Nghiệp Và Quả Của Nghiệp

thien nghiep

Quả của nghiệp là một trong 4 vấn đề mà Đức Phật dạy “bất khả tư nghì” (acinteyya): không nên nghị luận, đó là điều khó nghĩ bàn được. Bởi vì, nó liên quan đến những nghiệp đã tạo trong những kiếp quá khứ hoặc trong kiếp hiện tại. Chỉ có trí tuệ của Đức Phật mới thấy rõ biết rõ nghiệp và quả của nghiệp của tất cả chúng sinh trong những kiếp quá khứ, kiếp hiện tại và những kiếp vị lai mà thôi. Cho nên, cần có đức tin nơi nghiệp và quả của nghiệp.

Để thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào cho quả, cần phải có nhân duyên đặc biệt hỗ trợ, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy mới có cơ hội cho quả của nó.

Điều kiện thiện nghiệp cho quả

Thiện nghiệp cho quả an lạc cần phải có 4 nhân duyên sampatti(1) đặc biệt hỗ trợ như:

1- Kālasampatti

Con người sống trong thời kỳ Đức Chuyển Luân Thánh vương trị vì đất nước bằng thiện pháp, không dùng đến vũ lực; thời kỳ Đức Phật xuất hiện trên thế gian. Trong những thời kỳ này, thiện pháp dễ dàng tăng trưởng, còn ác pháp khó tăng trưởng.

2- Gatisampatti

Chúng sinh sống trong cõi thiện giới như: Cõi người, cõi trời dục giới, cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới, đang hưởng quả an lạc của thiện nghiệp của mình.

3- Upadhisampatti

Thân hình có đầy đủ các bộ phận, không bị khuyết tật.

4- Payogasampatti

Cố gắng trong mọi thiện pháp, đó là thiện tâm có tâm tinh tấn cố gắng tạo những thiện nghiệp do thân, khẩu, ý.

Đó là 4 điều kiện thuận duyên để thiện nghiệp cho quả an lạc. Nếu có một hay nhiều điều kiện thuận duyên này, thì thiện nghiệp có cơ hội cho quả an lạc.

Điều kiện ác nghiệp cho quả khổ

Ác nghiệp cho quả khổ cần phải có 4 nhân duyên vipatti(2) đặc biệt hỗ trợ như:

1- Kālavipatti

Con người sống trong thời kỳ Đức vua trị vì đất nước bằng vũ lực, thời kỳ không có Phật giáo. Trong những thời kỳ này ác pháp dễ dàng tăng trưởng, còn thiện pháp khó tăng trưởng.

2- Gativipatti

Chúng sinh sống trong cõi ác giới như: Cõi địa ngục, cõi atula, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh đang chịu quả khổ của ác nghiệp của mình.

3- Upadhivipatti

Thân hình bị khuyết tật, mắt mù, tai điếc, què quặt, v.v…

4- Payogavipatti

Cố gắng trong mọi ác pháp, đó là ác tâm có tâm tinh tấn cố gắng tạo những ác nghiệp do thân, khẩu, ý.

Đó là 4 điều kiện thuận duyên để ác nghiệp cho quả khổ. Nếu có một hay nhiều điều kiện thuận duyên này, thì ác nghiệp có cơ hội cho quả khổ. Như vậy, thiện nghiệp khi gặp thuận duyên (sampatti), thì mới có cơ hội cho quả an lạc, nếu gặp nghịch duyên (vipatti), thì không có cơ hội cho quả an lạc. Ác nghiệp khi gặp thuận duyên (vipatti), thì mới có cơ hội cho quả khổ, nếu gặp nghịch duyên (sampatti), thì không có cơ hội cho quả khổ.

