Kinh trạng thái vô ngã

duc phat thyet phap

Ngày rằm tháng 6 (âm-lịch), Đức-Phật Gotama thuyết pháp lần đầu tiên bài kinh Dhammacakkappavattana- sutta: Kinh Chuyển-Pháp-Luân, để tế độ nhóm 5 vị tỳ- khưu, Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña trở thành bậc Thánh Nhập-lưu đầu tiên trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama. Tiếp theo sau, mỗi ngày một vị trở thành bậc Thánh Nhập-lưu, đến ngày 19 tháng 6, nhóm 5 vị tỳ- khưu đều trở thành bậc Thánh Nhập-lưu.

Đến ngày 20 tháng 6, Đức-Phật Gotama thuyết bài kinh Anattalakkhaṇasutta: Kinh Trạng-thái-vô-ngã, để tế độ nhóm 5 vị tỳ-khưu trở thành bậc Thánh A-ra-hán.

Phần I: Ý nghĩa kệ khai Kinh Trạng-Thái-Vô-Ngã

Dhammacakkaṃ pavattetvā…

Khu rừng yên tịnh nơi phóng sinh nai

Tên gọi là I-si-pa-ta-na

Gần kinh thành Ba-ra-na-xi ấy,

Ngày rằm tháng sáu, trăng tròn sáng tỏ,

Đức-Phật thuyết bài kinh Chuyển-pháp-luân,

Ngài Koṇḍañña trở thành bậc Thánh Nhập-lưu,

Tuần tự theo mỗi ngày, thêm một vị.

Nhóm năm tỳ-khưu thành Thánh Nhập-lưu,

Đến ngày 20 tuần trăng hạ huyền

Đức-Phật thuyết kinh Trạng-thái-vô-ngã.

Tế độ tỳ-khưu trở thành A-ra-hán.

Này chư thiện-trí! Xin hãy lắng nghe

Chúng tôi tụng kinh Trạng-thái-vô-ngã.

Phần II: Ý nghĩa bài Kinh Trạng-Thái-Vô-Ngã (Anattalakkhaṇasutta) (1)

Lời của Ngài Trưởng-lão Ānanda bạch với Ngài Đại- Trưởng-lão Mahākassapa rằng:

– Evaṃ me sutaṃ…

– Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa khả kính! Con là Ānanda, được nghe bài kinh Trạng-thái- vô-ngã từ Đức-Thế-Tôn như vầy:

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại khu rừng phóng sinh nai gọi là Isipatana (trước kia chư Phật Độc-Giác thường ngự xuống). Tại nơi đây, Đức-Thế-Tôn bèn gọi nhóm 5 tỳ-khưu rằng:

– Này chư tỳ-khưu!

Chư tỳ-khưu đáp lời Đức-Thế-Tôn:

– Dạ, Kính bạch Đức-Thế-Tôn.

Đức-Thế-Tôn thuyết giảng kinh Trạng-thái-vô-ngã như sau:

Ngũ-uẩn là vô-ngã

1- Sắc-uẩn là vô-ngã

– Này chư tỳ-khưu! Sắc-uẩn này là vô-ngã (không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta).

– Này chư tỳ-khưu! Thật vậy, nếu sắc-uẩn này là ta (ngã) thì sắc-uẩn này không bị biến đổi, không bị bệnh hoạn, các con có thể mong muốn sắc-uẩn này rằng:

“Sắc-uẩn của tôi được khỏe mạnh, đẹp đẽ như thế này. Sắc-uẩn của tôi đừng có bệnh hoạn, xấu xí như thế kia.”

– Này chư tỳ-khưu! Sự thật, bởi vì sắc-uẩn này là vô- ngã, do đó, sắc-uẩn này bị biến đổi, bị bệnh hoạn.

Vì vậy, các con không thể mong muốn trong sắc-uẩn này rằng:

“Sắc-uẩn của tôi được khỏe mạnh, đẹp đẽ như thế này. Sắc-uẩn của tôi đừng có bệnh hoạn, xấu xí như thế kia.”

(Sắc-uẩn như thế nào tùy thuộc vào nhân-duyên, không tùy thuộc theo ý muốn của mình.)

2- Thọ-uẩn là vô-ngã

– Này chư tỳ-khưu! Thọ-uẩn này là vô-ngã (không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta).

– Này chư tỳ-khưu! Thật vậy, nếu thọ-uẩn này là ta (ngã) thì thọ-uẩn này không bị biến đổi, không bị bệnh thân, không bị bệnh tâm, các con có thể mong muốn trong thọ-uẩn này rằng:

“Thọ-uẩn của tôi được an-lạc như thế này. Thọ-uẩn của tôi đừng khổ đau như thế kia.”

– Này chư tỳ-khưu! Sự thật, bởi vì thọ-uẩn này là vô- ngã, do đó thọ-uẩn này bị biến đổi, bị bệnh thân, bị bệnh tâm.

Vì vậy, các con không thể mong muốn trong thọ-uẩn này rằng:

“Thọ-uẩn của tôi được an-lạc như thế này. Thọ-uẩn của tôi đừng khổ đau như thế kia.”

(Thọ-uẩn như thế nào tùy thuộc vào nhân-duyên, không tùy thuộc theo ý muốn của ta.)

3- Tưởng-uẩn là vô-ngã

– Này chư tỳ-khưu! Tưởng-uẩn này là vô-ngã (không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta).

