Đạo có tám chi có phận sự khác nhau

Ngũ giới trong sạch

Chánh kiến (sammādiṭṭhi) là sự hiểu phải, hiểu đúng đắn theo thông thường cả bên đời và bên đạo, cả phàm pháp và thánh pháp. Sự hiểu rằng, chúng sanh sanh ra trong thế gian này mà được tốt hoặc xấu cũng do cái nghiệp mà tự mình đã làm. Phước, tội mà chúng sanh đã tạo ra, chúng sanh phải chịu quả không sai. Địa ngục, thiên đàng và Niết-bàn là cảnh có thực cho đến hiểu rằng: sanh, già, bệnh, chết là khổ. Sự ham muốn là nhân sanh khổ, dứt bỏ được sự ham muốn ra là nhân cho điều vui sướng, tu theo Bát Thánh đạo là nhân diệt được sự ham muốn. Đó là thuộc về sự hiểu biết phải theo bậc phàm. Còn sự hiểu biết phải theo Thánh vức là pháp vi tế cao thượng hơn nữa, vì là sự hiểu biết của bậc Thánh nhơn.

Nhưng hành giả nên biết rằng: Thánh đạo phải nương phàm đạo mới phát sanh ra được, nghĩa là người có đức tin cần phải thọ trì phần giới, phần định, phần tuệ trong phàm đạo cho đầy đủ rồi nên tiến hành pháp minh sát, quán tưởng[3] thấy rõ thân thể chỉ là danh sắc[4] nương lẫn nhau mới có thể duy trì được, chẳng phải chúng sanh, chẳng phải người, rồi quán tưởng danh sắc theo ba tướng: vô thường, khổ não, vô ngã, dùng trí tuệ quán tưởng cho đến khi phát tâm vô ký trong tất cả danh sắc.

Sự hiểu biết như thế gọi là có tuệ vô ký trong danh sắc (saṅkhārupekhāñāṇa)[5] khi (saṅkhārupekkhāñāṇa) được thuần thục trong lúc đạo phát sanh, rồi tâm xuống giữ “thường tâm” (bhavaṅga)[6] “tốc lực tâm tìm cảnh giới trong ý”[7] (monodvārāvajjanacitta) phát sanh rồi “tốc lực tâm hành 7 khana”[8] là: “sát định tâm”[9] tốc lực tâm đầu tiên gọi là parikama, “cận định tâm”[10] tốc lực tâm thứ hai gọi là upacāra, “thuận sát tâm”[11] tốc lực tâm thứ ba gọi là anuloma, “gô-trá-phu tâm”[12] tốc lực tâm thứ tư gọi là gotrabhū. Thắng lực của phàm đạo chỉ đến đây là cùng. Tốc lực tâm nối tiếp thuộc về phần Thánh đạo có tuệ nhãn là khí cụ đoạn tuyệt thụy miên phiền não (anusaya)[13] hằng lặn núp trong tâm. Sự hiểu biết chơn chánh như thế gọi là chánh kiến (sammādiṭṭhi) thuộc về phần Thánh đạo.

Chánh tư duy (sammāsaṅkappo) là “suy nghĩ phải” chỉ về suy nghĩ trong việc tìm phương pháp để ra khỏi ngũ dục, suy nghĩ trong việc không thù oán chúng sanh, suy nghĩ trong việc không làm khổ chúng sanh cho thân tâm được giải thoát khỏi các sự thống khổ, gọi là suy nghĩ phải trong chi đạo thứ hai. Cả hai chi đạo đã giải ấy thuộc về phần trí tuệ đặt vào trong tuệ học (paññāsikkhā).

Chánh ngữ (sammāvācā) là “nói lời phải” là không nói bốn lời dữ (nói dối, nói lời chia rẻ, mắng chửi, nói lời vô ích).

Chánh nghiệp (sammākammanta) là “nghề phải”: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm.

