Bố thí ba la mật

bo thi ba la mat

Bố thí là một hành động đem của cải tiền bạc, sự hiểu biết của mình… ban bố cho người khác, chúng sinh khác, với tâm tế độ để tạo phước thiện cho mình, để hưởng được quả báu tốt lành theo ý nguyện của mình.

Những thí chủ bố thí cầu mong được giàu sang phú quý, trở thành phú hộ, vua chúa, Hoàng hậu … hoặc cầu mong được tái sanh lên cõi trời dục giới, trở thành vua trời, Hoàng hậu của vua trời, v.v… Như vậy, sự bố thí ấy chỉ là phước thiện bố thí bình thường (không đặc biệt) cho quả báu an lạc trong cõi người, cõi trời dục giới mà thôi, vẫn còn phải chịu cảnh khổ tử sanh luân hồi trong tam giới, vẫn chưa giải thoát khổ được.

Bố thí để trở thành bố thí ba la mật, người thí chủ cần phải có 2 điều kiện:

– Sự bố thí ấy không làm nơi nương nhờ của tham ái (taṇhā), ngã mạn (māna) và tà kiến (diṭṭhi).

– Sự bố thí ấy với tâm từ, tâm bi tế độ và có nguyện vọng mong đạt đến mục đích cứu cánh Niết Bàn, diệt khổ tái sanh, để giải thoát mọi cảnh khổ tử sanh luân hồi trong tam giới.

Với mục đích cứu cánh Niết Bàn ấy, một số vị có nguyện vọng trở thành Ðức Phật Toàn Giác, để tế độ chúng sinh cùng chứng ngộ Niết Bàn. Một số vị có nguyện vọng trở thành Ðức Phật Ðộc Giác, hoặc bậc Thánh Thanh Văn Giác…. Ðể trở thành Ðức Phật Toàn Giác, hoặc Ðức Phật Ðộc Giác, hoặc Thánh Thanh Văn Giác bậc nào, trước tiên đều cần phải tạo 10 pháp hạnh ba-la-mật làm nền tảng để chứng đạt đến sở nguyện của mình. 10 pháp hạng ba-la-mật là:

1- Bố thí ba-la-mật (dāna pāramī).

2- Giữ giới ba-la-mật (sīla pāramī).

3- Xuất gia ba-la-mật (nekkhamma pāramī).

4- Trí tuệ ba-la-mật (paññā pāramī).

5- Tinh tấn ba-la-mật (vīriya pāramī).

6- Nhẫn nại ba-la-mật (khanti pāramī).

7- Chân thật ba-la-mật (sacca pāramī).

8- Chí nguyện ba-la-mật (adhiṭṭhāna pāramī).

9- Tâm từ ba-la-mật (mettā pāramī).

10- Tâm xả ba-la-mật (upekkhā pāramī).

Những bậc nào, trong khi đang tạo, đang bồi bổ hạnh ba-la-mật để cho đầy đủ, đều gọi là Ðức Bồ Tát (Bodhisatta). Ðối với Ðức Bồ Tát Toàn Giác (Sammā Sambodhisatta), ví như những tiền kiếp của Ðức Phật Gotama của chúng ta, còn là Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt hơn đức tin và tinh tấn. Ngài phát nguyện mong trở thành Ðức Phật Toàn Giác trong tâm suốt 7 a tăng kỳ và phát nguyện ra bằng lời nói để cho mọi chúng sinh nghe biết suốt 9 a tăng kỳ. Trong hai thời kỳ này, Ðức Bồ Tát vẫn còn là Ðức Bồ Tát bất định (aniyatabodhisatta). Ðến thời kỳ được Ðức Phật thọ ký, Ngài là Ðức Bồ Tát Sumedha đến hầu Ðức Phật Dīpaṅkara tạo duyên lành, Ðức Phật Dīpaṅkara dùng Phật nhãn thấy rõ, biết rõ Ngài có nguyện vọng trở thành Ðức Phật Toàn Giác, nên Ngài thọ ký rằng: “Vị đạo sĩ Sumedha này trong thời vị lai, còn 4 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp nữa sẽ trở thành Ðức Phật Toàn Giác có danh hiệu Ðức Phật Gotama”.

Sau khi được thọ ký, Ngài trở thành Ðức Bồ Tát cố định (niyatabodhisatta) tiếp tục bồi bổ 10 hạnh ba-la-mật bậc thường, 10 hạnh ba-la-mật bậc trung và 10 hạnh ba-la-mật bậc thượng, cho đầy đủ 30 hạnh ba-la-mật để trở thành Ðức Phật Toàn Giác.