– Này chư tỳ-khưu! Thật vậy, nếu tưởng-uẩn này là ta (ngã), thì tưởng-uẩn này không bị biến đổi, không bị bệnh tâm, các con có thể mong muốn trong tưởng-uẩn này rằng:

“Tưởng-uẩn của tôi tưởng nhớ điều tốt, điều thiện như thế này. Tưởng-uẩn của tôi đừng tưởng nhớ điều xấu, điều ác như thế kia.”

– Này chư tỳ-khưu! Sự thật, bởi vì tưởng-uẩn này là vô- ngã, do đó, tưởng-uẩn này bị biến đổi, bị bệnh tâm.

Vì vậy, các con không thể mong muốn trong tưởng-uẩn này rằng:

“Tưởng-uẩn của tôi tưởng nhớ điều tốt, điều thiện như thế này. Tưởng-uẩn của tôi đừng tưởng nhớ điều xấu, điều ác như thế kia.”

(Tưởng-uẩn như thế nào tùy thuộc vào nhân-duyên, không tùy thuộc theo ý muốn của ta.)

4- Hành-uẩn là vô-ngã

– Này chư tỳ-khưu! Hành-uẩn này là vô-ngã (không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta).

– Này chư tỳ-khưu! Thật vậy, nếu hành-uẩn này là ta (ngã), thì hành-uẩn này không bị biến đổi, không bị bệnh tâm, các con có thể mong muốn trong hành-uẩn này rằng:

“Hành-uẩn của tôi hành thiện-nghiệp như thế này. Hành-uẩn của tôi đừng hành ác-nghiệp như thế kia.”

– Này chư tỳ-khưu! Sự thật, bởi vì hành-uẩn này là vô- ngã, do đó, hành-uẩn này bị biến đổi, bị bệnh tâm.

Vì vậy, các con không thể mong muốn trong hành-uẩn này rằng:

“Hành-uẩn của tôi hành thiện-nghiệp như thế này. Hành-uẩn của tôi đừng hành ác-nghiệp như thế kia.”

(Hành-uẩn như thế nào tùy thuộc vào nhân duyên, không tùy thuộc theo ý muốn của ta.)

5- Thức-uẩn là vô-ngã

– Này chư tỳ-khưu! Thức-uẩn này là vô-ngã (không phải ta, không chiều theo ý muốn của ta).

– Này chư tỳ-khưu! Thật vậy, nếu thức-uẩn này là ta (ngã), thì thức-uẩn này không bị biến đổi, không bị bệnh tâm, các con có thể mong muốn trong thức-uẩn này rằng:

“Thức-uẩn của tôi biết điều tốt, điều thiện như thế này. Thức-uẩn của tôi đừng biết điều xấu, điều ác như thế kia”

– Này chư tỳ-khưu! Sự thật, bởi vì thức-uẩn này là vô- ngã, do đó, thức-uẩn này bị biến đổi, bị bệnh tâm.

Vì vậy, các con không thể mong muốn trong thức-uẩn này rằng:

“Thức-uẩn của tôi biết điều tốt, điều thiện như thế này. Thức-uẩn của tôi đừng biết điều xấu, điều ác như thế kia”

(Thức-uẩn như thế nào hoàn toàn tùy thuộc vào nhân- duyên, không tùy thuộc theo ý muốn của ta.)

Ngũ-uẩn có 3 trạng-thái-chung

6- Sắc-uẩn có 3 trạng-thái-chung

– Này chư tỳ-khưu! Các con nhận thức thế nào về điều này? Sắc-uẩn này là thường hay vô-thường?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, sắc-uẩn này sinh rồi diệt là vô-thường.

– Này chư tỳ-khưu! Sắc-uẩn nào là vô-thường. Vậy, sắc-uẩn ấy là khổ hay lạc?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, sắc-uẩn nào sinh rồi diệt luôn luôn biến đổi, vô-thường, nên sắc-uẩn ấy là khổ.

– Này chư tỳ-khưu! Sắc-uẩn nào là vô-thường, khổ, có trạng-thái thường biến đổi. Vậy, các con có nên theo chấp-thủ với tâm tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến nơi sắc-uẩn ấy rằng:

“Sắc-uẩn ấy là của ta (do tâm tham-ái), sắc-uẩn ấy là ta (do tâm ngã-mạn), sắc-uẩn ấy là tự ngã của ta (do tâm tà-kiến) hay không?”

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, quả thật không nên theo chấp-thủ sắc-uẩn ấy như vậy. Bạch Ngài.

7- Thọ-uẩn có 3 trạng-thái-chung

– Này chư tỳ-khưu! Các con nhận thức thế nào về điều này? Thọ-uẩn này là thường hay vô-thường?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, thọ-uẩn này sinh rồi diệt là vô-thường.

– Này chư tỳ-khưu! Thọ-uẩn nào là vô-thường. Vậy, thọ-uẩn ấy là khổ hay lạc?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, thọ-uẩn nào sinh rồi diệt luôn luôn biến đổi, vô-thường, nên thọ-uẩn ấy là khổ.

– Này chư tỳ-khưu! Thọ-uẩn nào là vô-thường, khổ, có trạng-thái thường biến đổi. Vậy, các con có nên theo chấp-thủ với tâm tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến nơi thọ-uẩn ấy rằng:

“Thọ-uẩn ấy là của ta (do tâm tham-ái), thọ-uẩn ấy là ta (do tâm ngã-mạn), thọ-uẩn ấy là tự ngã của ta (do tâm tà-kiến) hay không?”

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, quả thật không nên theo chấp-thủ thọ-uẩn ấy như vậy. Bạch Ngài.

