Giới thiệu quyển Quỷ Vương Alavaka vấn đạo

Giới thiệu quyển Quỷ Vương Alavaka vấn đạo

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    -----

    QUỈ VƯƠNG VẤN ĐẠO
    (YAKKHA PAÑHĀ)

    Soạn giả

    Trưởng Lão Hòa Thượng Hộ Tông
    (Vaṅsarakkhita Mahāthera)

     

    QUỈ VƯƠNG ALAVAKA VẤN ĐẠO

    Thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại hương thất (gandhakutti), nơi Kỳ Viên tịnh xá, gần thành Sāvatthi. Một hôm vừa đến rạng đông, Ngài nhập thiền, xem xét bằng Phật nhãn, thấy được duyên lành của Quỉ vương Alavaka Yakkha khiến hắn sẽ đắc Tu-đà-huờn quả, và nhiều chúng sanh khách nữa cũng được chứng Thánh quả, tất cả đến 84 ngàn người.

    Sáng bạch, Ngài ngự đi trì bình để tế độ sanh linh. Sau khi đã ngọ thực, Ngài đi bộ hơn 30 do tuần, đến chỗ ngụ của Quỉ vương Alavaka Yakkha. Lúc đó Alavaka Yakkha mắc đi dự hội cùng các Dạ xoa tại núi Tuyết Sơn Carolā. Khi ấy Dạ xoa Gadrabha gác cửa cung của Quỉ vương Alavaka Yakkha, thấy Phật ngự đến bèn bái chào và bạch:

    ‒ Đức Thế Tôn ngự đến đây ngoài giờ khất thực, có điều gì chăng? ‒ Ta đến đây để xin tạm trú một đêm, được chăng?

    ‒ Bạch Phật, không có chi làm khó cho tôi cả, nhưng chủ tôi bạo tánh lắm; dù là cha mẹ của y, y cũng không sùng bái cúng dường nữa. Vì thế, xin Phật chớ nên ngự trú nơi đây.

    ‒ Như Lai đã hiểu rồi Gadrabha! Dầu Như Lai có nghỉ tại đây cũng chẳng có chi lo ngại. Nếu ngươi vừa lòng thì Như Lai xin tạm trú nơi đây một đêm, không sao đâu.

    ‒ Bạch tôi không dám hẹp lượng, nhưng Quỉ vương Alavaka Yakkha rất hung ác, khi nổi sân thì nóng nảy, la hét dầu là cha mẹ của hắn, hắn cũng không kính nể, cho nên, bạch Phật, Ngài không nên ngự nơi đây.

    ‒ Như Lai đã hiểu rồi Gadrabha! Dầu Như Lai tạm trú nơi đây đêm nay, cũng chẳng có chi lo ngại, nếu ngươi không buồn phiền.

    ‒ Bạch Phật, tôi không dám buồn lòng, song nếu tôi không đi xin phép chủ tôi trước, thì tôi sẽ bị giết, mà hắn cũng hại Phật nữa.

    ‒ Được, ngươi hãy đi báo tin, tùy ý ngươi.

    Gadrabha Dạ xoa liền cáo từ Phật rồi bay đến Tuyết Sơn cho Quỉ vương rõ. Khi Gadrabha Dạ xoa vừa đi khỏi, thì cửa điện tự nhiên mở rộng như có ý rước Phật vào ngự trên bảo tọa, là nơi Quỉ vương thường ngồi khi có đại Lễ. Phật bèn phóng hào quang sáu màu chói lọi khắp cả cung điện. Các cung phi, mỹ nữ của Quỉ vương Alavaka Yakkha xem thấy, đồng nhau đến lễ bái Phật, rồi ngồi hầu chung quanh Ngài.

    Đức Thế Tôn bèn Thuyết Pháp: “Nầy các tín nữ! Các ngươi đã được bố thí, trì giới, cúng dường các bậc nên cúng dường từ kiếp trước, nên nay mới được hạnh phúc như vầy. Vậy các ngươi hãy làm như trước nữa, không nên ganh ghét nhau”.