Ví dụ

Một người sống ở đời, có khi tạo thiện nghiệp, bằng thân, khẩu, ý; có khi tạo ác nghiệp bằng thân, khẩu, ý đến lúc lâm chung xảy ra một trong hai trường hợp:

– Nếu thiện tâm ghi nhớ đến thiện nghiệp nào của mình đã tạo, sau khi chết, do thiện nghiệp ấy cho quả được tái sinh làm chư thiên ở cõi trời dục giới (hoặc sắc giới, vô sắc giới) (gatisampatti), thì hưởng sự an lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ, còn mọi ác nghiệp không có cơ hội cho quả khổ.

– Nếu ác tâm ghi nhớ đến ác nghiệp nào của mình đã tạo, sau khi chết, do ác nghiệp ấy cho quả bị tái sinh trong cõi địa ngục (gativipatti), thì chịu quả khổ do ác nghiệp của mình đã tạo cho đến mãn kiếp, còn mọi thiện nghiệp không có cơ hội cho quả an lạc.

– Nếu thiện tâm ghi nhớ đến thiện nghiệp nào của mình đã tạo, sau khi chết, do thiện nghiệp ấy cho quả tái sinh làm người.

Đặc biệt trong cõi người, có khi thiện nghiệp có cơ hội cho quả an lạc, có khi ác nghiệp có cơ hội cho quả khổ. Kiếp sống con người có khi được an lạc, có khi chịu khổ; ngay đến Đức Phật, chư Thánh Arahán cũng không ngoại lệ. Song Đức Phật, chư Thánh Arahán hoàn toàn không còn khổ tâm, chỉ còn có khổ thân mà thôi.

Trường hợp đặc biệt, có những con vật như: Con chó, con mèo, con voi, con ngựa,… dù chúng nó do ác nghiệp cho quả tái sinh làm súc sinh, nhưng do thiện nghiệp khác cho quả, chúng nó được nuôi dưỡng chăm sóc đầy đủ những nhu cầu cần thiết hơn các con vật khác. Người nào không hiểu rõ nghiệp và quả của nghiệp, không có chánh kiến về nghiệp của mình (kammassakatā sammādiṭṭhi), thì không có đức tin nơi nghiệp và quả của nghiệp. Khi họ hưởng được quả tốt lành, an lạc, họ cho là cuộc đời gặp may mắn; khi họ chịu quả khổ, điều bất hạnh, họ cho là cuộc đời gặp rủi ro, trách người khác làm khổ họ,… Họ không hiểu biết đó là quả của nghiệp mà chính họ đã tạo trong quá khứ, có khi từ kiếp trước.

Đức Phật dạy nghiệp và quả của nghiệp có 4 loại(3):

1- Nghiệp đen cho quả đen.

2- Nghiệp trắng cho quả trắng.

3- Nghiệp cả đen lẫn trắng, cho quả cả đen lẫn trắng.

4- Nghiệp không đen không trắng, cho quả không đen không trắng, dẫn đến sự diệt tận nghiệp tái sinh.

Giải thích

Nghiệp đen cho quả đen như thế nào?

Nghiệp đen là ác nghiệp, đó là tác ý ác đồng sanh với ác tâm tạo nên ác nghiệp bằng thân, khẩu, ý như: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích, tham lam, thù hận, tà kiến.

Quả đen là quả khổ (của ác nghiệp). Chúng sinh nào tạo ác trọng nghiệp hoặc thường tạo ác nghiệp đến khi hết tuổi thọ (chết), sau khi chết, do ác nghiệp ấy cho quả tái sinh trong cõi địa ngục chịu quả khổ sở, do ác nghiệp mà mình đã tạo. Như vậy gọi là nghiệp đen cho quả đen.

Nghiệp trắng cho quả trắng như thế nào?

Nghiệp trắng là thiện nghiệp, đó là tác ý thiện đồng sinh với thiện tâm tạo nên thiện nghiệp bằng thân, khẩu, ý như: Tránh xa sự sát sanh, trộm cắp, tà dâm; tránh xa sự nói dối, sự nói lời chia rẽ, sự nói lời thô tục, sự nói lời vô ích; tâm không tham lam, không sân hận, có chánh kiến hoặc bố thí, giữ giới tiến hành thiền định, tiến hành thiền tuệ…

Quả trắng là quả an lạc (của thiện nghiệp). Chúng sinh nào tạo thiện nghiệp đến khi hết tuổi thọ (chết), sau khi chết, do thiện nghiệp ấy cho quả tái sinh lên cõi trời hưởng quả an lạc trong cõi trời ấy, nhờ thiện nghiệp của mình đã tạo. Như vậy gọi là nghiệp trắng cho quả trắng.