8- Tưởng-uẩn có 3 trạng-thái-chung

– Này chư tỳ-khưu! Các con nhận thức thế nào về điều này? Tưởng-uẩn này là thường hay vô-thường?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tưởng-uẩn này sinh rồi diệt là vô-thường.

– Này chư tỳ-khưu! Tưởng-uẩn nào là vô-thường. Vậy, tưởng-uẩn ấy là khổ hay lạc?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tưởng-uẩn nào sinh rồi diệt luôn luôn biến đổi, vô-thường, nên tưởng-uẩn ấy là khổ.

– Này chư tỳ-khưu! Tưởng-uẩn nào là vô-thường, khổ, có trạng-thái thường biến đổi. Vậy, các con có nên theo chấp-thủ với tâm tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến nơi tưởng-uẩn ấy rằng: “Tưởng-uẩn ấy là của ta (do tâm tham-ái), tưởng-uẩn ấy là ta (do tâm ngã-mạn), tưởng-uẩn ấy là tự ngã của ta (do tâm tà-kiến) hay không?”

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, quả thật không nên theo chấp-thủ tưởng-uẩn ấy như vậy. Bạch Ngài.

9- Hành-uẩn có 3 trạng-thái-chung

– Này chư tỳ-khưu! Các con nhận thức thế nào về điều này? Hành-uẩn này là thường hay vô-thường?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, hành-uẩn này sinh rồi diệt là vô-thường.

– Này chư tỳ-khưu! Hành-uẩn nào là vô-thường. Vậy, hành-uẩn ấy là khổ hay lạc?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, hành-uẩn nào sinh rồi diệt luôn luôn biến đổi, vô-thường, nên hành-uẩn ấy là khổ.

– Này chư tỳ-khưu! Hành-uẩn nào là vô-thường, khổ, có trạng-thái thường biến đổi. Vậy, các con có nên theo chấp-thủ với tâm tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến nơi hành-uẩn ấy rằng:

“Hành-uẩn ấy là của ta (do tâm tham-ái), hành-uẩn ấy là ta (do tâm ngã-mạn), hành-uẩn ấy là tự ngã của ta (do tâm tà-kiến) hay không?”

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, quả thật không nên theo chấp-thủ hành-uẩn ấy như vậy. Bạch Ngài.

10- Thức-uẩn có 3 trạng-thái-chung

– Này chư tỳ-khưu! Các con nhận thức thế nào về điều này? Thức-uẩn này là thường hay vô-thường?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, thức-uẩn này sinh rồi diệt là vô-thường.

– Này chư tỳ-khưu! Thức-uẩn nào là vô-thường. Vậy, thức-uẩn ấy là khổ hay lạc?

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, thức-uẩn nào sinh rồi diệt luôn luôn biến đổi, vô-thường, nên thức-uẩn ấy là khổ.

– Này chư tỳ-khưu! Thức-uẩn nào là vô-thường, khổ, có trạng-thái thường biến đổi. Vậy, các con có nên theo chấp-thủ với tâm tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến nơi thức-uẩn ấy rằng:

“Thức-uẩn ấy là của ta (do tâm tham-ái), thức-uẩn ấy là ta (do tâm ngã-mạn), thức-uẩn ấy là tự ngã của ta (do tâm tà-kiến) hay không?”

– Kính bạch Đức-Thế-Tôn, quả thật không nên theo chấp-thủ thức-uẩn ấy như vậy. Bạch Ngài.

Trí-tuệ-thiền-tuệ không chấp-thủ ngũ-uẩn

11-Trí-tuệ-thiền-tuệ không chấp-thủ nơi sắc-uẩn

– Này chư tỳ-khưu! Vì vậy, những sắc-uẩn nào đã sinh trong thời quá-khứ, sẽ sinh trong thời vị-lai, đang sinh trong thời hiện-tại, hoặc sắc-uẩn bên trong của mình, hoặc sắc-uẩn bên ngoài mình (của người khác), hoặc sắc-uẩn thô, hoặc sắc-uẩn vi-tế, hoặc sắc-uẩn thấp hèn, hoặc sắc-uẩn cao quý, hoặc sắc-uẩn nào sinh ở nơi xa, hoặc sắc-uẩn nào sinh ở nơi gần.

Vậy, các con nên biết bằng trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đúng theo thật-tánh của tất cả sắc-uẩn ấy rằng:

“Sắc-uẩn ấy không phải là của ta, sắc-uẩn ấy không phải là ta, sắc-uẩn ấy không phải là tự ngã của ta.”

12- Trí-tuệ-thiền-tuệ không chấp-thủ nơi thọ-uẩn

– Này chư tỳ-khưu! Vì vậy, những thọ-uẩn nào đã sinh trong thời quá-khứ, sẽ sinh trong thời vị-lai, đang sinh trong thời hiện-tại, hoặc thọ-uẩn bên trong của mình, hoặc thọ-uẩn bên ngoài mình (của người khác), hoặc thọ-uẩn thô, hoặc thọ-uẩn vi-tế, hoặc thọ-uẩn thấp hèn, hoặc thọ-uẩn cao quý, hoặc thọ-uẩn nào sinh ở nơi xa, hoặc thọ-uẩn nào sinh ở nơi gần.

Vậy, các con nên biết bằng trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đúng theo thật-tánh của tất cả thọ-uẩn ấy rằng:

“Thọ-uẩn ấy không phải là của ta, thọ-uẩn ấy không phải là ta, thọ-uẩn ấy không phải là tự ngã của ta.”

