Cư Sĩ Vấn Đáp (Phần 10)

ngai ho tong

94. Vấn: Tà kiến chia ra có mấy đoạn?

Đáp: Tà kiến chia ra có ba đoạn: định tà kiến (niyatamicchādiṭṭhi), thường kiến (antagāhikādiṭṭhi), thân kiến (sakkāyadiṭṭhi). Định tà kiến là tà kiến đã quyết định, người đã có tà kiến ấy, hằng sa vào không gian địa ngục (lokamtaranaraka)[14] chia ra ba bực: ngăn quả (natthikadiṭṭhi) nghĩa là hiểu rằng quả của phước và quả của tội không có; ngăn nghiệp (akiriyadiṭṭhi) nghĩa là hiểu rằng phước và tội không có; ngăn cả quả và nghiệp (alutukadiṭṭhi) nghĩa là hiểu rằng phước và tội cũng không có, quả của phước và quả của tội cũng không có.

95. Vấn: Ngăn quả là gì?

Đáp: Ngăn quả là như bố thí không được phước, cảnh thiên đàng cũng không có, cõi trời Phạm thiên cũng không có, chúng sanh chết rồi mất, như thế gọi là ngăn quả (natthi kaviṭṭhi) (lý thuyết này phát sanh do tà sự tên “ajita”).

96. Vấn: Ngăn nghiệp, giải như thế nào?

Đáp: Ngăn nghiệp là nói rằng: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối gọi là không làm nghiệp dữ. Không làm nghiệp dữ là “vì nguyên chất với nguyên chất làm với nhau”; chúng sanh cũng là nguyên chất, thân người giết cũng là nguyên chất như nhau. Như đốn cây, cây có phước, có tội chi mà đi đầu thai nữa, ấy là cái “thức” thôi, như thế gọi là ngăn nghiệp (akiriyadiṭṭhi) (lý thuyết này phát sanh do tà sự tên “puraṇa kassapa”).

97. Vấn: “Ngăn cả quả và nghiệp” giải như thế nào?

Đáp: Ngăn cả quả và nghiệp là hiểu rằng: tất cả chúng sanh, sanh ra không có nhân, không có duyên, dơ nhớp cũng tự nhiên dơ nhớp, trong sạch cũng tự nhiên trong sạch, như cây tốt, cũng tốt tự nhiên, chẳng có phước tội chi làm cho ngay cho vạy, như thế gọi là ngăn cả quả và nghiệp (ahetukadiṭṭhi) (lý thuyết này phát sanh do tà sự tên “makkhaligosāla”). Cả ba tà kiến ấy ngăn cả đường trời và đường Niết-bàn.

98. Vấn: Thường kiến (antagāhikādiṭṭhi) giải như thế nào?

Đáp: Thường kiến chỉ ngăn đường Niết-bàn, nhưng không ngăn đường trời.

99. Vấn: Thân kiến (sakāyadiṭṭhi) giải như thế nào?

Đáp: Thân kiến hiểu rằng: trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức là cái thường tồn, vĩnh viễn, chia ra có 20 thứ. Nhưng đây không giải vì là pháp rất vi tế, quá sức thường nhơn. Tà kiến này, cõi trời cũng không ngăn, Niết-bàn cũng không ngăn.

100. Vấn: Vì sao tà kiến, có thứ ngăn đường trời và đường Niết-bàn, có thứ chỉ ngăn đường Niết-bàn, không ngăn cõi trời, có thứ không ngăn đường trời cũng không ngăn Niết-bàn?

Đáp: Tà kiến ví như sỏi hay là đá, nhưng đá cũng có thứ lớn, thứ vừa vừa và thứ nhỏ vậy. Đá lớn nếu liệng xuống nước chắc phải chìm, chẳng có vật chi nâng đỡ nổi, như ba thứ tà kiến ấy chắc sa vào đường dữ không sai. Thứ đá cỡ vừa vừa, nếu để trên bèo hoặc lục bình trôi trên mặt nước cũng không chìm, như thường kiến (antagāhikādiṭṭhi) hiểu thấy rằng thế gian là thường (cõi trời Dục giới và cõi Phạm thiên) rồi ráng làm phước, tu phép thiền định cho được thoát sanh trong cõi ấy sẽ được an vui, vì cho rằng cõi ấy là thường. Tà kiến thiệt, song có quả lành hỗ trợ nâng đỡ cho được sanh trong nơi ấy, như cục đá không bị chìm. Thứ đá nhỏ nhen, nếu dính với nhiều bông có thể bay bổng lên hư không được, như thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) cố chấp thiệt, nhưng ráng làm những điều lành như tham thiền cho đến đắc đạo Tu-đà-huờn mới dứt trừ tà kiến ấy được.

101. Vấn: Thứ tà kiến nào kể vào nghiệp dữ?

 Đáp: Tà kiến kể vào 10 nghiệp dữ là ba thường tà kiến (niyata miecchādiṭṭhi), tà kiến ngoài ra không kể vào 10 nghiệp dữ đâu.

102. Vấn: Vì sao hai hạng tà kiến kia không kể vào trong 10 nghiệp dữ?

 Đáp: Không kể vào trong 10 nghiệp dữ vì thứ tà kiến ấy còn làm phước được.

103. VấnTrong các nghiệp dữ, nghiệp nào có tội nặng hơn hết?

Đáp: Tà kiến có tội nặng hơn hết.


[14] Không gian địa ngục là địa ngục ở giữa khoảng không, không có đất chở.