Như vậy, để trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Bồ Tát Toàn Giác cần phải tạo 30 hạnh ba-la- mật từ khi phát nguyện trong tâm suốt 7 a tăng kỳ, phát nguyện ra bằng lời nói suốt 9 a tăng kỳ và thời gian sau khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký rồi, còn phải cố gắng tinh tấn bồi bổ thêm 30 pháp hạnh ba-la-mật suốt 4 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất nữa. Ðó là thời gian đối với Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt hơn đức tin và tinh tấn.

Còn đối với Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt hơn trí tuệ và tinh tấn, thì thời gian tạo ba-la-mật gấp đôi Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt. Nghĩa là Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt cần phải tạo 30 hạnh ba-la- mật phát nguyện trong tâm suốt 14 a tăng kỳ; phát nguyện ra bằng lời nói suốt 18 a tăng kỳ và sau khi đã được Ðức Phật thọ ký rồi cần phải bồi bổ thêm 30 hạnh ba-la-mật suốt 8 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Ðức Phật Toàn Giác.

Ðối với Ðức Bồ Tát có tinh tấn ưu việt hơn trí tuệ và đức tin, thì thời gian gấp đôi Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt. Nghĩa là Ðức Bồ Tát có tinh tấn ưu việt cần phải tạo 30 hạnh ba-la-mật phát nguyện trong tâm 28 a tăng kỳ; phát nguyện ra bằng lời nói suốt 36 a tăng kỳ và sau khi đã được Ðức Phật thọ ký rồi, cần phải bồi bổ thêm 30 hạnh ba-la-mật suốt 16 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Ðức Phật Toàn Giác.

Ðối với Ðức Bồ Tát Ðộc Giác(Pacceka Bodhisatta) có trí tuệ ưu việt hơn đức tin và tinh tấn, cần phải tạo 20 hạnh ba-la-mật (10 pháp hạnh ba-la-mật bậc thường, 10 pháp hành ba-la-mật bậc trung) suốt 2 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Ðức Phật Ðộc Giác.

Ðối với Ðức Bồ Tát tối thượng Thanh Văn (Aggasāvakabodhisatta) có trí tuệ ưu việt, cần phải tạo 10 hạnh ba-la-mật suốt 1 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kieáp trái đất, để trở thành bậc Thánh tối thượng Thanh Văn. Ðối với Ðức Bồ Tát đại Thanh Văn (Mahā- sāvakabodhisatta) có trí tuệ ưu việt, cần phải tạo 10 hạnh ba-la-mật suốt 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành bậc Thánh đại Thanh Văn.

Ðối với Ðức Bồ Tát Thanh Văn hạng thường (Pakaṭisāvakabodhasatta) có trí tuệ ưu việt, cần phải tạo 10 hạnh ba-la-mật dưới 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành bậc Thánh nhân hạng thường, v.v…. Trong 10 pháp hành ba la mật, bố thí ba-la-mật làm nền tảng hỗ trợ cho các pháp hạnh ba-la-mật khác. Các pháp hạnh khác được phát triển tốt đều nương nhờ vào bố thí ba la mật.

1- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho bố thí ba-la- mật như thế nào?

Có số người đã từng tạo pháp hạnh bố thí ba- la-mật trong những tiền kiếp, kiếp hiện tại được tái sanh trong gia đình giàu sang phú quý, có nhiều của cải, trong dòng dõi cao quý, được phần đông, nhiều người kính trọng. Số người ấy vốn có bản tánh hoan hỉ trong hạnh bố thí ba-la-mật từ tiền kiếp, nay kiếp hiện tại này, bản tính hoan hỉ trong hạnh bố thí ba-la-mật ấy không mất đi, mà lại càng tăng trưởng.

Trong vòng tử sanh luân hồi của mỗi chúng sinh, phần thân (sắc uẩn) thì thay đổi mỗi kiếp, song phần tâm (4 danh uẩn: thọ, tưởng, hành, thức) thì vẫn còn nguyện vẹn bản tánh cũ; tiền kiếp đã hoan hỉ trong hạnh bố thí, thì kiếp hiện tại cũng hoan hỉ trong việc bố thí ba-la-mật hơn nữa. Cho nên, bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho hạnh bố thí ba-la-mật là như vậy.

2- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho giữ giới ba-la- mật như thế nào?

Giữ giới là giữ cho thân và khẩu không phạm giới. Phạm giới hoặc không phạm giới do tác ý (cetanā) là chính. Tác ý bất thiện tâm tạo ác nghiệp do thân và khẩu gọi là phạm giới.