13- Trí-tuệ-thiền-tuệ không chấp-thủ nơi tưởng-uẩn

– Này chư tỳ-khưu! Vì vậy, những tưởng-uẩn nào đã sinh trong thời quá-khứ, sẽ sinh trong thời vị-lai, đang sinh trong thời hiện-tại, hoặc tưởng-uẩn bên trong của mình, hoặc tưởng-uẩn bên ngoài mình (của người khác), hoặc tưởng-uẩn thô, hoặc tưởng-uẩn vi-tế, hoặc tưởng- uẩn thấp hèn, hoặc tưởng-uẩn cao quý, hoặc tưởng-uẩn nào sinh ở nơi xa, hoặc tưởng-uẩn nào sinh ở nơi gần.

Vậy, các con nên biết bằng trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đúng theo thật-tánh của tất cả tưởng-uẩn ấy rằng:

“Tưởng-uẩn ấy không phải là của ta, tưởng-uẩn ấy không phải là ta, tưởng-uẩn ấy không phải là tự ngã của ta.”

14- Trí-tuệ-thiền-tuệ không chấp-thủ nơi hành-uẩn

– Này chư tỳ-khưu! Vì vậy, những hành-uẩn nào đã sinh trong thời quá-khứ, sẽ sinh trong thời vị-lai, đang sinh trong thời hiện-tại, hoặc hành-uẩn bên trong của mình, hoặc hành-uẩn bên ngoài mình (của người khác), hoặc hành-uẩn thô, hoặc hành-uẩn vi-tế, hoặc hành-uẩn thấp hèn, hoặc hành-uẩn cao quý, hoặc hành-uẩn nào sinh ở nơi xa, hoặc hành-uẩn nào sinh ở nơi gần.

Vậy, các con nên biết bằng trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đúng theo thật-tánh của tất cả hành-uẩn ấy rằng:

“Hành-uẩn ấy không phải là của ta, hành-uẩn ấy không phải là ta, hành-uẩn ấy không phải là tự ngã của ta.”

15- Trí-tuệ-thiền-tuệ không chấp-thủ nơi thức-uẩn.

– Này chư tỳ-khưu! Vì vậy, những thức-uẩn nào đã sinh trong thời quá-khứ, sẽ sinh trong thời vị-lai, đang sinh trong thời hiện-tại, hoặc thức-uẩn bên trong của mình, hoặc thức-uẩn bên ngoài mình (của người khác), hoặc thức-uẩn thô, hoặc thức-uẩn vi-tế, hoặc thức-uẩn thấp hèn, hoặc thức-uẩn cao quý, hoặc thức-uẩn nào sinh ở nơi xa, hoặc thức-uẩn nào sinh ở nơi gần.

Vậy, các con nên biết bằng trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đúng theo thật-tánh của tất cả thức-uẩn ấy rằng:

“Thức-uẩn ấy không phải là của ta, thức-uẩn ấy không phải là ta, thức-uẩn ấy không phải là tự ngã của ta.”

16- Trí-tuệ-thiền-tuệ nhàm chán trong ngũ-uẩn

– Này chư tỳ-khưu! Thật-tánh của ngũ-uẩn như vậy, bậc Thánh Thanh-văn có trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ ngũ-uẩn đúng theo thật-tánh, nên phát sinh trí-tuệ- thiền-tuệ nhàm chán trong sắc-uẩn, nhàm chán trong thọ-uẩn, nhàm chán trong tưởng-uẩn, nhàm chán trong hành-uẩn, nhàm chán trong thức-uẩn.

Khi trí-tuệ-thiền-tuệ nhàm chán trong ngũ-uẩn, nên tâm xả ly tham-ái, do tâm xả ly tham-ái, nên chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo giải thoát khỏi mọi tham-ái, mọi phiền-não. Trí-tuệ-quán-triệt biết rõ rằng:

“A-ra-hán Thánh-quả đã giải-thoát hoàn toàn mọi phiền-não trầm-luân. Không còn phải thực-hành pháp- hành bát-chánh-đạo nữa, mọi phận sự trong tứ Thánh- đế đã hoàn thành xong, phạm hạnh cao thượng đã hoàn thiện xong. Kiếp này là kiếp chót, không còn tái-sinh kiếp nào nữa.”

Nhóm 5 Tỳ-khưu trở thành bậc Thánh A-ra-hán

Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh trạng-thái vô- ngã này xong, nhóm 5 tỳ-khưu phát sinh đại-duy-tác-tâm vô cùng hoan hỷ với lời giáo huấn của Đức-Thế-Tôn.

Trong khi Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh này, nhóm 5 tỳ-khưu thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc đến A-ra- hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não trầm-luân, không còn chấp-thủ trong ngũ-uẩn này nữa (trở thành bậc Thánh A-ra-hán).

(Xong bài kinh Trạng-thái-vô-ngã)

Giải thích danh từ trong bài Kinh Trạng-Thái-Vô-Ngã

Ý nghĩa danh từ Anattā

Định nghĩa danh từ anattā :

Na attā anattā, natthi attā etassa khandha- pañcakassā’ti vā anattā.

Tất cả các pháp không phải ta, không phải của ta là pháp-vô-ngã; hay ngũ-uẩn ấy không phải ta, không phải của ta cũng là pháp-vô-ngã.

Ý nghĩa Anattā: Vô-ngã ở đây là phủ định attā: ngã, ngã-sở, ta và của ta.

Trong bộ Ṭīkā (2) giải thích danh từ Anattā: Vô-ngã có 4 ý nghĩa sau:

1- Avasavattanaṭṭha: Vô-ngã có nghĩa là không chiều theo ý muốn của một ai.

2- Asāmikaṭṭha: Vô-ngã có nghĩa là vô chủ, không có ai làm chủ.