    Các cung phi mỹ nữ khi được nghe Pháp du dương của đức Thế Tôn, liền phát tâm tín ngưỡng, nói: “sādhu, sādhu”, rồi thành kính thính pháp.

    Còn Gadrabha Dạ xoa, khi đến Tuyết Sơn, tường thuật phân minh cho Quỉ vương Alavaka Yakkha hay tin Phật đã ngự tọa trong điện của Alavaka Yakkha, Quỉ vương Alavaka nói với Gadrabha rằng: “Ngươi về cứ nín thinh, chờ ta về sẽ hay”. Rồi hắn cho Gadrabha Dạ xoa trở về trước.

    Trong lúc ấy, có hai Dạ xoa là Sādāgirayakkha và Hevamataykkha tính dẫn nhau đến hầu đấng cứu thế tại Kỳ Viên tịnh xá, rồi sẽ đi dự hội Dạ xoa nơi Tuyết Sơn. Khi đã đồng ý nhau bèn dắt cả tùy tùng bay giữa không gian. Lúc bay phải tránh các Thiên cung (Cung điện của Dạ xoa thì ở tại đất liền). Khi đến cung điện của Quỉ vương Alavaka Yakkha thì chúng không thể bay qua được, vì lúc đó có đức Thế Tôn đang ngự trong điện của Quỉ vương, bởi lệ thường, hễ Phật ngự nơi nào thì chẳng có Chư thiên, Ma vương nào bay ngang trên đầu đức Phật được. Hai Dạ xoa lấy làm lạ sao không bay ngang qua chỗ này được, chừng xem kỹ lại, thì thấy Phật ngự trong động của Quỉ vương Alavaka Yakkha nên cùng nhau đem bọn tùy tùng đến hầu Phật và khi đã được nghe Pháp, liền bái từ lui ra, nhiễu Phật ba vòng. Tán dương oai lực của đức Thế Tôn, rồi bay đến hội sở.

    Quỉ vương Alavaka Yakkha, khi thấy hai Dạ xoa đến, liền lui ra nhường chỗ và thỉnh hai Dạ xoa vào ngồi. Hai Dạ xoa mới nói với Quỉ vương Alavaka Yakkha: “Hôm nay ngươi có phước lắm, vì có đức Thế Tôn ngự đến điện của ngươi, ngươi nên mau trở về hầu Ngài đi”. Lệ thường, kẻ không có đức tin, khi được nghe đến tiếng đức Thế Tôn thì bằng không vừa lòng, cũng như người phá giới không hài lòng khi nghe đến vấn đề giới luật. Vì thế, Quỉ vương vừa được nghe hai Dạ xoa ca tụng uy đức của đức Thế Tôn, liền phát sân, sôi nỗi, ví như muối mà liệng trong lửa đỏ. Hắn mới hỏi lại hai Dạ xoa: “Đức Thế Tôn nào đang an tọa trong cung điện của tôi? Đó là hạng người nào?”.

    ‒ Ôi! Ngươi không rõ đức Thế Tôn sao? Ngài là đức Giáo chủ của chúng ta. Trước kia Ngài ngự tại Đẩu Xuất đà Thiên cung có Chư thiên trong mười ngàn thế giới đồng nhau đến thỉnh Ngài giáng sinh trong nhơn gian vào thai bào bà Māyā Hoàng hậu. Trong khi ngự trong thai bào, Ngài hằng được Tứ đại Thiên vương chăm nom, săn sóc, Ngài có cử chỉ phi thường hơn chúng sanh. Lúc đản sanh càng khác thường, Ngài có 32 tướng quý của bậc đại nhơn và tám mươi biểu hiệu phụ thuộc, đáng là bậc siêu phàm. Sau khi xuất gia được sáu năm, Ngài chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm cho tất cả thế giới đều rung động, Chư thiên đều hoan hô vui mừng. Khi Ngài chuyển Pháp luân tế độ nhóm thầy Kiều Trần Như, Chư thiên, Phạm thiên tất cả một trăm tám mươi triệu đến dự thính đều đắc đạo quả Niết-bàn. Trời đất khắp thế giới đều chuyển động, ngươi không hay biết sao Alavaka Yakkha?

