Cư Sĩ Vấn Đáp (Phần 5)

ngai ho tong

43. Vấn: Đứt giới do mấy nguyên nhân?

 Đáp: do hai nguyên nhân: đứt có tội, vì hành sái một điều học nào (sāvajjoca); đứt không có tội, vì chết (anāvajjoca).

44. Vấn: Thọ trì có mấy phép?

Đáp: Có hai phép: thọ trì chung (ekajjhasamādāna), thọ trì riêng (paccekasamādāna).

45. Vấn: Thọ trì chung như thế nào?

Đáp: Thọ trì tất cả điều học, như nói: “Tôn xin thọ trì năm giới, hay là tám giới” không nói: sát sanh, trộm cắp…, như thế, gọi là thọ trì chung (ekajjhasamādāna).

46. Vấn: Thọ trì riêng, như thế nào?

Đáp: Thọ trì riêng là nói ngay, riêng mỗi một điều học cho đến hết, như thế, gọi là thọ trì riêng (paccekasamādāna).

47. Vấn: Thọ trì chỉ có hai phép ấy, hay là còn nữa?

Đáp: Chia ra có ba phép thêm nữa: thọ trì bậc thấp (hīnasamādāna), thọ tri bậc trung (majjhimasamādāna), thọ trì bậc thượng (panītasamādāna).

48. VấnThọ trì bậc thấp, như thế nào?

 Đáp: Thọ trì vì: muốn (chanda), tâm (citta), tấn (viriya), suy xét (vimamsa) (adhipatidhama). Nếu cả bốn pháp ấy thấp hèn thì giới cũng thấp hèn, hoặc vì tâm sự ham muốn (taṇhā), tà kiến (diṭṭhi) và kiêu hãnh (māna) nhập vào khuấy rối làm cho tâm bợn nhơ, vì thiếu trí tuệ (ñānavippayutta) như thế, gọi là thọ trì thấp hèn.

49. Vấn: Thọ trì bực trung như thế nào?

Đáp: Thọ trì vì: muốn, tâm, tinh tấn, suy xét bực trung, không bị sự ham muốn, tà kiến và kiêu hãnh nhập vào khuấy rối, nhưng nhờ có người dắt dẫn (sasaṅkhārikañāna sampayutta) như thế gọi là thọ trì bực trung (majjhimasamādāna).

50. Vấn: Thọ trì bực thượng như thế nào?

Đáp: Thọ trì vì: muốn, tâm, tinh tấn, suy xét bực thượng không bị sự ham muốn, tà kiến và kiêu hãnh nhập vào khấy rối vì có tâm lành, không có người dắt dẫn[8] (asaṅkhārikañāṇa sampayutta), như thế gọi là thọ trì bực thượng (pamītasamādāna).

51. Vấn: Cả tám điều giới, chia ra về phần tội có mấy thứ? Khác nhau như thế nào? 

Đáp: Chia ra về phần tội có hai thứ, khác nhau như vầy: trong tám điều học có:

  • Năm điều trước thuộc về tội trong đời (lokavajja), dầu thọ trì hay không thọ trì cũng có tội, phải sa vào bốn đường dữ. Nghiệp báo còn dư lại phải đi thoát sanh làm người, chịu tội khác nhau theo mỗi điều học mà mình đã phạm.
  • Ba điều sau thuộc về tội Phật cấm (pannathivajjo). Nếu làm sai điều Phật cấm ấy không sa vào bốn đường dữ[9], không có oan trái[10] (verā) chỉ không được hưởng phước báu của “bát quan trai giới” thôi. Vì điều học này phát sanh do thế lực của “bát quan trai”. Ngoài ngày bát quan trai, không có điều học ấy.

Chú thích:

  • [8] “không có người dắt dẫn” là tự mình có trí tuệ suy xét thấy phải, rồi thành tâm làm, không nhờ người nhắc nhở.
  • [9] Bốn đường dữ là: địa ngục, ngạ quỷ, a tu la, súc sanh. 
  • [10] Kiếp trước làm điều oan, kiếp này phải chịu đày đọa, kiếp này làm việc ức hiếp, kiếp sau phải bị hành gọi là “oan trái”, phạn ngữ gọi là “verā”.