3- Suññataṭṭha: Vô-ngã có nghĩa là không, không phải ta, không phải của ta.

4- Attapaṭikkhepaṭṭha: Vô-ngã có nghĩa là phủ nhận cái ngã, cái ta, cái đại ngã.

Trong bài kinh Anattalakkhaṇasutta: Kinh trạng-thái- vô-ngã, danh từ Anattā và attā có ý nghĩa hoàn toàn ngược lại nhau.

Anattā : Vô-ngã: Ngũ-uẩn này là vô-ngã, không chiều theo ý muốn của ai.

Attā : Ngã: Ta muốn ngũ-uẩn được như thế này, không muốn ngũ-uẩn như thế kia v.v… chiều theo ý muốn của ta, nhưng thật-tánh của ngũ-uẩn này là vô- ngã, nên không chiều theo ý muốn của ai.

Attā nghĩa là ta, ngã.

– Do tà-kiến theo chấp sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn cho là ta (ngã), tự ngã.

– Do ngã-mạn chấp là ta.

– Do tham-ái chấp của ta.

Tuy nhiên, attā còn có ý nghĩa khác.

Ý nghĩa danh từ Attā

* Theo trong bộ tự điển Pāḷi Abhidhānappadīpikā : Tự điển từ ngữ Pāḷi câu kệ 861 danh từ attā có ý nghĩa rằng:

“Citte kāye sabhāve ca, so attā paramattani.”

“Danh từ attā có 4 ý nghĩa là tâm, thân, thật-tánh- pháp và ngã tối-thượng (đại-ngã).”

Giải thích:

1- Attā có ý nghĩa là citta : tâm.

Ví dụ:

* Attasammāpaṇidhi: Đặt để tâm đúng trong thiện- pháp, tâm mong muốn chân-chính.

* Attamicchāpaṇidhi: Đặt để tâm sai lầm trong ác- pháp, tâm mong muốn sai lầm.

* “Sabbe sattā bhavantu sukhitattā.”(3) Cầu mong tất cả chúng-sinh tâm thường được an-lạc.

*“Attā hi kira duddamo.”(4) Thật vậy, dạy được tâm mình là khó lắm! “Attānaṃ damayanti paṇḍitā. (3)”

“Chư bậc thiện-trí rèn luyện, dạy tâm”… Attā ở đây có ý nghĩa là tâm.

2- Attā có ý nghĩa là kāya: thân thể.

Ví dụ: Đức-Phật ban hành những giới của tỳ-khưu-ni, trong đó có giới như:

*“Yā pana bhikkhunī attānaṃ vadhitvā vadhitvā rodheyya pācittiyaṃ.”(5)

“Tỳ-khưu-ni nào tự đấm vào thân của mình rồi khóc, tỳ-khưu-ni ấy phạm āpatti pācittiya (ứng-đối-trị).”

*“Attā hi attano natthi, kuto puttā kuto dhanaṃ?”(6)

“Chính thân này, còn không phải của ta. Con của ta, của cải của ta từ đâu có được?…”

Attā ở đây có ý nghĩa là thân thể.

3- Attā có ý nghĩa là sabhāva: thật-tánh-pháp.

Ví dụ:

*“Attā hi attano nātho, ko hi nātho paro siyā.”(7)

“Chính thiện-pháp là nơi nương nhờ chân-chính của ta, ngoài thiện-pháp ra, có ai là nơi nương nhờ của ta?

*“Attadīpā bhikkhave! viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anañña- saraṇā.”(8)

“Này chư tỳ-khưu! Các con sống, chính thiện-pháp là hòn đảo, chính thiện-pháp là nơi nương nhờ, không nên nương nhờ nơi nào khác; chánh-pháp là hòn đảo, chánh-pháp là nơi nương nhờ, không nên nương nhờ nơi nào khác …”

Attā : Ta ở đây có nghĩa là thật-tánh-pháp đó là tam-giới thiện-pháp, siêu-tam-giới thiện-pháp, là nơi nương nhờ chân-chính của ta.

4- Attā có ý nghĩa là parama attā: ngã tối-thượng, đại-ngã , theo tà-kiến của ngoại đạo.

Nhóm ngoại đạo có tà-kiến cho rằng:

“Tất cả vạn vật, vũ trụ này do parama attā tạo ra, gọi là ngã tối thượng, Đấng tạo-hóa.”

Parama attā: Ngã tối-thượng, đại-ngã theo tà-kiến của nhóm ngoại đạo này, trái nghĩa với anattā: vô-ngã trong giáo-pháp của Đức-Phật.

Như vậy, trong 4 ý nghĩa của attā, có 3 ý nghĩa là tâm, thân, thật-tánh-pháp thuộc về chánh-kiến. Còn Parama attā: Ngã tối-thượng, Đại-ngã theo quan niệm của nhóm ngoại đạo thuộc về tà-kiến.

Attādiṭṭhi : Tà-kiến chấp ngã, hoặc Attānudiṭṭhi: Tà- kiến theo chấp ngã là tà-kiến thấy sai, hiểu lầm, chấp lầm từ sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn cho là ta, hoặc tà-kiến thấy sai, chấp lầm từ sắc-pháp cho là ta là ngã, hoặc từ danh-pháp cho là ta là ngã, cũng ở trong ý nghĩa tà-kiến này.

Ngoài parama attā thuộc về tà-kiến ra, còn attā có 3 ý nghĩa khác thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramattha- dhamma) là pháp có thật-tánh rõ ràng, có chi-pháp riêng biệt thuộc về chánh-kiến.