    Dù là Quỉ vương Alavaka Yakkha biết đầy đủ, nhưng vì bị khí lực của sân hận đè nén, nên đáp: “Tôi không biết!”

    ‒ Ngươi hay biết hoặc không cũng chẳng cần, sự kiện ấy không có lợi ích đến chúng ta, ngươi làm gì đến đức Giáo chủ của chúng ta được. Nếu đem so sánh đức Giáo chủ của chúng ta với ngươi thì thấy rất xa nhau; ngươi ví như con bê đứng gần bò chúa; lại cũng ví như voi con với voi chúa hoặc như chó sói với sư tử. Nếu ngươi không vừa lòng thì cứ làm thế nào tùy sở thích của ngươi.

    Nghe hai Dạ xoa thốt như thế, Quỉ vương Alavaka Yakkha càng phát sân, liền đứng dậy biểu diễn tài năng: Chân mặt đạp tảng đá, chân trái bước đứng trên đảnh núi Krilāsa cao sáu mươi do tuần, rồi hét to lên trong sa bà thế giới rằng: “Các ngươi chờ xem Giáo chủ của các ngươi hay ta, ai có uy thế hơn?” Xong rồi hắn tuyên bố: “Ahaṃ alavako” - ta hiệu là alavaka. Tiếng vang rền suốt trong thế giới.

    Quỉ vương Alavaka Yakkha hiện thần thông dông tố, mong làm cho Phật kinh sợ rời khỏi cung điện của hắn. Dông tố đá thổi đến tứ hướng, có thể thổi bay đỉnh núi cao nữa do tuần, hoặc hai, ba do tuần, cây to đều trốc gốc. Đức Thế Tôn nguyện không cho bất cứ vật gì chạm đến Ngài, vì thế dông tố không sao động đến chéo y của Ngài được. Quỉ vương Alavaka Yakkha bèn hóa mưa to làm cho nước tràn ngập Ngài. Mưa rất to ngập đến đọt cây, nhưng không thể ướt chéo y của Ngài. Quỉ vương Alavaka Yakkha hiện mưa đá to lớn như núi, rơi xuống từ không trung rồi trở thành hoa trời cúng dường Phật, thật là phi thường. Quỉ vương hóa mưa võ khí (đao, kiếm) sắc bén cháy đỏ sa xuống, song không bao giờ rơi nhằm Phật, trái lại hóa thành hoa trời cúng dường Phật. Quỉ vương Alavaka Yakkha hiện mưa than lửa đỏ, nhưng sa gần Phật đều trở nên trầm hương cúng dường Phật.

    Khi Quỉ vương Alavaka Yakkha đã thấy không thể làm cho Đấng cứu thế ra khỏi động của hắn được bằng cách hiện thần thông đã nói trên, hắn bèn đem binh ma tướng quỉ vào bao vây Phật. Các tướng quỉ hiện ra rất nhiều hình thể phi thường đáng ghê tởm, Quỉ vương Alavaka Yakkha ra lịnh cho binh tướng bắt hoặc hại Phật cho bằng được. Nhưng bất thành, chẳng có ma quỉ nào dám vào gần Phật, ví như loài ruồi không thể đến gần khúc sắt cháy đỏ vậy. Tuy thế, Quỉ vương Alavaka Yakkha vẫn chưa chịu quy hàng, hắn cứ khoe tài trọn đêm cùng Phật, ví như lúc Ma vương dẫn binh trời đến chiến đấu với đức Bồ tát nơi cội Bồ đề.

    Đến canh ba, Alavaka Yakkha mới được dứt khoát, liệng chiếc y buộc đầu là một loại võ khí siêu vật(1), chẳng có ai cự địch nổi.

    Nguyên trong thế giới có 4 võ khí siêu vật là: 1) jirāvudha: bánh xe ngọc của đức Trời Đế Thích; 2) gadāvudha: cây còn của Đại Thiên vương Vessavaṇa; 3) nayanāvudha: mắt của Diêm vương; 4) dussāvudha: chiếc y buộc đầu của Quỉ vương Alavaka Yakkha. Bốn loại võ khí ấy, phát sanh do phước báu, chẳng có chi đương cự nổi, để chiến thắng kẻ nghịch, như Phật Ngôn đã dạy:

    Sakkassa jirāvuddhaṃ Vessavaṇṇassa gadāvuddhaṃ Yassa nayanāvuddhaṃ Alvakassa dussāvuddhaṃ.