Tác ý thiện tâm tránh xa mọi hành ác do thân: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm và tránh xa mọi lời nói ác do khẩu: không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời thô tục, không nói lời vô ích, gọi là giữ giới. Tác ý thiện tâm tránh xa cách sống tà mạng do thân và khẩu hành ác; sống theo chánh mạng.

Như vậy, đối với người đã từng tạo hạnh bố thí ba-la-mật trong những kiếp quá khứ, kiếp hiện tại được giàu sang phú quý có nhiều của cải, đời sống đầy đủ sung túc, có điều kiện sống theo chánh mạng, hành theo chánh nghiệp và có chánh ngữ. Nhờ vậy, việc giữ giới ba-la-mật được thuận lợi hơn những người nghèo khổ, thiếu thốn, làm việc không đủ sống, bởi vì ít phước bố thí. Những người nghèo khổ cũng có thể giữ giới ba-la-mật được, nhưng không được thuận lợi như người giàu có. Cho nên, bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho hạnh giữ giới ba-la-mật được thành tựu dễ dàng.

3- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho xuất gia ba-la- mật như thế nào?

Có số người đã từng tạo bố thí ba-la-mật trong nhiều kiếp trong quá khứ, kiếp hiện tại được tái sanh trong gia đình giàu sang phú quý, có nhiều của cải, cuộc sống đầy đủ sung túc, đến khi lớn lên trở thành người chủ tài sản của ông bà, cha mẹ để lại. Họ tự suy nghĩ rằng: “Những của cải, tài sản này từ tổ tiên, ông bà tích lũy truyền lại cho cha mẹ, nay cha mẹ truyền lại cho ta. Những người thân yêu chết chẳng ai đem theo được một món của cải nào; về phần ta, đến khi chết cũng như vậy thôi, chẳng có sự lợi ích, an lạc nào đáng kể. Ðiều tốt hơn, ta nên từ bỏ mọi thứ của cải này, đi xuất gia hành phạm hạnh cao thượng”.

Hoặc đối với số người trong cuộc sống đầy đủ, sung túc đi tìm đến những bậc Thiện trí, Bậc xuất gia lắng nghe chánh pháp, nhận thức được rằng: “Đời sống người tại gia có nhiều phiền muộn, phát sanh nhiều phiền não khổ tâm. Tốt hơn, ta nên từ bỏ nhà, bỏ tất cả mọi thứ của cải đi xuất gia hành phạm hạnh cao thượng của bậc Thiện trí, mong giải thoát khỏi tử sanh luân hồi…”. Như vậy là nhờ bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho hạnh xuất gia ba la mật.

4- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho trí tuệ ba-la-mật như thế nào?

Có số người đã từng tạo bố thí ba-la-mật trong nhiều kiếp trong quá khứ, kiếp hiện tại được tái sanh trong gia đình giàu sang phú quý, có nhiều của cải, cuộc sống đầy đủ sung túc. Họ có điều kiện thuận lợi theo học pháp học, để phát sanh trí tuệ hiểu biết do học; và theo hành pháp hành, nhất là pháp hành thiền tuệ, để phát sanh trí tuệ thiền tuệ trong tam giới, thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp; thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp; và trí tuệ thiền tuệ siêu tam giới đó là 4 Thánh Ðạo Tuệ và 4 Thánh Quả Tuệ, chứng ngộ Niết Bàn. Trí tuệ này là pháp hạnh trí tuệ ba la mật. Như vậy, pháp hạnh bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho pháp hạnh trí tuệ ba la mật.

5- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho tinh tấn ba-la- mật như thế nào?

Tinh tấn là tâm sở, khi đồng sanh với ác tâm thì tạo ác nghiệp do thân, khẩu ý; khi đồng sanh với thiện tâm thì tạo thiện nghiệp do thân, khẩu, ý. Tinh tấn ba-la-mật đó là chánh tinh tấn (sammāvāyāma), gồm 4 điều:

– Tinh tấn diệt ác pháp đã sanh.

– Tinh tấn ngăn không cho ác pháp phát sanh.

– Tinh tấn làm cho thiện pháp phát sanh.

– Tinh tấn làm tăng trưởng thiện pháp đã phát sanh. Tinh tấn tiến hành thiền định để chứng đắc các bậc thiền và tinh tấn tiến hành thiền tuệ để chứng đắc 4 Thánh Ðạo Tuệ, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não tham ái, đó là tinh tấn ba la mật.