Chánh mạng (sammāājīva) là “nuôi mạng phải” là lánh khỏi các điều tà mạng, cả đường đời và đường đạo. Về phần cư sĩ phải lánh khỏi sự buôn bán sai lầm[14]. Hàng xuất gia phải lánh sự tà mạng có tội lỗi theo đường đời (lokavajja) và đường đạo (paññattivajja)[15] . Cả ba chi đạo này dính dấp với sự sanh mạng của loài người trong đường đời và đường đạo, từ bậc tại gia đến hàng xuất gia, tùy bậc thấp cao, đều thuộc về phần giới, nên đặt vào trong giới (Sīlasikkhā).

Chánh tinh tấn (sammāvāyāma) là “tiến lên phải” là tiến trong bốn điều: cần không cho tội phát sanh trong tâm, cần dứt bỏ tội đã phát sanh, cần làm những việc lành, cần giữ gìn những việc lành đã phát sanh, không cho tiêu hủy.

Chánh niệm (sammāsati) là nhớ phải, nhớ trong pháp Tứ niệm xứ:

  • Trí nhớ là khí cụ để phân biệt, quán tưởng thân thể rằng: thân này chỉ là thân, chẳng phải chúng sanh, thân ta, thân người gọi là dùng trí nhớ quán tưởng trong thân (kayānupassanāsatipaṭṭhāna).
  • Trí nhớ là khí cụ để phân biệt, quán tưởng cái thọ[16] rằng: thọ này chỉ thọ thôi, chẳng phải chúng sanh, người, thân ta, thân người, gọi là trí nhớ quán tưởng cái thọ (vedanānupassanāsatipaṭṭhāna).
  • Trí nhớ là khí cụ để phân biệt quán tưởng cái tâm dơ bẩn hoặc trong sạch rằng: tâm này chỉ là tâm, chẳng phải chúng sanh, người, thân ta, thân người, gọi là trí nhớ quán tưởng cái tâm (cittānupassanāsatipaṭṭhāna).
  • Trí nhớ là khí cụ để phân biệt quán tưởng pháp lành hoặc dữ đã phát sanh rằng: pháp ấy chỉ là pháp, chẳng có chúng sanh, người, thân ta, thân người gọi là trí nhớ quán tưởng pháp (dhammānupassanāsatipaṭṭhāna).

Chánh định (sammāsamādhi) là tâm yên lặng, là tâm định trong bốn bậc thiền, là phương pháp tu tâm cho an tịnh xa lánh ngũ dục, lìa khỏi ác pháp, nhứt là năm pháp cái đặt vào trong năm chi thiền: tầm (vitakka) là trạng thái của tâm lên bắt lấy đề mục thiền định làm cảnh giới; sát (vicāra)[17] là tâm quan sát, suy nghĩ đề mục thiền định; phỉ (pīti) là thân tâm no đủ, vui sướng, nhẹ nhàng, mát mẻ trong đề mục thiền định; lạc (sukha) là thân tâm an vui thơ thới do phỉ phát sanh; định (ekaggatā) là tâm an tịnh trong một cảnh giới. Khi tâm có đầy đủ cả năm chi thiền ấy gọi là đắc sơ thiền (paṭhamajhāna). Khi tâm được trong sạch vững vàng thêm lên nữa, dứt bỏ tầm và tứ chỉ còn phỉ, lạc và định, đầy đủ cả ba chi ấy, gọi là đắc nhị thiền (dutiyajhāna). Tâm càng vi tế cực lành, dứt phỉ, chỉ còn lạc và định có đầy đủ hai chi ấy gọi là đắc tam thiền (tatiyajhāna). Tâm vi tế thêm nữa, vô ký trong các cảnh giới, dứt lạc, biến thành xả và định, có đầy đủ cả hai chi ấy gọi là đắc tứ thiền (cittutthajhāna). Cả ba chi đạo thuộc về pháp trau dồi cái tâm trở nên trong sạch, xa khỏi điều dơ bẩn là các phiền não, nên đặt vào trong định học (samādhisikkhā) hoặc tâm học (cīttasikkhā).

