Điều kiện để phước thiện bố thí được thành tựu

duc phat gotama

Phước thiện bố thí được thành tựu do hội đủ nhân duyên kết hợp như:

1- Tác ý thiện tâm bố thí (cetanādāna).

2- Vật bố thí (dānavatthu).

3- Người thọ thí (paṭiggāhaka).

Một khi hội đủ 3 nhân duyên này, mới thành tựu phước thiện bố thí.

1- Tác Ý Thiện Tâm Bố Thí

Thí chủ có tác ý thiện tâm (kusalacetanā) sử dụng những vật bố thí ấy đem ban bố, phân phát đến cho những người khác, chúng sinh khác. Thông thường tác ý thiện tâm bố thí diễn tiến, trải qua 3 thời kỳ:

1- Tác ý thiện tâm trước khi bố thí (pubbacetanā).

2- Tác ý thiện tâm đang khi bố thí (muñcacetanā).

3- Tác ý thiện tâm sau khi đã bố thí (aparacetanā).

1.1- Tác ý thiện tâm trước khi bố thí như thế nào?

Thí chủ nhìn thấy, hoặc nghe thấy, hoặc suy tư về một phước thiện nào đó, phát sanh đức tin trong sạch, có tâm từ bi muốn làm phước bố thí để tế độ, giúp đỡ mọi người, mọi chúng sinh, nên tìm cơ hội tốt để tạo nên phước thiện ấy.

Thời kỳ tác ý thiện tâm muốn làm phước bố thí này có thể phát sanh trước nhiều năm, nhiều tháng, nhiều ngày hoặc ngay trước khi bố thí không lâu, đó là thời gian chuẩn bị để làm phước thiện bố thí. Suốt thời gian này, gọi là tác ý thiện tâm trước khi bố thí, dù chưa thành tựu phước thiện bố thí, song tác ý thiện tâm này cũng gọi là thiện nghiệp.

1.2- Tác ý thiện tâm đang khi bố thí như thế nào?

Thí chủ có tác ý thiện tâm trước khi bố thí từ trước, nay đến lúc, đến thời thí chủ sử dụng vật bố thí, đó là của cải, tiền bạc, đồ đạc, vật thực… hoặc sự hiểu biết của mình đem ban bố, phân phát đến người khác, với tâm từ bi tế độ và được người khác đang thọ nhận những vật bố thí hoặc sự hiểu biết của mình ban cho. Thời gian ngắn ngủi diễn ra giữa người thí chủ trao vật thí và người thọ thí tiếp nhận vật thí ấy, gọi là thời kỳ tác ý thiện tâm đang khi bố thí, đồng thời phước thiện bố thí được thành tựu ngay khi ấy.

1.3- Tác ý thiện tâm sau khi đã bố thí như thế nào?

Sau khi thí chủ đã có tác ý thiện tâm bố thí xong, phước thiện bố thí đã thành tựu rồi, kể từ thời gian đó về sau, mỗi khi thí chủ nhớ tưởng, niệm tưởng đến phước thiện bố thí ấy, đồng thời tác ý thiện tâm sau khi đã bố thí phát sanh, thì thiện nghiệp bố thí tăng trưởng.

Ở thời kỳ này, thời gian không hạn định, có thể nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều kiếp sau… mỗi khi nhớ tưởng, niệm tưởng đến phước thiện bố thí ấy, đồng thời tác ý thiện tâm phát sanh, có sự bố thí làm đối tượng, nên thiện nghiệp bố thí lại tăng trưởng. Cho nên, trong 40 đề mục thiền định, có đề mục gọi là “cāgānussati: đề mục niệm tưởng đến phước thiện bố thí của mình đã tạo trước đây”. Hành giả tiến hành đề mục thiền định này có thể đạt đến cận định mà thôi, hỉ lạc phát sanh đến hành giả; đề mục thiền định này không thể đạt đến an định, bởi vì, đề mục thiền định này quá rộng lớn bao la, không rõ ràng, không thể làm cho ấn chứng thô ảnh tương tự và ấn chứng quang ảnh trong sáng phát sanh, nên không chứng đắc bậc thiền nào.

2- Vật Bố Thí

Vật bố thí để tạo nên phước thiện, Ðức Phật dạy có nhiều loại: Trong Luật tạng, Ðức Phật dạy có 4 loại vật bố thí để tạo nên phước thiện, gọi là tứ vật dụng (catupaccaya) cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của tất cả chúng sinh nói chung, con người nói riêng; nhất là đối với bậc xuất gia, Sa di, Tỳ khưu trong Phật giáo. Ðức Phật cho phép Tỳ khưu, Sa di thọ nhận tứ vật dụng của thí chủ dâng cúng là:

2.1- Y phục (cīvara)

Y phục của Tỳ khưu, Sa di mặc che kín sắc thân đáng hổ thẹn, ngăn ngừa nóng lạnh, muỗi mòng, rắn rít…, gồm có 3 tấm y:

– Y 2 lớp đắp khi trời lạnh.

– Y nội mặc che kín từ lỗ rún xuống quá đầu gối 8 ngón tay, vòng quanh trước sau đều đặn.

– Y vai trái mặc choàng kín quanh toàn thân mình, từ cổ xuống quá đầu gối 4 ngón tay, vòng quanh trước sau đều đặn.

2.2- Vật thực (piṇḍapāta)

Vật thực của Tỳ khưu, Sa di kiếm được bằng cách đi khất thực (xin ăn) từ nhà này sang nhà khác, dầu ít hay nhiều để vào bát vừa đủ ăn một bữa, thọ thực không được quá ngọ (12 giờ trưa).