Trong bộ tự điển Pāḷi Abhidhānappadīpikā : Tự điển từ ngữ Pāḷi chương 3: Sāmaññakaṇda, phần 9: Anekatthavagga:

* Một chữ Pāḷi có nhiều nghĩa.

Ví dụ: Câu kệ thứ 861: Attā có 4 ý nghĩa, câu kệ 784: dhamma có 14 ý nghĩa, v.v…

Chương 1: Saggakaṇda:

Một ý nghĩa có nhiều chữ Pāḷi.

Ví dụ: Câu kệ thứ nhất đến thứ 5: Ý nghĩa Đức-Phật có 32 danh từ Pāḷi đều có nghĩa là Đức-Phật.

Câu kệ thứ 6 đến thứ 9: Ý nghĩa Niết-bàn có 46 danh từ Pāḷi đều có nghĩa là Niết-bàn, v.v…

Cho nên, các hàng thanh-văn đệ-tử học Phật-ngôn Pāḷi (Buddhavacanapāḷi), học Tam-tạng Pāḷi (tipiṭaka- pāḷi) và Chú-giải Pāḷi (aṭṭhakathāpāḷi), cần phải học quyển tự điển Pāḷi“Abhidhānappadīpikā” gồm có 1.203 câu kệ, để tránh khỏi nhầm lẫn chữ Pāḷi với ý nghĩa, và ý nghĩa với chữ Pāḷi, bởi vì một chữ Pāḷi có nhiều ý nghĩa, một ý nghĩa có nhiều chữ Pāḷi.

Attadiṭṭhi có nghĩa là tà-kiến thấy sai, chấp lầm trong ngũ-uẩn: sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn bên trong của mình cho là ta, là ngã và tà-kiến thấy sai, chấp lầm ngũ-uẩn bên ngoài mình (của người khác, vật khác) cho là chúng-sinh, là người, là đàn ông, đàn bà, con voi, con ngựa, v.v… Đó là tà-kiến chấp-ngã (attadiṭṭhi) hoặc tà-kiến theo chấp-ngã (attānudiṭṭhi) thông thường đối với các hạng phàm-nhân.

Chúng-sinh trong tam-giới

Tất cả chúng-sinh trong tam-giới có ba loại:

1- Chúng-sinh có ngũ-uẩn (sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng- uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn) trong 11 cõi dục-giới, 15 cõi sắc-giới phạm-thiên (trừ cõi sắc-giới Vô-tưởng-thiên).

2- Chúng-sinh có tứ-uẩn (thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành- uẩn và thức-uẩn) trong 4 cõi vô-sắc-giới phạm-thiên.

3- Chúng-sinh có nhất-uẩn (sắc-uẩn) trong cõi sắc- giới Vô-tưởng-thiên.

Ngũ-uẩn (Pañcakkhandha)

Uẩn (khandha) có nghĩa là “phần, nhóm” gồm những phần có trạng-thái tương tự nhau, liên kết vào một phần, một nhóm.

Ví dụ: Con người có ngũ-uẩn.

1- Sắc-uẩn đó là 28 sắc-pháp thuộc về phần thân.

2- Thọ-uẩn đó là thọ tâm-sở.

3- Tưởng-uẩn đó là tưởng tâm-sở.

4- Hành-uẩn đó là 50 tâm-sở nói chung (trừ thọ tâm- sở và tưởng tâm-sở).

5- Thức-uẩn đó là 89 hay 121 tâm nói chung.

Mỗi tâm là 1 thức-uẩn.

Thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn gồm 4 danh- uẩn này thuộc về phần tâm.

Phần Giải Thích

1- Sắc-uẩn (Rūpakkhandha) gồm có 28 sắc-pháp, chia thành hai loại:

* Mahābhūtarūpa: Sắc-tứ-đại có 4 sắc-pháp lớn là:

1- Địa-đại (Pathavī): Chất đất có trạng-thái cứng hoặc mềm.

2- Thủy-đại (Āpo): Chất nước có trạng-thái lỏng hoặc đông đặc.

3- Hỏa-đại (Tejo): Chất lửa có trạng-thái nóng hoặc lạnh.

4- Phong-đại (Vāyo): Chất gió có trạng-thái lưu động, phồng hoặc xẹp.

* Upādāyarūpa : Sắc-pháp phụ thuộc gồm có 24 sắc- pháp, luôn luôn phụ thuộc vào 4 sắc tứ-đại:

– 5 tịnh-sắc (pasādarūpa): nhãn tịnh-sắc, nhĩ tịnh-sắc, tỷ tịnh-sắc, thiệt tịnh-sắc, thân tịnh-sắc.

– 7 hoặc 4 sắc đối-tượng (visayarūpa): đối-tượng sắc, đối-tượng thanh, đối-tượng hương, đối-tượng vị, đối- tượng xúc (9).

– 2 sắc tính (bhāvarūpa): sắc nam-tính, sắc nữ-tính.

– 1 hadayarūpa: sắc-pháp là nơi sinh của ý-thức-tâm.

– 1 sắc-mạng-chủ (jīvitarūpa).

– 1 sắc-vật-thực (āhārarūpa).

– 1 sắc-chân-không (paricchedarūpa).

– 2 sắc-cử-động (viññattirūpa): sắc thân cử động, sắc khẩu cử động.

– 3 sắc-chuyển-biến (vikārarūpa): sắc nhẹ nhàng, sắc mềm mại, sắc uyển chuyển.

– 4 sắc-trạng-thái (lakkhaṇarūpa): sắc sinh, sắc liên tục, sắc già dặn, sắc vô-thường.

