Giảng giải bốn câu hỏi của Quỷ Vương Alavaka Yakkha

quỷ vương vấn đạo

I. Giảng câu hỏi thứ nhứt của quỉ vương

Vấn: Cái chi làm cho người thỏa thích nhất trong đời?

Đáp: Đức tin làm cho người thỏa thích nhất trong đời.

Vấn: Tiếng thỏa thích có ý nghĩa thế nào?

Đáp: Có ý nghĩa là: tài sản, vì tài sản làm cho người thỏa thích, tức là cho vừa lòng đẹp ý. Chú thích: tài sản bên ngoài nhất là bạc, vàng đem đến 5 quả vui là:

1) đem upabhogasukha: tức là hạnh phúc về sự tiêu phí;

2) ngăn ngừa sự khổ nhất là đói, khát;

3) sữa chữa cảnh nghèo nàn;

4) là nguyên nhân sanh các báu vật khác;

5) để nối nghiệp trong đời (tức là được thạnh đạt trong đời).

Về tài sản bên trong thức là đức tin cũng đem đến 5 quả vui là:

1) đem quả vui tức là hạnh phúc, tùy theo phàm tin và thánh tín;

2) ngăn ngừa những thống khổ nhất là sanh, già, khổ;

3)sữa chữa cảnh nghèo, tức là nghèo về đạo đức;

4) là nguyên nhân cho được các loại ngọc nhất là ký ức giác chi[5];

5) để kế nghiệp đạo đức, tức là làm cho Phật giáo được thạnh hành về sau (điều này không có ghi trong kinh, song nếu không thêm vào thì đem thí dụ tài sản bên ngoài không được.)

Về: “Của cải bên ngoài để nối nghiệp trong đời” Có Pāli rằng: Saddho sīlena sampanno Yaso bhogasammapīto Yaṃ yaṃ padesaṃ bhajati Tattha tattheva pūjito.

Nghĩa: Người có đức tin, có giới, có tước vị, có của cải trải đi đến nơi nào hằng có kẻ cúng dường trong nơi đó.

Vấn: Tiếng “đức tin” là của báu nhất là thế nào?

Đáp: Sở dĩ đức tin là của quí nhất bởi vì: đức tin là của dính theo mình mãi mãi; đức tin là của không phổ thông đến kẻ khác, kẻ khác cướp không được; đức tin là nguyên nhân phát sanh hạnh phúc khác (làm người sang cả cõi người, Trời và Niết-bàn). Vì người có đức tin, chú tâm làm phước nhứt là bố thí v.v… thì sẽ được thỏa mãn như đã giải, còn kẻ khác thiếu đức tin hằng có tâm hướng về đường vô ích.

II. Giảng câu hỏi thứ nhì của Quỉ vương

Vấn: Kinsu suciṇṇo sukhamāvahāti? ‒ Tích trữ cái chi mới vui nhất?

Đáp: Chứa chất pháp mới là được vui.

Vấn: Tiếng “pháp” đây chỉ về Pháp nào? Đáp: Tiếng “pháp” đây chỉ về thập thiện và pháp nhứt là bố thí, trì giới. Hai pháp này mà người tích trữ đúng đắn thì hằng được hạnh phúc ở cõi người, Trời và Niết-bàn như trong sự tích: ratthapala về đức Đế Thích Mahapadula[6].

Vấn: Còn “thập thiện” đem hạnh phúc đến cho, là như thế nào?

Đáp: Hạnh phúc được “thập thiện” đem đến như vầy: Nếu tin thập thiện thì không gây oan trái, tội lỗi, không sợ bị người ta làm hại.

Vấn: Được quả phúc tức là không có oan trái, không có lo sợ nghĩa là sao?

Đáp: Nếu mình không hại kẻ khác, thì họ không hại mình: không trộm cướp của người; người không cướp của mình, mình không bị hành phạt; không tà dâm, thì không bị người làm khổ mình; mình không dối gạt người, người không oán giận mình; không chửi mắng người, mình không bị người chửi mắng; không nói sang dường, họ không nói lời vô ích với mình; không tham của họ, họ không tính lấy của mình; không oán ghét họ, họ không oán ghét mình; không tà kiến thì mình không hiểu quấy, không nói càn làm càn, tránh được nguyên nhân sanh quả khổ.