Có số người đã từng tạo bố thí ba la mật, kiếp hiện tại có nhiều của cải, cuộc sống đầy đủ sung túc, hỗ trợ cho hạnh tinh tấn ba-la-mật được thành tựu dễ dàng hơn người nghèo khổ, đời sống thiếu thốn, cần phải tinh tấn trong công việc làm ăn để nuôi mạng.

Tinh tấn ba-la-mật như Ðức Bồ Tát thái tử Janaka, tinh tấn bơi lội trong biển đại dương suốt 7 ngày đêm không ngừng nghỉ, làm động tâm chư thiên đến cứu thoát chết…. Tinh tấn ba-la-mật được thành tựu cần nương nhờ bố thí ba-la-mật làm nền tảng.

6- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ nhẫn nại ba-la-mật như thế nào?

Pháp nhẫn nại là pháp chịu đựng mọi cảnh trái ý nghịch lòng một cách tự nhiên, không hề phát sanh tâm không hài lòng. Pháp nhẫn nại đó chính là vô sân tâm sở (adosacetasika) đồng sanh với đại thiện tâm. Pháp nhẫn nại ở đây không phải là nhẫn nhục, vì nhẫn nhục thì bên trong tâm còn ấm ức, uất hận trong lòng; nhưng bên ngoài tỏ ra bình tĩnh, chưa biểu lộ ra bằng hành động, lời nói. Còn nhẫn nại, bên trong chỉ có thiện tâm phát sanh, bên ngoài thân và khẩu vẫn giữ được tánh tự nhiên; hành động và lời nói vẫn bình thường, không có gì thay đổi, đó là hạnh nhẫn nại ba la mật.

Có số người đã từng tạo bố thí ba-la-mật trong những kiếp quá khứ, kiếp hiện tại giàu sang quyền quý, cuộc sống đầy đủ sung túc, có điều kiện và cơ hội gần gũi thân cận với bậc Thiện trí, lắng nghe học hỏi chánh pháp của bậc Thiện trí, được hiểu rõ pháp nhẫn nại là một đức tính cao thượng mà chư Phật tán dương ca tụng, cho nên họ cố gắng thực hành hạnh nhẫn nại ba-la-mật để trở thành đức tính cao quý của họ.

Vì vậy, mỗi khi gặp cảnh trái ý nghịch lòng, họ vẫn giữ thiện tâm trong sạch tự nhiên, không hề phát sanh tâm không hài lòng (sân tâm) nơi đối tượng ấy, không tự làm khổ mình, không làm khổ người. Vậy, bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho hạnh nhẫn nại ba la mật.

7- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho chân thật ba- la-mật như thế nào?

Trong đời này có hai pháp chân thật:

– Chân thật bằng lời nói (sammutisacca).

– Chân thật nghĩa pháp (paramatthasacca).

Thế nào là chân thật bằng lời nói?

Người đời chế định ra tiếng nói để thông tin, truyền đạt tư tưởng hiểu biết lẫn nhau; khi thấy, nghe biết thế nào, nói đúng sự thật như thế ấy, không cố ý nói sai, nói dối lừa gạt người khác, gọi là chân thật bằng lời nói.

Thế nào là chân thật nghĩa pháp?

Chân thật nghĩa pháp là pháp có thật tánh chân thật, thể bất biến, đó là 4 pháp: tâm, tâm sở, sắc pháp và Niết Bàn. Phân ra làm hai loại: Chân thật theo thực tánh pháp (sabhāva- sacca) có 3 pháp:

– Thiện pháp cho quả an lạc.

– Bất thiện pháp cho quả khổ.

– Phi thiện, phi bất thiện pháp: là pháp không phải thiện cũng không phải bất thiện, đó là các pháp còn lại như: quả tâm, duy tác tâm, sắc pháp…

Chân thật theo Tứ thánh đế:

– Khổ thánh đế.

– Tập thánh đế.

– Diệt thánh đế.

– Ðạo thánh đế.

Ðức Bồ Tát hành hạnh chân thật ba-la-mật là nói như thế nào, thì làm như thế ấy; làm như thế nào, thì nói như thế ấy; lời nói và việc làm lúc nào cũng chân thật, không nói dối, không làm dối. Chân thật ba-la-mật là đã nói lời chân thật, rồi làm đúng theo lời chân thật ấy, không phải nói mà không làm đúng theo lời nói. Pháp hạnh chân thật ba-la-mật được thành tựu dễ dàng, do nương nhờ bố thí ba-la-mật làm nền tảng.

8- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ chí nguyện ba-la- mật như thế nào?

Chí nguyện ba-la-mật thường đi theo ba-la-mật khác.

9- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho tâm từ ba-la- mật như thế nào?

Tâm từ ba la mật, là đại thiện tâm mong cầu tất cả chúng sinh an lạc không oan trái lẫn nhau, không khổ thân, không khổ tâm, mong cầu tất cả mọi chúng sinh tự mình giữ gìn thân tâm thường được an lạc. Tâm từ đó là vô sân tâm sở (adosacetasika) đồng sanh trong đại thiện tâm. Tâm từ khi biểu hiện ra nơi thân, thì thân hành động hợp với tâm từ như giúp đỡ, bố thí những vật cần thiết cho người ấy, chúng sinh ấy được an lạc. Tâm từ khi biểu hiện nơi khẩu, thì miệng nói lời hợp với tâm từ, đem lại cho người nghe sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài.

Khi tâm từ phát sanh trong tâm, thì làm cho tâm mình cảm thấy mát mẻ dễ chịu, rải tâm từ đến mọi người, mọi chúng sinh, cầu mong cho tất cả chúng sinh được thân tâm thường an lạc, làm cho người khác, chúng sinh khác cảm nhận được sự mát mẻ, an lạc, thích gần gũi thân cận, thương yêu kính mến nhau.

Như vậy, hạnh tâm từ ba-la-mật này cũng cần nương nhờ hạnh bố thí ba-la-mật làm nền tảng.

Trong gia đình, thân bằng quyến thuộc có tâm từ với nhau có phải không?

Trong gia đình, như vợ chồng thương yêu nhau, cha mẹ thương yêu con, anh em, chị em thương yêu nhau, ông bà yêu cháu…; trong dòng họ, những người bà con thân bằng quyến thuộc thương yêu nhau… tất cả mọi tình thương yêu ấy không phải tâm từ thật mà gọi là tâm từ giả. Bởi vì, đó là biểu hiện tình thương với tâm tham, không phải là tâm thiện. Ðể xác minh, thực nghiệm điều này, khi tình thương (tham) không được như ý, sẽ phát sanh không hài lòng, đó là sân tâm đối nghịch với tâm từ là tâm vô sân. Tâm từ giả, đó là tình thương với tham tâm, khi tham muốn không được như ý, liền làm nhân để cho phát sanh tâm sân (quả). Còn tâm từ thật đó là vô sân tâm sở đồng sanh với đại thiện tâm, mong cầu mọi điều an lành đến tất cả chúng sinh không phân biệt thân hay thù, cho nên dù đối tượng thế nào đi nữa, tâm tham (hài lòng), hoặc tâm sân (không hài lòng) không phát sanh, đó là tâm từ thật.

10- Bố thí ba-la-mật hỗ trợ cho tâm xả ba-la- mật như thế nào?

Tâm xả ba-la-mật là thiện tâm nghĩ về tất cả chúng sinh một cách trung dung do suy nghĩ rằng: “Mỗi chúng sinh có nghiệp là của riêng mình, cho nên, ta không thể làm cho chúng sinh được an lạc và cũng không thể làm cho chúng sinh khổ. Sở dĩ chúng sinh được an lạc là do quả của thiện nghiệp của họ đã tạo; và chúng sinh chịu cảnh khổ cũng là do quả của ác nghiệp họ đã tạo. Mỗi chúng sinh nương nhờ hoàn toàn nơi nghiệp của chính mình. Chúng sinh nào tạo thiện nghiệp, khi thiện nghiệp cho quả, thì hưởng được sự an lạc; chúng sinh nào tạo bất thiện nghiệp hoặc ác nghiệp, khi ác nghiệp cho quả, thì phải chịu khổ não. Như vậy, sự an lạc, hoặc khổ não là quả của nghiệp mà do chính họ đã tạo”.

Do nhờ suy nghĩ như vậy, nên có tâm xả đối với tất cả chúng sinh. Gọi là hành hạnh tâm xả ba la mật. Hạnh tâm xả ba-la-mật này là hạnh cuối cùng nương nhờ các hạnh ba-la-mật khác, mà các hạnh ba-la-mật khác nương nhờ hạnh bố thí ba la mật. Như vậy, hạnh tâm xả ba-la-mật gián tiếp nương nhờ hạnh bố thí ba la mật.

Trong 10 pháp hạnh ba la mật, hạnh bố thí ba- la-mật là hạnh ba-la-mật đầu tiên, làm nền tảng hỗ trợ cho các hạnh ba-la-mật khác được dễ dàng thành tựu.

Trích: Tìm hiểu PHƯỚC BỐ THÍ (Trang 417 – 438) (Tỳ Khưu Hộ Pháp)