    (Nếu đức Trời đế Thích phát sân, liệng bánh xe ngọc trên đỉnh núi Tu Di Sơn cao 84 ngàn do tuần, bánh xe ngọc có thể tàn phá đỉnh núi cho thành bột đến chân.

    Khi đức đại Thiên Vương Vessavaṇṇa còn phàm nhân, nếu ngài liệng cây côn đánh cả ngàn Dạ xoa, cây côn ấy liền bay trở lại trong tay ngài như cũ. Lúc Vua Diêm vương sân, ngài nhìn chòng chọc cả ngàn Atula, loài này bị cháy thiêu thành bụi như cỏ khô bị lửa vậy. Nếu Quỉ vương Alavaka Yakkha giận, liệng chiếc y buộc đầu giữa khoảng không gian thì trong 12 năm trời hạn, ví bằng liệng trên mặt đất thì cây cỏ đều chết hết và không mọc nữa đến 12 năm, nếu ném xuống biển thì biển sẽ cạn khô).

    Quỉ vương Alavaka Yakkha ném chiếc y buộc đầu có ma thuật(2) nhiều pháp, như thế, trong lúc ấy.

    Thưở đó Chư thiên trong 10 ngàn thế giới đều tề tựu nhau cấp tốc, vì nghĩ rằng “hôm nay đức Thế Tôn sẽ chế phục Quỉ vương Alavaka Yakkha”, chúng ta sẽ cùng nhau được thính pháp của Ngài và mong được mục kiến cuộc thắng trận. Vì thế giữa không gian có đầy dẫy Chư thiên, trước khi Quỉ vương Alavaka Yakkha liệng chiếc y buộc đầu đó, chiếc y ấy từ không trung sa xuống tiếng kêu như sấm sét, quây thành vòng giữa trời rồi rớt xuống thành miếng vải chùi chơn của Phật.

    Thấy thế, Quỉ vương Alavaka Yakkha phát tâm lo sợ, đã hết phép, tự biết mình không phải là tay đối thủ với Phật, ví như rắn độc bị người lấy nọc độc, không hiểu vì sao lá y buộc đầu của hắn có nhiều ma thuật mà không thể làm hại vị Sa-môn này được. Khi đã quan sát rồi được rõ rằng “đó là do thế lực của đức Từ ái”, hắn quyết định làm cho đức Phật phát sân, nên hắn liền vào gần Phật, rồi thốt lời mắng nhiếc rằng: “Này Sa-môn! Ngươi không được ta cho phép, mà dám xâm nhập vào đền ta, ngồi giữa đây có đầy phụ nữ như vậy, thật không xứng đáng. Nếu ngươi là Sa-môn có hạnh kiểm, ngươi hãy rời khỏi nơi đây tức khắc”. Vì Phật hiểu rằng: Alavaka Yakkha là kẻ rất cang ngạnh, nếu chế phục bằng sự cứng rắn, thì hắn thêm khó dạy, ví như chó dữ, nếu lấy mật thú bôi mũi nó, nó càng dữ bội phần; phải bắt nó phục tòng bằng cách dịu dàng mới được, nên Ngài đáp rằng: “Tốt, ta sẽ rời khỏi đây”.

    Tiếp theo, Alavaka Yakkha nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này dễ dạy thật, ta chỉ nói một lời mà y liền đi ra, vậy ta không nên phản đối với người dễ tính như vậy”. Nghĩ rồi hắn liền phát tâm dễ dãi, nhưng chưa dứt khoát bèn suy nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này đi ra bằng cách dễ tính hay bất bình, vậy ta nên thử nữa xem”. Rồi hắn nói: “Sa-môn, hãy vào đi”.