Vấn: Như đã giảng đó là tội hiện tại hay vị lai?

Đáp: Tội cả hai kiếp, song phần nhiều là quả báo hiện tại; phần vị lai thì nặng hơn: Nghĩa là tội sát sanh sau khi thác, phải sa địa ngục, luân chuyển trong 4 ác đạo rất lâu; Khi được lên làm người, còn phải bị yểu tử. Tội trộm cướp phải đọa trong 4 ác đạo, chừng trở nên làm người; phải chịu cảnh nghèo đói. Tội tà dâm phải đọa trong 4 ác đạo, khi được làm người thì có thù nghịch. Tội hay nói dối sau khi khỏi ác đạo, sẽ là người hay bị vu oan giá họa (2). Tội chửi mắng, sẽ thường nghe kẻ khác chửi mắng. Tội xúi giục người chia rẽ nhau, phải sa trong 4 ác đạo, lên làm người thì sẽ bị xúi giục chia rẽ nhau. Tội nói sai đàng sa trong 4 ác đạo, sau không có ai tín nhiệm mình .v.v… Sự chất chứa thập thiện, nhất không sát sanh, là nhân cho quả vui, vô oan trái, không có sự kinh sợ như đã giải đó, mới gọi là nhân sanh hạnh phúc. Thực hành chân chánh theo thập thiện thì khỏi sa vào trong 4 ác đạo (địa ngục, Ngạ quỉ, A-tu-la, cầm thú).

Trái lại sẽ thọ sanh trong hai nhàn cảnh (cõi người và Thiên đàng). Trên đây phước báu của thập thiện và phần tội đã được giải rỏ, đây xin giảng thêm về những phương tiện để bài trừ thập ác.

Vấn: Nghĩa là làm thế nào người đời mới trừ bỏ thập ác và chỉ hành theo thập thiện được?

Đáp: Phải hành như vầy:

1) Phải quan sát đến tội của thập ác cho nhiều; nghĩa là mình phải nhận thức rằng: Tội sát sanh là nhân làm cho mình phải bị người giết trong hiện tại, hoặc sau khi thác phải đọa trong 4 ác đạo, đến lúc tái sanh làm người, thì yểu tử (chết trong thai bào, chết khi khai hoa, chết lúc còn bé) v.v… Trái lại còn phải xét kỹ đến quả phúc hành thập thiện cho nhiều, nghĩa là phải biết chắc rằng: không sát sanh, mình sẽ không bị người hại, đến khi thác không sa đọa trong địa ngục, được sanh trong nhàn cảnh (người, trời), là người trường thọ, thân tâm được yên vui v.v… Những niệm tưởng để thấy tội như trên, là những nguyên nhân sanh hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. Còn những suy nghĩ đến phước như trên kia, là những nguyên nhân phát sanh sự vừa lòng (chanda), tinh tấn (viriya), quan tâm (citta), nghĩ ngợi về nhân quả (vimaṃsā) gọi là tứ như ý túc (iddhipāda) rồi trừ bỏ được dễ dàng.

2) Phải cố quan sát về người và ta, nghĩa là suy nghĩ rằng: họ không muốn bị hại, bị cướp, bị vợ ngoại tình, bị lừa phỉnh chửi mắng, chia rẽ v.v… Nếu gắng sức nghĩ ngợi thường thường như thế thì sẽ bài trừ được thập ác không khó.

Vấn: Nếu kẻ biếng nhác thì phải làm thế nào?

Đáp: Kẻ lười biếng thì khó, nhưng có 11 phương pháp làm cho họ nỗ lực được, là:

1) Cho họ tưởng đến cảnh khổ trong 4 ác đạo;

2) Cho họ tưởng đến phước báu của sự cần mẫn;

3) Cho họ tưởng đến lối hành trình của bậc hiền nhân;

4) Cho họ tưởng đến thực phẩm mà họ dùng, dễ tìm hay khó kiếm;

5) Cho họ tưởng đến di sản của nghiệp dữ cho quả;

6) Cho họ tưởng rằng đã được gặp Phật Pháp;

7) Cho họ tưởng đến sự sanh ra làm người là cao quý (là khó được);

8) Cho họ tưởng đến người đã được hạnh phúc bằng sự cố gắng;

9) Không nên thân cận cùng kẻ biếng nhác;

10) Nên gần gũi bậc siêng năng về đạo đức;

11) Phải khuynh hướng về tinh tấn nghĩa là nghĩ rằng “ta phải cố gắng”.