Đạo có đầy đủ cả tám chi ấy có giải rộng, bao trùm các đường đạo khác, nhứt là phép tri túc (santosa) quán tưởng trong khi thọ tứ vật dụng (paccavekkana), lục căn thu thúc (indriyasaṃvaraṃ) cũng gom vào trong giới hạn của đạo có tám chi như: chánh kiến là thấy phải cũng gọi là hiểu chơn chánh, vừa lòng theo lẽ phải luôn cả phần phàm và phần thánh cho đến tướng, thể, nhân, quả.

Đức Phật có giải trong kinh “Mahācittarisaka sutra” rằng: Chánh kiếnchủ tể các chi đạo vì là nguyên nhơn cho thấy rõ: như vầy là tà kiến, như vầy là chánh tư duy, như vầy là tà tư duy, cho đến như vầy là cao, như vầy là thấp, cả phần quấy và phần phải là nhân sanh sự tín ngưỡng cho nên các pháp có chánh tín đều khép vào chánh kiến, dầu sự hiểu phải lẽ như hiểu bố thí được phước, tạo nghiệp phải thọ quả, không tiêu diệt, kiếp vị lai có, địa ngục, thiên đường cũng có, đời này và đời sau cũng có, như thế, cũng vẫn gọi là chánh kiến cả.

Lý thuyết đã giải đây chỉ lời thí dụ cho thấy rằng: Đạo có tám chi, có nghĩa lý sâu xa rộng lớn bao trùm cả các pháp lành khác. Sự tu hành là trau dồi thân, khẩu trong sạch, lánh khỏi tội, theo thân môn và khẩu môn gọi là “giới” (sīla); sửa trị cho tâm yên lặng gọi là “định” (samādhi); làm cho trí tuệ sắc bén, chặt đứt các phiền não gọi là “tuệ” (paññā). Đây giải cho thấy rằng: đạo có tám chi đầy đủ gọi là “giới, định, tuệ”.

Trong đạo có đầy đủ tám chi ấy: chánh kiến như người hướng đạo (magguddesaka) dắt dẫn các chi khác cho phát sanh. Các chi khác sanh, trợ tiếp chánh kiến cho thêm sức mạnh. Chánh kiến cũng giúp các chi đạo kia dần dần càng thêm mạnh mẽ. Đạo có tám chi giúp đỡ nhau, hiệp lực nhau, dắt dẫn nhau, khi đã được thường hiệp lực rồi, sức mạnh càng tăng trưởng thuần thục dần dần, là nhân cho Thánh đạo, Thánh quả, sẽ tùy thời mà phát sanh ra được.

Trích: Bát Chánh Đạo – Tỳ khưu Hộ Tông 

Ghi chú:

[3] Quán tưởng là định tâm mà tưởng, sự tưởng tượng ấy phát hiện ra rõ rệt.

[4] Danh là : thọ, tưởng, hành, thức; sắc là thân tứ đại (đất, nước, lửa, gió).

[5] Giải rõ trong “Thanh tịnh giải”.

[6] Giải rõ trong “Thanh tịnh giải”.

[7] Giải rõ trong “Thanh tịnh giải”.

[8] Kháná (khana) tàu âm là sátna là thời gian rất ngắn ngủn mau chóng của tốc lực tâm.

[9] Tốc lực tâm suy xét tìm sự nhập định.

[10] Tốc lực tâm gần nhập định.

[11] Tốc lực tâm suy xét theo “tầm sát định tốc lực tâm” và “cận định tốc lực tâm” trước.

[12] Giải rõ trong “Thanh tịnh kinh giải”.

[13] Thụy miên là phiền não thường thường ẩn núp trong tâm ý người.

[14] Buôn bán sai lầm có 5 : bán khí giới, bán người, bán rượu, bán thuốc độc, bán thú.

[15] Có giải trong “luật tu xuất gia” và tập chí.

[16] Thọ là sự dụng nạp, nhận lấy cảnh giới.

[17] Sát (vicāra) – cũng còn gọi là tứ.