Đó là 28 sắc-pháp bên trong thân, thuộc về sắc-uẩn .

Một người bình thường, không bị khuyết tật, thân thể có đầy đủ 27 sắc-pháp.

* Nếu là người nam thì trừ sắc nữ-tính.

* Nếu là người nữ thì trừ sắc nam-tính.

* Nếu người bị đui mù, câm điếc, thì người ấy có số lượng sắc-pháp giảm xuống theo bệnh tật.

2- Thọ-uẩn (Vedanakkhandha) đó là thọ tâm-sở có trạng-thái cảm thọ trong đối-tượng.

* Thọ tâm-sở có ba loại thọ theo đối-tượng.

– Thọ khổ (dukkhavedanā) có trạng-thái khổ khó chịu.

– Thọ lạc (sukhavedanā) có trạng-thái lạc dễ chịu.

– Thọ xả (upekkhāvedanā) có trạng-thái không khổ, không lạc.

* Thọ tâm-sở có 5 loại theo thân, tâm làm chủ:

– Thọ khổ (dukkhavedanā) đồng sinh với thân-thức- tâm (khổ thân).

– Thọ lạc (sukhavedanā) đồng sinh với thân-thức-tâm (thân an-lạc).

– Thọ hỷ (somanassavedanā) đồng sinh với ý-thức- tâm (tâm an-lạc).

– Thọ ưu (domanassavedanā) đồng sinh với sân-tâm (khổ tâm).

– Thọ xả (upekkhāvedanā) đồng sinh với ý-thức-tâm (tâm không khổ, không lạc).

Mỗi thọ tâm-sở đồng sinh với tâm ấy thuộc về thọ-uẩn

3- Tưởng-uẩn (saññakkhandha) đó là tưởng tâm-sở có trạng-thái tưởng nhớ trong 6 đối-tượng.

– Sắc tưởng (rūpasaññā) tưởng nhớ các đối-tượng sắc.

– Thanh tưởng (saddasaññā) tưởng nhớ các đối-tượng âm thanh.

– Hương tưởng (gandhasaññā) tưởng nhớ các đối- tượng hương.

– Vị tưởng (rasasaññā) ghi nhớ các đối-tượng vị.

– Xúc tưởng (phoṭṭhabbasaññā) tưởng nhớ các đối- tượng xúc.

– Pháp tưởng (dhammasaññā) tưởng nhớ các đối- tượng pháp.

Mỗi tưởng tâm-sở đồng sinh với tâm ấy thuộc về tưởng-uẩn.

4- Hành-uẩn (saṅkhārakkhandha) đó là 50 tâm-sở (trừ thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở) có trạng-thái cấu tạo, tạo tác các pháp.

* Tác-ý tâm-sở (cetanācetasika) đồng sinh với bất- thiện-tâm tạo nên bất-thiện-nghiệp (ác-nghiệp) do thân, khẩu, ý.

* Tác-ý tâm-sở (cetanācetasika) đồng sinh với thiện- tâm tạo nên thiện-nghiệp, do thân, khẩu, ý.

Số tâm-sở ấy đồng sinh với tâm ít hoặc nhiều tuỳ theo năng lực của mỗi tâm.

Ngoại trừ thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở ra, các tâm-sở còn lại thuộc về hành-uẩn.

5- Thức-uẩn (viññāṇakkhandha) gồm có 89 hoặc 121 tâm có trạng-thái biết đối-tượng.

Đối-tượng có 6 loại, nên tâm chia ra làm 6 loại tâm:

– Nhãn-thức-tâm (cakkhuviññāṇa) có 2 tâm làm phận sự nhìn thấy các đối-tượng sắc.

– Nhĩ-thức-tâm (sotaviññāṇa) có 2 tâm làm phận sự nghe các đối-tượng âm thanh.

– Tỷ-thức-tâm (ghānaviññāṇa) có 2 tâm làm phận sự ngửi các đối-tượng hương.

– Thiệt-thức-tâm (jivhāviññāṇa) có 2 tâm làm phận sự nếm các đối-tượng vị.

– Thân-thức-tâm (kāyaviññāṇa) có 2 tâm làm phận sự xúc giác các đối-tượng xúc.

– Ý-thức-tâm (manoviññāṇa) có 79 tâm có nhiều phận sự như biết các đối-tượng pháp: tâm, tâm-sở, sắc-pháp, các ngôn ngữ chế định, các môn học, … và cả đối-tượng Niết-bàn tùy theo năng lực của mỗi tâm.

Mỗi tâm thuộc về mỗi thức-uẩn.

Thật ra, mỗi tâm phát sinh đều có một số tâm-sở đồng sinh ít hoặc nhiều tùy theo năng lực và phận sự của tâm ấy.

Các tâm-sở này đồng sinh với tâm, đồng diệt với tâm, đồng đối-tượng với tâm, đồng nơi phát sinh với tâm. Cho nên, khi mỗi tâm sinh rồi diệt nghĩa là 4 danh-uẩn đồng sinh, rồi 4 danh-uẩn đồng diệt.

Chúng-sinh có ngũ-uẩn, khi 6 loại tâm phát sinh do nương nhờ nơi 6 nơi sinh (vatthurūpa) như sau:

– Nhãn-thức-tâm có 2 tâm phát sinh do nương nhờ nhãn-tịnh-sắc (cakkhuvatthu).

– Nhĩ-thức-tâm có 2 tâm phát sinh do nương nhờ nhĩ- tịnh-sắc (sotavatthu).

– Tỷ-thức-tâm có 2 tâm phát sinh do nương nhờ tỷ- tịnh-sắc (ghāṇavatthu).