Vấn: Nếu họ không tưởng đến hoặc hành theo 11 điều ấy thì làm sao cho họ tinh tấn được?

Đáp: Phải bỏ liều cho lửa thiêu họ cho đến khi họ được cảnh tỉnh lấy họ.

Vấn: Lửa gì thiêu họ?

Đáp: Lửa tức là sự lười biếng của họ đó.

Vấn: Xin cho một thí dụ?

Đáp: Khi họ lười biếng, tìm dịp hại người, trộm cướp của người v.v…, thì không lâu họ phải bị lửa đốt tức là phải chịu hành phạt vì tội hại người và tội trộm cướp đốt họ, nghĩa là phải chịu hành phạt theo quy lực như vậy.

Vấn: Xin hỏi tiếp thêm: Trong 10 nhân sanh phước, nhân nào cho hạnh phúc hiện tại, và cho thế nào?

Đáp: Vậy, nên cố gắng nghe cho chơn chánh: tài thí làm cho con người kính mến; trì giới, giữ giới luật làm cho tâm mát mẻ; niệm Phật tập trung tư tưởng cho tâm yên lặng trong sáng.

1) Dāna: trì thí làm cho con người kính mến.

2) Sīla: trì giới, giữ giới luật cho tâm mát mẻ.

3) Bhāvana: tập trung tư tưởng (niệm phật, tham thiền) cho tâm yên lặng.

4) Apacãyana: từ tốn, nhún nhường và khiêm tốn làm cho bậc trưởng thượng mến yêu và cho kẻ nhỏ kính trọng.

5) Veyyāvaca: phụng dịch, vui lòng giúp đỡ công việc của kẻ khác làm cho họ vừa lòng đẹp ý.

6)Pattidāna: hồi hướng, chuyển phước của mình đã được, cho kẻ khác được dung nạp vui thích nhau.

7) Pattānumodanā: hoan hỷ phước mà người hồi hướng, thì mình sẽ bài trừ được lòng ganh tỵ, ngã mạng, tự cao.

8) Dhammasssavanam: nghe pháp được 5 quả bảo: được nghe pháp mà mình chưa từng nghe; làm cho pháp mình đã nghe càng nhuần nhã; trừ được sự hoài nghi; làm cho sự hiểu biết thêm chân chánh, (tâm của người nghe pháp hằng vui thích) là nhân sanh trí tuệ.

9) Dhammadesanā: thuyết pháp do tâm trong sạch, không mong lợi, được vật dâng cúng, là quả phúc thanh cao của người thuyết pháp và thính giả chú tâm nghe thì hằng phát tâm hoan hỷ sẽ trừ được phiền não.

10) Diṭṭhujūkamma: Kiến thức chân chánh; nghĩa là thấy rằng: chúng sanh đều có cái nghiệp là của mình; ai làm lành được vui; làm dữ chịu khổ, tạo nghiệp nào phải chịu quả nấy.

Sự thấy biết chân chánh là quan trọng nhất, có thể giúp ta thoát ly khổ hãi, như Phật ngôn sau đây: Sammādiṭṭhi samādānā sabbaṃ dukkhaṃ apacca. Nghĩa: “Những người thoát khổ được là do tuân theo chánh kiến.”

Vì thế làm cho sự hiểu biết thêm chân chánh mới khép vào trong nhân cho sanh quả. Mười nhân cho sanh quả phước đã giải là căn bản để bổ túc phước trong Phật giáo, đây là nền tảng để tạo hạnh phúc, có thể cắt đứt những phiền não thô thiển bực trung và vi tế cho đến khi tận diệt lậu phiền não, được thoát ly thống khổ.

Vấn: Quả vui đó là quả tin tưởng hay quả ấn chứng (thấy)?

Đáp: Là quả thấy hiện thật, không phải tin, nghĩa là chính mình thấy khi làm được, không phải tin lời nói của kẻ khác. Người hành điều nào sẽ thấy rõ quả phúc trong điều ấy. Nếu ai không tin hãy thử thật hành rồi sẽ rõ.

Tóm lại, nói cho thiết thật thì chư Phật tử thường hành pháp, bố thí, trì giới, niệm Phật, nghe Pháp hằng rõ rệt phát sanh đến tâm trạng của tín đồ, trừ phi kẻ nào không lưu ý thì thôi.