Nghiệp cả đen lẫn trắng, cho quả cả đen lẫn trắng như thế nào?

Nghiệp cả đen lẫn trắng là ác nghiệp và thiện nghiệp, đó là khi thì tác ý ác đồng sinh với ác tâm tạo nên ác nghiệp bằng thân, khẩu, ý; khi thì tác ý thiện đồng sinh với thiện tâm tạo nên thiện nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

Quả cả đen lẫn trắng là quả khổ và quả an lạc. Chúng sinh nào khi thì tạo ác nghiệp, khi thì tạo thiện nghiệp đến khi hết tuổi thọ (chết), sau khi chết:

– Nếu thiện nghiệp có cơ hội cho quả tái sinh làm người hoặc làm chư thiên bậc thấp kém, thì người hoặc chư thiên này có khi chịu quả khổ của ác nghiệp, có khi hưởng quả an lạc của thiện nghiệp mà mình đã tạo.

– Nếu ác nghiệp có cơ hội cho quả tái sinh làm ngạ quỷ hạng Vemānika, thì hạng ngạ quỷ này ban ngày chịu quả khổ của ác nghiệp và ban đêm hưởng quả an lạc của thiện nghiệp. Như vậy gọi là nghiệp cả đen lẫn trắng, cho quả cả đen lẫn trắng.

Nghiệp không đen không trắng, cho quả không đen không trắng, dẫn đến sự diệt tận nghiệp tái sinh như thế nào?

Nghiệp không đen không trắng là nghiệp không thuộc ác nghiệp cũng không thuộc thiện nghiệp trong tam giới, đó là tác ý thiện đồng sinh với 4 Thánh Đạo Tâm thuộc Siêu tam giới tâm, nên thiện nghiệp này không cho quả tái sinh trong tam giới, mà có khả năng đặc biệt làm giảm dần nghiệp tái sinh, cho đến không còn tái sinh kiếp nào nữa.

Quả không đen không trắng là quả không khổ không an lạc (kiếp sau). Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi trí tuệ thiền tuệ Siêu tam giới chứng đắc 4 Thánh Đạo: Nhập Lưu Thánh Đạo, Nhất Lai Thánh Đạo, Bất Lai Thánh Đạo, Arahán Thánh Đạo, tác ý đồng sinh với 4 Thánh Đạo Tâm thuộc Siêu tam giới này cũng gọi là thiện nghiệp, song không cho quả tái sinh trong tam giới, mà có khả năng đặc biệt làm giảm dần kiếp tái sinh tùy theo năng lực của mỗi bậc Thánh Đạo Tâm như sau:

– Bậc Thánh Nhập Lưu chỉ còn nhiều nhất 7 kiếp.

– Bậc Thánh Nhất Lai chỉ còn 1 kiếp.

– Bậc Thánh Bất Lai không còn tái sinh trở lại cõi thiện dục giới, chỉ tái sinh lên cõi sắc giới.

– Bậc Thánh Arahán không còn tái sinh kiếp nào nữa, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Như vậy gọi là nghiệp không đen không trắng cho quả không đen không trắng dẫn đến sự diệt tận nghiệp tái sinh kiếp sau.

Ghi Chú

1 Chú giải bộ Aṅguttaranikāya, phần 4 chi.
2 Chú giải bộ Aṅguttaranikāya, phần 4 chi.
3 Chú giải bộ Aṅguttaranikāya, phần 4 chi.
 
Trích: Tìm hiểu PHƯỚC BỐ THÍ (Trang 399 – 406) (Tỳ Khưu Hộ Pháp)