    Lúc ấy Phật hiểu rõ Alavaka Yakkha đã dịu tính, Ngài đáp “Tốt”. Rồi Ngài bước vào ngồi trên bảo tọa nữa. Alavaka Yakkha, lại muốn biết chắc Phật là bậc dễ dãi thật hay chăng, mới bảo Phật đi ra rồi đi vào lần thứ nhì, lần thứ ba nữa. Phật phải làm theo đến ba lượt, ví bằng không thì khó bắt hắn phục tòng, để hắn chịu nghe Pháp.

    Lệ thường, người mẹ thấy con khóc đòi vật gì thì hằng cho con vật ấy cho nó vui thích để tùy tiện dạy dỗ nó. Phật vẫn chiều theo ý muốn của Quỉ vương Alavaka Yakkha để tùy thời mà khuyến thiện hắn.

    Quỉ vương Alavaka Yakkha thấy vậy nhận rằng: “Phật là bậc dễ dãi thật, bảo sao thì làm vậy. Như thế, ta phải làm khó Ngài bằng cách bảo đi ra đi vào trọn đêm nay.” Nghĩ rồi; hắn bèn nói: “Nầy Sa-môn! Ngươi hãy đi ra nữa đi”. Phật hiểu thấu tà tư duy của Quỉ vương Alavaka Yakkha nên đáp: “Vì ngươi suy nghĩ bất chánh nên Như Lai không đi ra lần thứ tư, ngươi làm gì thì cứ làm tùy sở thích”.

    Nguyên lúc trước thường có đạo sĩ đắc thần thông bay đến xem chung quanh điện của Quỉ vương Alavaka Yakkha, cho biết cung điện bằng vàng hay bằng bạc, bằng loại bảy báu nào. Các đạo sĩ bị Quỉ vương hỏi đạo, mà không đáp được. Hôm nay Alavaka Yakkha nghĩ rằng: “Ta sẽ làm khó đức Sa-môn bằng cách vấn đạo”. Rồi hắn hỏi: “Tôi hỏi đạo Ngài; Nếu Ngài không giải đáp được, tôi sẽ móc trái tim Ngài liệng bỏ, tôi nắm hai chơn Ngài liệng xuống biển”. Nguyên trước kia mẹ cha hắn vào hầu Phật Kassappa học lấy 8 câu, cả vấn và đáp, rồi đem dạy lại hắn, lúc hắn còn bé lâu ngày hắn quên câu trả lời, chỉ còn nhớ câu hỏi, hắn ghi vào trong lá vàng đừng cho quên. (Lời vấn đạo đây thuộc phạm vi của chư Phật. Có ghi chép trong Tam Tạng rằng: chẳng có ai có thể làm hại lợi ích hoặc giết sinh mệnh, ngăn đức Chánh Biến Tri và hào quang của chư Phật được). Khi nghe lời nói của Alavaka Yakkha, Phật đáp: “Nầy Alavaka Yakkha! Ta không thấy ai trong thế gian, Chư thiên, Phạm Thiên, Ma Vương nào lấy trái tim của ta đem ném bỏ được, hay nắm hai chân ta liệng xuống biển được. Vậy người muốn hỏi ta điều gì thì cứ hỏi, ta sẽ giải đáp cho ngươi nghe”. Atha kho alavako yakkho bhaga vantaṃ gāthāyā ajjhabhāsi.

    Khi Alavaka Yakkha được cơ hội Phật chuẩn cho như thế, bèn bạch hỏi bằng kệ ngôn rằng:

    Kinsudha vittaṃ purisasa seṭṭhaṃ.
    Kiṅsu suciṇṇo sakhamāvahāti.
    Kinsu have sādhutaraṃ rasānaṃ.
    Kathaṃ jivin jīvitammāhu seṭṭhaṃ.

    Nghĩa: Cái chi làm cho người thỏa thích nhứt trong đời? Cái chi mà người được tích trữ chân chánh rồi, hằng đem hạnh phúc đến cho? Cái chi có vị ngon nhứt?

    Phật đáp:

    Saddahīdha vittaṃ purissasa setthaṃ
    Dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti.
    Saccaṃ have sādhutarāṃ rasānaṃ
    Paññā jīvin jivitamāhu seṭṭhaṃ.