Vấn: Quả báo đã giải trên là như thế nào mới gọi là kết quả trong hiện tại?

Đáp: Nên lắng nghe cho kỹ:

1) bố thí sẽ trở thành người giàu có;

2) trì giới sẽ sanh sắc đẹp;

3) niệm Phật phát sanh trí tuệ;

4) từ tốn được sanh trong dòng dõi cao sang;

5) phụng sự có nhiều kẻ tùy tùng;

6)hồi hướng phước được nhiều hạnh phúc đến mình và người.

III. Giảng câu hỏi thứ ba của Quỉ vương.

Saccaṃ have sādhutaraṃ rasānaṃ Ngay thật là vị ngon nhất, có 6 là:

1) vācāsacca: lời nói chân thực;

2) viratisacca: kiêng cữ chân thực;

3) diṭṭhisacca: kiến thức chân thực;

4) brahmanasacca: sự chân thực của bà-la-môn;

5) paramatthasacca: kỳ diệu chân thực;

6) ariyasacca: Thánh nhân chân thực.

Chú thích:

1) Chỉ về lời nói người thốt ra ngay thật.

2) Chỉ về sự ngay thật của điều kiêng cữ theo sở nguyện: “pānātipātā veramani”: tôi kiêng sự sát sanh; v.v…,

3) Chỉ về sự ngay thật theo sở kiến; nghĩa là người thấy thế nào thì nói ngay thật như vậy; nếu tự mình không được thấy, thì nói rằng không thật, như phái ngoại đạo đã cãi cọ nhau rằng: điều này thật, điều kia không thật v.v…

4) Chỉ về 4 điều thật của các Sa-môn, bà la môn là: không nên sát sanh; ngũ dục là không thường, là khổ; các cõi vô thường là khổ, theo lẽ tự nhiên; sự rỗng không.

5) Chỉ về sự thực mầu nhiệm là Niết-bàn, vì Niết-bàn là mầu nhiệm thật “Như hiểu rằng: ngũ uẩn, yếu tố, ngũ căn”v.v… Vì chấp theo đời gọi là người, chúng sanh v.v…. Nhưng hiểu theo đạo thì gọi là ngũ uẩn, lục căn, lục trần v.v….. Chẳng phải người, chúng sanh chi chi, nhưng chỉ là phỏng đoán ước lệ cho hiểu nhau mà thôi.

6) Ariyasacca: Tứ đế (4 điều chân thật).

Vấn: Trong câu “Ngay thật là vị ngon nhất” vậy chớ đó là vị gì?

Đáp: Các vị nhất là vị sanh từ rễ và thân cây cùng vị của sắc, tiếng, v.v…

Vấn: Đó là chỉ về vị bên ngoài phải không?

Đáp: Nếu nói tóm tắt có 2 vị: vị bên ngoài và vị bên trong. Bên ngoài chỉ về vị của các vật thể; vị bên trong chỉ về 3 vị chân thật. Lời nói chân thật, kiêng cữ chân thật, kỳ diệu chân thật.

Vấn: Cả 3 vị này cao quý ra sao?

Đáp: Vị của các vật thể như thực phẩm là nhân sanh sắc v.v… Còn vị của sắc, tiếng v.v… thuộc ngũ dục, là nhân sanh của phiền não, làm cho khó chịu. Phần vị của chân thật trong sự kiêng cữ hằng khiến cho phấn khởi tâm hướng về thiền định, thông tuệ và không cho sanh phiền não, khó chịu. Vị của kỳ diệu chân thực hằng cho sanh sự giải thoát khỏi luân hồi.

Vấn: Xin chỉ cho thấy rõ vị của chân thực quý hơn vị bên ngoài thế nào?

Đáp: Vị bên ngoài như vị cây tốt, thì chỉ tốt nhứt thời thôi, như vị của thực phẩm vừa qua khỏi cổ thì hết ngon. Còn vị của chân thật thì vui sướng đều đều; nghĩa là tự mình biết vui sướng vừa lòng luôn luôn, như có kẻ nói thực với mình làm cho chính mình biết vừa lòng, không làm trái. Nếu bị người dối gạt thì mình không hài lòng, càng làm cho mình thất lợi, mình thêm bất bình.

