp lúa gạo cho anh thợ dệt, anh thợ dệt giúp hàng lụa cho người nông phu. Cách giúp đỡ tuy khác nhau, nhưng không ngoài mục đích chia sớt sự sống cho nhau. Nếu không sống ngoài sự giúp đỡ của những người ở chung quanh, thì chúng ta luôn luôn biết ơn họ. Hạn chế sự tham lam ích kỷ, chia sớt tài lợi cho nhau, để cải thiện đời sống của mỗi cá nhân về phần vật chất lẫn tinh thần, hầu mưu cầu hạnh phúc cho nhau. Muốn có hạnh phúc, tất phải làm cho người hạnh phúc. Chính đó là chủ nghĩa từ bi, bác ái của Phật, là phương pháp diệt khổ cho đời. Làm được như vậy, gọi là thực hành các pháp Ba-la-mật của Phật. Nếu mỗi người, như trăm vạn người, như toàn thể nhân loại, đều làm tròn nghĩa vụ đối với gia đình và xã hội y như Phật dạy, thì thế gian sẽ trở thành một cảnh giới cực lạc. Ngoài Phật giáo, không còn có chủ nghĩa nào duy trì được luật điều hòa trong vũ trụ.

    Đó là giai đoạn thứ nhất của con đường diệt khổ. Người tại gia hay xuất gia cũng phải trãi qua giai đoạn ấy. Trước đây gầy dựng hạnh phúc tương đối rồi sau mới tiến đến hạnh phúc tuyệt đối được. Không có con đường nào là đường tắt, vì con đường đi đến nơi diệt khổ chỉ có một, không hai.

    2. Nghiệp ác không tạo, duyên lành đầy đủ, nhiệm vụ làm người ở đời được toàn vẹn, muốn ra khỏi nẻo luân hồi, chỉ còn một cái hy sinh cuối đời là từ bỏ hạnh phúc tương đối, giả tạm ở thế gian, như quyền tước, sự nghiệp, theo gương Hoàng tử Siddhatta (Sĩ Đạt Ta), tìm nơi thanh vắng, tĩnh tọa tham thiền, minh sát quán tưởng, vững bước trên con đường hành trình của chư Phật, mới mong khai mở trực giác, ngộ đạo chứng quả. Con đường này là con đường siêu việt của một số ít người, đã tận tụy hy sinh trong nhiều đời nhiều kiếp, trong sự xây dựng hạnh phúc cho nhân quần xã hội, xứng đáng cho nhân loại lễ bái cúng dường.

    Trên đời có mấy ai tiến hóa đến mức cùng tột ấy, thế mà có lắm người, nhân đạo chưa tròn, nghĩa vụ chưa xong, lại tin rằng sẽ được làm Phật một cách dễ dàng.

    Nhiều người lại chứng tỏ tấm lòng từ bi rộng hơn Phật, không màng quả vị Phật, nhất nguyện chờ độ tận chúng sanh rồi mới chịu thành Phật. Kẻ khác lại đâm ra lo sợ, cho rằng tu theo Phật, có ngày nhân loại phải bị tiêu diệt. Họ cố chạy theo văn minh vật chất, và cam chịu sống trong cảnh phập phồng lo sợ, trước họa chiến tranh nguyên tử.

    Muốn thành Phật là một điều cao thượng, nhưng muốn không tự tu, tự độ, ngày tối cứ tụng niệm khẩn cầu cho thần linh gia hộ, ỷ lại nơi tha lực mà mong thành Phật nên Tổ, nghĩ cũng buồn cười. Mong độ tận chúng sanh, giữ hạnh Bồ tát mà vui chịu làm nô lệ cho thần linh, để cầu giải thoát, lại còn tự tôn tự trọng, gây mầm chia rẽ ra tông này phái nọ, cấu kết oan trái oán thù, thì chắc rằng hạng Bồ tát này phải luân kết chuyển theo chúng sanh trong vòng nghiệp báo triền miên và ngày vào Niết-bàn ắt không có được.

    Nhân loại còn phải luân hồi tái sanh mãi mãi, để thọ quả gây nhân, thì khổ vẫn còn. Thà tiêu diệt trong chỗ không tái sanh của Phật giáo hơn là sống sót trong cảnh tương sát tương tàn của văn minh vật chất.

    Lại có nhiều người muốn chấn hưng Phật giáo mà không ai chịu học Phật tận nguồn, tận gốc, chẳng chịu bỏ những thành kiến xưa nay, cứ lấy bổn cũ soạn lại, mà gọi là chấn hưng, thật là mỉa mai. Một tòa nhà đã dựng lên với những vật liệu hỗn hợp, tạp nhạp, sắp siêu đổ, không thể nào sửa chữa cho hoàn bị. Phải phá hủy ra bình địa, rồi dùng đồ nguyên gốc, kiến tạo lại đúng kiểu mẫu của tòa tháp “chơn lý” của ông Giáo chủ Gotama, ấy mới gọi là chấn hưng. Dùng biện pháp hủ bại để cải thiện những tập quán hủ bại, kết quả cũng huờn hủ bại.

    Đạo Phật là đạo trí tuệ và thực tế, chúng ta cần phải xét đoán và can đảm sửa chữa những cổ tục không còn phù hợp với thế hệ này nên dứt bỏ những thành kiến nào có nguy hại cho tinh thần tự lập, lấy Chánh pháp làm nền tảng khuynh hướng, bồi đắp lại tình đoàn kết thân mật giữa Phật tử, hầu cùng nhau xây dựng lại hạnh phúc tương lai.

    Mong thay! Mong thay!

    Ghi chú

    33 Xem giáo lý Tân Tiến trong quyển 2.

    34 Sách ghi rằng Ngài Nagasena là một vị A la-hán.

    35 Các vị đại đệ tử của Đức Phật toàn là người Bà-la-môn.

    36 Không còn chùa nào thờ Phật Gotama.

    37 Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại vườn Lộc Giả cho năm anh em ông Kiều Trần Như gọi là Chuyển pháp luân.

    38 Vô minh chẳng phải cái khởi nhân sanh ra vũ trụ, hoặc loài người. Nó chỉ là một cái điều kiện, do nơi ấy mà đời sống của ta phát triển, và cũng do nơi đó mà tâm thức của ta có những trạng thái hiện tại.

    39 Nên nhớ rằng đây chỉ nói chúng sanh đương luân hồi.

    40 Những động lực (nhân) phát sanh do các sự hành vi tạo tác, được tích trữ trong thân tâm, thành ra cái nghiệp lực đi thọ sanh vào một thai bào khác trong giờ lâm chung để làm hiện trạng cho những phản động lực (quả), chẳng khác nào những phản ứng của hóa học. Bởi thế nên Phật nói cái nghiệp là cha sanh mẹ đẻ của chúng sanh.

    41 Nói rằng ban thưởng hay trừng trị, kỳ dư không có thưởng phạt: mà chính là kết quả tự nhiên của lành và dữ.

    42 Đây nói về thiền định và minh sát.

    43 Đây nói về đạo quả.

    44 Đây là nói về đạo quả.

    45 Ngũ giới và Thập thiện.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.