    Nghĩa: Đức tin là điều thỏa thích nhất của người trong đời này. Pháp mà người chứa chất được chơn chánh rồi, hằng đem hạnh phúc đến cho. Lời ngay thật là vị ngon nhất. Các bậc trí tuệ thốt rằng sự ở yên bằng trí tuệ là thanh cao nhất.

    Alavaka Yakkha hỏi:

    Kathaṃsu tarati oghaṃ.
    Kathaṃsu tarati aṇṇavaṃ.
    Kathaṃsu dukkhaṃ.
    Kathaṃsu parisujjhati.

    Nghĩa: Người vượt qua đại hồng thủy(3) bằng cái chi? Người vượt qua biển lớn được bằng cái chi? Người thoát khổ được bằng cái chi? Người tinh khiết được bằng cái chi?

    Phật đáp:

    Saddhāya tarati oghaṃ
    Oppamadena oṇṇavaṃ
    Viriyena dukkhamacceti
    Paññāya parisujjhati.

    Nghĩa: Người vượt qua đại hồng thủy bằng đức tin. Người vượt qua biển lớn bằng sự không cẩu thả. Người thoát khổ được bằng sự cố gắng. Người tinh khiết được bằng trí tuệ.

    Alavaka Yakkha hỏi:

    Kathaṃsu labhate paññaṃ?
    Kathaṃsu vindate dhanaṃ.
    Kathaṃsu kittiṅ pāppoti.
    Kathaṃ mittāni ganthati.
    Asmā lokā paraṃ lokaṃ.
    Kathaṃ pecca na socati.

    Nghĩa:

    Làm thế nào mới được trí tuệ?
    Làm thế nào mới được của cải?
    Làm thế nào mới được thanh danh?
    Làm thế nào mới kết bạn được?

    Làm thế nào khi lìa khỏi cõi này, đi đến cõi khác, mới không có phiền não?

    Phật đáp:

    Saddhahāno arahataṃ dhammaṃ nibbānapattitā
    Sussūsaṃ labhate paññaṃ appamatto vicakkhaṇo
    Patirūpakārī dhuravā uṭṭhātā vindate dhanaṃ
    Saccena kittiṅ pappoti dadaṃ mittāni ganthati
    Yassete caturo dhammā saddhassa gharamesino
    Saccaṃ dhammo dhiti cāgo seva pecca na socati
    Iṅghaṃ aññepi pucchassu puthū samaṇabrahmāṇe
    Yadi saccā damā cāgā khantyā bhiyyodha vijjati.

    Nghĩa:

    Người tín cẩn Pháp của chư vị A-la-hán để đạt đến Niết-bàn, người không cẩu thả, người sáng trí, người nghe chơn chánh hằng được trí tuệ. Người hành thích hợp, người có nhiệm vụ, người cố gắng hằng được của cải. Người được thanh danh bằng lời chân thật, người có sự phân phát hằng kết bạn được. Người tại gia có đức tin có 4 Pháp: ngay thật, trí tuệ, nhẫn nại, phân phát; người tại gia có đức tin, có 4 Pháp như vậy, khi bỏ cõi này sang kiếp khác thì thường không buồn khổ; Người hãy tìm hỏi Sa-môn, bà la môn khác coi có Pháp nào cao quý hơn: Ngay thật, chế ngự, phân phát, nhẫn nại chăng?

    Đáp: Bạch Phật; tôi không cần phải hỏi các Sa-môn và bà la môn nào nữa. Bạch Phật, hôm nay tôi muốn được hiểu những điều lợi ích nơi đức Thế Tôn, Ngài ngự đến thành Alavī để tế khốn(4) tôi. Từ đây, bạch Phật, tôi được tỏ rằng bố thí trong nơi nào được nhiều quả phước. Tôi thành kính xin quy y Phật và Pháp là chánh giáo. Chẳng còn phải lo sợ trong 4 ác đạo nữa.

    -oo0oo-

    (1) Siêu vật: vượt ra ngoài sự vật tầm thường.
    (2) Ma thuật: thuật huyền bí.
    (3) Đại hồng thủy: lụt to.
    (4) Cứu giúp kẻ khốn cùng.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.