Vấn: Song làm thế nào cho mọi người chỉ thốt lời ngay thực luôn luôn được?

Đáp: Phải thấy tội của lời dối gạt, thấy phước của tiếng chân thực mới được.

Vấn: Về sự kiêng, làm thế nào mới có thể kiêng được đứng đắn theo lời nguyện, như nguyện với nhà sư rằng: “Pānātipātā veramani sikkhapadaṃ samādiyami” (Tôi xin thọ trì điều học tức là kiêng sự sát sanh) v.v… rồi làm sao chừa cải hẳn được mãi mãi?

Đáp: Phải xem xét về phước của sự kiêng cho thấy rõ trong tâm, cho đến khi thừa nhận dám bỏ của cải, bỏ tứ chi, máu, thịt, hy sinh mới được, nếu không sẽ phạm vì tiếc của, lưu luyến thân thể hay nghĩ đến sinh mệnh.

Vấn: Về kỳ diệu chân thực tức Niết-bàn làm thế nào mới thấy rõ rằng: Niết-bàn là quý báu hơn tất cả cái chi hết?

Đáp: Phải quan sát cho nhiều đến sự khổ, cho đến khi thấy đời toàn là khổ, dù là mình chấp rằng là vui, như ăn no; ngủ thì toàn là khổ, vì phải làm để ăn, phải làm để ngủ; ngủ nhiều là nhân cho say mê, mệt mỏi không vui. Như đi xem lễ cũng là khổ, vì nếu xem không vừa lòng thì sanh bất mãn, chơi khuya thì buộc phải tiêu phí tốn hao, v.v… Khi quan sát thì càng thấy khổ, rồi chỉ thấy Niết-bàn là vui nhất. Phải hành như thế, mới hiểu Niết-bàn là chân thực, vui thực, như thế mới là nhân mong đắc Niết-bàn. Đấy là nhân sanh từ bỏ các tội lỗi, chỉ làm việc phước đức, khi phước đức dồi dào đầy đủ là nhân cho thấy Niết-bàn vừa với sở nguyện.

IV. Giảng câu hỏi thứ tư của Quỉ vương

Phật đáp: Các bậc trí tuệ thốt rằng: Người có sinh mệnh tồn tại bằng trí tuệ, là sinh mệnh cao quý.

Vấn: Điều này giảng ra sao?

Đáp: Người trong đời chia ra có ba hạng, là: andhacakkhu: mù mắt; ekacakkhu: chột mắt; dvicakkhu: hai mắt. Sinh mệnh của cư sĩ và bậc xuất gia có hai mắt là sinh mệnh cao quý nhất.

Vấn: Ba hạng người ấy, hạng nào ra sao?

Đáp: Người mù chỉ về hạng không biết lợi ích thế gian và xuất thế. Người chột mắt chỉ biết lợi ích thế gian thôi. Người có hai mắt là hạng biết rõ cả hai lợi ích thế gian và xuất thế. Hơn nữa, kẻ mù không biết lợi ích mình và lợi ích kẻ khác. Người chột mắt ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình. Hạng có hai mắt là người rõ cả hai lợi ích cho mình và lợi ích kẻ khác.

Vấn: Lời giải thích trên đây của ai?

Đáp: Của các vị tikācārya; các ngài thuật lại lời của nhà chú giải.

Vấn: Nhà chú giải từ đâu mà có?

Đáp: Từ Pāli là Phật ngôn, có ghi chép trong bộ tikkanipāta aṅguttaranikāya có giải thích rằng: Kẻ không hiểu nhân sanh của cải và không biết rõ Pháp gọi là kẻ mù; kẻ chỉ biết Pháp nhưng không thông nhân sanh của cải gọi là chột mắt; người rõ cả hai loại gọi là bậc có hai mắt.

Đúng lắm, xin các bậc thiện tri thức hãy cố gắng làm cho được thành người có 2 mắt, thì bậc trí tuệ mới ca tụng rằng: Là có sinh mệnh cao quý nhất. 

Ghi chú:

[5] Ký ức giác chi: trí nhớ giác ngộ (trong bodhipakkhiya).
[6] Xem ở phía sau.

Trích: QUỈ VƯƠNG VẤN ĐẠO (YAKKHA PAÑHĀ) (Trang 5 – 8) – TK Hộ Tông