Cư Sĩ Vấn Đáp (Phần 14)

135. VấnPháp (dharma), phần (koṭṭhasa), cảnh giới (arammaṃ), thọ (vedanā), gốc (mūla). Pháp giải như thế nào?

Đáp: Pháp là trong thập nghiệp chia ra làm hai:

  • bảy nghiệp trước thuộc về tác ý pháp (cetanā dharma) vì có tác ý để chừa cải bằng thân và khẩu,
  • ba nghiệp sau toàn là tác ý (cetanā suddha) vì chỉ chừa cải bằng tác ý thôi.

136. Vấn: “Phần” (koṭṭhasa) như thế nào?

Đáp: Phần (koṭṭhasa) như vầy: bảy nghiệp trước đều là nghiệp ròng, không kể là gốc; ba nghiệp sau kể là nghiệp và là gốc nữa, như thế gọi là phần (koṭṭhasa).

137. Vấn: “Cảnh giới” như thế nào?

Đáp: Cảnh giới như vầy: như sát sanh có sanh mạng là cảnh giới ví như thánh đạo có Niết-bàn là cảnh giới rồi dứt bỏ phiền não, thế nào, về phần thiện nghiệp như có sanh mạng là cảnh giới để dứt bỏ trạng thái phá giới như sát sanh, cũng như thế ấy. Cảnh giới có giải đều đủ trong nghiệp dữ phía trước rồi.

138. Vấn: “Thọ” như thế nào?

Đáp: Thọ là như vầy: cả mười nghiệp lành chỉ có hai thọ là: thọ vui và thọ không khổ không vui (không có thọ khổ)

139. VấnGốc” như thế nào?

 Đáp: Gốc là như vầy: bảy nghiệp trước, nếu xa lánh bằng trí tuệ thì có ba gốc là: không xan tham (alobha), không sân hận (adosa), không si mê (amoha); xa lánh bằng cách không có trí huệ thì kể có hai gốc là: không xan tham (alobha) và không sân hận (adosa). Tham tài (anabhijjhā) xa lánh bằng trí tuệ kể hai gốc là: không sân hận (adosa) và không si mê (amoha); xa lánh bằng cách không trí tuệ kể có một gốc là: không sân hận (adosa). Không thù oán cũng như tham tài (abhijjhā) vậy. Chánh kiến có hai gốc là: không xan tham (alobha) và không sân hận (adosa).

140. Vấn: Chánh kiến, vì sao không kể là lìa trí tuệ (ñāna vippayutta)?

Đáp: Không kể là lìa trí tuệ, vì chánh kiến là trí tuệ sẵn rồi, còn kể là lìa trí tuệ (ñāṇa vippayutta) chi nữa.

Thập thiện, nếu kể vào giới, thì bảy nghiệp trước thuộc về tác ý giới (cetanāsīla) có sẵn sự chừa cải (virati), ba nghiệp sau thuộc về tâm sở giới (cetasikasila) vì chỉ xa lánh bằng tâm.

141. Vấn: Nghiệp lành, nếu chia làm cửa, giống nhau với nghiệp dữ hay là khác nhau?

Đáp: Nghiệp lành nếu chia làm cửa, khác nhau như: nghiệp thân hành được ba cửa, nghiệp miệng hành được ba cửa, nghiệp ý hành được ba cửa như nghiệp ý trong nghiệp dữ vậy.

142. Vấn: Nghiệp thân và nghiệp miệng trong nghiệp dữ, vì sao chỉ hành được có hai cửa; về phần nghiệp lành, cớ nào lại hành được ba cửa, giải như thế nào?

Đáp:

  • Về nghiệp thân và nghiệp lành giải rằng: Nghiệp chừa cải bằng thân, thân nghĩ làm gọi là nghiệp thân, thuộc về cửa thân bởi được thành tựu nhờ thân nghĩ bảo người giết; gọi là nghiệp thân thuộc về cửa miệng nhờ nghiệp thân thành tựu do cửa miệng; chỉ rải tâm bác ái đến chúng sanh đều đủ các hướng, gọi là nghiệp thân thuộc về nghiệp ý, hoặc như thọ trì luôn cả thân, khẩu và ý mới thành là giới được: thân cũng đi, khẩu cũng nói, ý cũng tưởng xa lánh điều học, như thế gọi là nghiệp thân hành được ba cửa.
  • Về nghiệp khẩu hành được ba cửa là: miệng nghĩ nói (như nói dối) gọi là nghiệp miệng thuộc về cửa miệng; như nghĩ bảo thân viết thơ nói dối, lúc ấy đưa tay lên; nghiệp khẩu thuộc về cửa thân rồi tâm rải thức bác ái đến người khác không tính dối gạt kẻ khác gọi là nghiệp khẩu thuộc về cửa ý, hoặc bằng giữ luôn cả thân, khẩu, ý gọi là hành được ba cửa.
  • Về nghiệp thân và nghiệp khẩu trong nghiệp lành, chỉ ngăn tâm được, cũng như ngăn luôn thân và khẩu được cả, không lấy chỗ họ biết, nghe.
  • Về nghiệp dữ, nghiệp nào thành tựu bằng thân, là khi thân đi làm hoặc dạy người làm, mới thành tựu được; nghiệp thành tựu bằng khẩu là khi miệng nói hoặc bảo người viết mới thành tựu được – Tâm chỉ có tưởng không, không, không kết quả bằng nghiệp thân, nghiệp miệng được, có sự khác nhau như đã giải.

143. Vấn: Nghiệp ý lành, hành trong ba cửa như thế nào?

Đáp: Nghiệp ý lành, hành trong ba cửa, không khác nhau đâu, chỉ một là chừa cải, và một là không chừa cải thôi.

144. Vấn: Nghiệp lành có mấy phước báu?

Đáp: Nghiệp lành có năm phước báu là:

  • tự mình không chê trách mình được (attāpi attanaṃ na upavadati);
  • bậc trí tuệ hằng ngợi khen (anuviccaviññū paksaṃsanti);
  • có danh thơm tiếng tốt đồn xa (kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati);
  • lúc hấp hối không mê loạn, quên mình (asammuḷho kalaṃ karoti);
  • đến khi tan rã ngũ uẩn sẽ được đầu thai lên cảnh vui, nghĩa là được về cõi trời (kāyassabhedā carammaramā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati).

Để lại bình luận tại đây!