2.3- Chỗ ở (senāsana)

Chỗ ở của Tỳ khưu, Sa di thường ở dưới gốc cây, hang động… Nếu có phước đặc biệt, Tỳ khưu, Sa di có thể thọ lãnh chỗ ở do thí chủ xây cất như cốc, chùa…

2.4- Thuốc trị bệnh (gilānabhesajja)

Thuốc trị bệnh của Tỳ khưu, Sa di thường là nước tiểu bò, hoặc nước tiểu ngâm loại trái cây(1) làm thuốc… Nếu có phước đặc biệt Tỳ khưu, Sa di có thể thọ nhận các loại thuốc do thí chủ dâng cúng để trị bệnh, ngừa bệnh…

Trong Vi diệu pháp tạng, Ðức Phật thuyết về chân nghĩa pháp (paramatthadhamma),dạy vật thí có 6 loại:

1- Sắc thí (rūpadāna): bố thí các hình dạng, màu sắc, nhìn thấy bằng nhãn thức tâm.

2- Thanh thí (saddadāna): bố thí các âm thanh, nghe được bằng nhĩ thức tâm.

3- Hương thí (gandhadāna): bố thí các mùi, ngửi được bằng tỷ thức tâm.

4- Vị thí (rasadāna): bố thí các vị, nếm được bằng thiệt thức tâm.

5- Xúc thí (phoṭṭhabbadāna): bố thí các loại xúc, tiếp xúc được bằng thân thức tâm.

6- Pháp thí (dhammadāna): bố thí các pháp, biết được bằng ý thức tâm.

Trong Kinh tạng Ðức Phật thuyết dạy vật bố thí có 10 loại:

1- Bố thí vật thực (annadāna): bố thí các loại thức ăn.

2- Bố thí nước uống (pānadāna): bố thí các loại nước uống.

3- Bố thí vải (vatthadāna): bố thí các loại vải.

4- Bố thí xe cộ (yānadāna): bố thí các loại xe cộ phương tiện đi lại.

5- Bố thí bông hoa (mālādāna): bố thí các loại bông hoa.

6- Bố thí vật thơm (gandhadāna): bố thí các loại mùi thơm.

7- Bố thí vật thoa (vilepanadāna): bố thí các loại vật thoa.

8- Bố thí chỗ nằm (seyyādāna): bố thí các chỗ nằm như: giường, ghế, đồ trải nằm.

9- Bố thí chỗ ở (āvasathagharadāna): bố thí chỗ ở như: chùa, nhà, cốc…

10- Bố thí đèn(padīpeyyadāna):bố thí đèn phát sanh ánh sáng.

Mười loại vật thí này là những vật thường dùng trong đời sống. Ngoài ra, trong đời còn có nhiều vật thí khác đem lại sự lợi ích, thuận lợi trong cuộc sống, không đem lại sự tai hại cho kiếp hiện tại lẫn kiếp vị lai, có thể dùng làm vật bố thí để tạo phước thiện.

3- Người Thọ Thí

Người thọ thí đóng vai trò quan trọng để thành tựu phước thiện bố thí. Trường hợp thí chủ có tác ý thiện tâm bố thí, có vật bố thí, mà không có người thọ thí thì không thành tựu phước thiện bố thí của thí chủ. Người thọ thí còn quan trọng là thành tựu được quả báu của phước thiện bố thí nhiều hoặc ít. Trong kinh Dakkhiṇāvibhaṅgasutta(2), Ðức Phật có dạy hai hạng thọ thí:

– Cá nhân thọ thí (paṭipuggalikadāna).

– Chư Tỳ khưu Tăng thí (Saṃghadāna).

3.1- Cá nhân thọ thí như thế nào?

Cá nhân thọ thí là thí chủ làm phước thiện bố thí đến mỗi cá nhân, có tính cách riêng biệt dầu một vị hay nhiều vị. Cá nhân thọ thí được phân chia có 14 hạng, từ bậc cao nhất đến hạng thấp nhất:

1- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ðức Chánh Ðẳng Giác.

2- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ðức Phật Ðộc Giác.

3- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh A-ra-hán.

4- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh Bất Lai hành giả đang tiến hành thiền tuệ, để chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán.

5- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh Bất Lai.

6- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh Nhất Lai hành giả đang tiến hành thiền tuệ, để chứng đắc bậc Thánh Bất Lai.

7- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh Nhất Lai.

8- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh Nhập Lưu hành giả đang tiến hành thiền tuệ, để chứng đắc bậc Thánh Nhất Lai.

9- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến bậc Thánh Nhập Lưu.

10- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến hành giả đang tiến hành thiền tuệ, để chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu.

11- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến hành giả ngoài Phật giáo chứng đắc thiền, có thần thông.

12- Làm phước thiện bố thí cúng dường đến hạng phàm nhân (Tỳ khưu, Sa di, cận sự nam, cận sự nữ) có giới đức trong sạch.

13- Làm phước thiện bố thí đến hạng phàm nhân phạm giới, không có giới.

14- Làm phước thiện bố thí đến loài súc sinh.

Ðó là 14 hạng cá nhân thọ thí.

Trích: Tìm hiểu PHƯỚC BỐ THÍ (T35-42) (Tỳ Khưu Hộ Pháp)

Ghi chú:

1.Ðức Phật cho phép dùng 2 loại trái cây làm thuốc: agadāmalaka và agadaharītaka.

2.Majjhimanikāya, Uparipaṇṇāsa, Dakkhiṇavibhaṅgasutta.