– Thiệt-thức-tâm có 2 tâm phát sinh do nương nhờ thiệt-tịnh-sắc (jivhāvatthu).

– Thân-thức-tâm có 2 tâm phát sinh do nương nhờ thân-tịnh-sắc (kāyavatthu).

– Ý-thức-tâm gồm có 75 tâm (trừ 4 vô-sắc-giới quả- tâm không nương nhờ vatthurūpa) phát sinh do nương nhờ hadayavatthurūpa.

Như vậy, mỗi tâm phát sinh có đủ ngũ-uẩn phát sinh.

– Vatthurūpa là nơi nương nhờ của tâm phát sinh thuộc về sắc-uẩn.

– Tâm ấy thuộc về thức-uẩn.

– Thọ tâm-sở đồng sinh với tâm ấy thuộc về thọ-uẩn.

– Tưởng tâm-sở đồng sinh với tâm ấy thuộc về tưởng-uẩn.

– Tâm-sở còn lại (trừ thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở) đồng sinh với tâm ấy thuộc về hành-uẩn.

Mỗi tâm có 4 danh-uẩn (thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành- uẩn, thức-uẩn) vốn dĩ có trạng-thái sinh rồi diệt, diệt rồi sinh liên tục trong mỗi lộ-trình-tâm do hội đủ nhân- duyên hỗ trợ, từ vô thủy trải qua vô số kiếp, từ kiếp này sang kiếp kia cho đến kiếp hiện-tại.

Thân là sắc-uẩn vốn dĩ cũng có trạng-thái sinh rồi diệt, diệt rồi sinh liên tục, nhưng bị hạn chế trong mỗi kiếp chúng-sinh, do quả của nghiệp ấy và tuổi thọ của mỗi chúng-sinh.

Mỗi chúng-sinh đang sống hiện hữu thì tâm và thân nương nhờ lẫn nhau, khi tâm rời khỏi thân đồng thời sắc-mạng-chủ (rūpajīvitindriya) trong thân bị cắt đứt, chấm dứt một kiếp gọi làchết , thân trở thành tử thi.

Ngoại trừ bậc Thánh A-ra-hán ra, còn lại tất cả mọi chúng-sinh nói chung, mỗi người nói riêng sau khi chết, nghiệp của người ấy cho quả tái-sinh kiếp sau.

Tái-sinh-tâm là quả-tâm có 4 danh-uẩn (thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đồng sinh với hadayavatthurūpa: sắc-pháp là nơi sinh của ý-thức-tâm gọi là sắc-uẩn như vậy đủ ngũ- uẩn đầu tiên kiếp hiện-tại, đối với chúng-sinh trong cõi có ngũ-uẩn.

Như vậy, trong vòng tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài của mỗi chúng-sinh chỉ có liên quan về phần tâm có phận sự lưu trữ, tích lũy tất cả mọi thiện-nghiệp và mọi ác-nghiệp sinh rồi diệt liên tục từ kiếp này sang kiếp kia mà thôi, còn phần thân là quả của nghiệp bị cắt đứt, chấm dứt mỗi kiếp, hoàn toàn không liên quan đến kiếp nào cả.

Đức-Phật dạy ngũ-uẩn này là pháp-vô-ngã với ý nghĩa:

“Anattā asārakaṭṭhena: Pháp-vô-ngã với ý nghĩa là vô dụng, không có cốt lõi vững chắc, không có tính chất bền vững lâu dài.”

“Avasavattanaṭṭhena anattā: Pháp-vô-ngã (anattā) với ý nghĩa không chiều theo ý muốn của ai…”

Những ví dụ về ngũ-uẩn

Trong kinh Pheṇapiṇḍūpamasutta(10) Đức-Phật thuyết dạy những ví dụ về mỗi uẩn có ý nghĩa, được tóm lược như sau:

1- Sắc-uẩn ví như bọt nước (pheṇapiṇḍūpamarūpaṃ)

Sắc-uẩn (thân) đó là 28 sắc-pháp ví như là bọt nước.

Trong mùa mưa lụt lớn, trên dòng sông nước chảy kết tụ những bọt nước thành đống bọt nước nhỏ lớn. Đống bọt nước này dù nhỏ, dù lớn cũng không thể sử dụng làm vật gì để đem lại sự lợi ích lâu dài.

Nếu đống bọt nước này trôi đi chưa bị tan rã giữa đường, thì khi trôi ra đến biển chắc chắn phải bị tan rã, trở nên vô dụng.

Cũng như vậy, sắc-uẩn (thân) này đó là 28 sắc-pháp sinh rồi diệt có trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, trạng-thái bất-tịnh, thường có mọi thứ bệnh hoạn ốm đau. Sắc-uẩn (thân) này khi tái-sinh đầu thai ban đầu nhỏ xíu, theo thời gian, to lớn dần như thân hình của con voi, con cá mập, … rồi cuối cùng cũng bị tan rã, trở thành vô dụng.

Cho nên, Đức-Phật ví sắc-uẩn (thân) này như bọt nước.

2- Thọ-uẩn ví như bong bóng nước (vedanāpubbuḷūpaṃ)

Thọ-uẩn , đó là thọ tâm-sở ví như bong bóng nước. Trời mưa lớn, mưa nặng hạt rơi xuống hồ, vũng nước, nổi lên những bong bóng nước. Những bong bóng nước này nổi lên liền vỡ ngay, không thể sử dụng đem lại sự lợi ích, trở thành vô dụng.

Cũng như vậy, thọ-uẩn này đó là thọ khổ, thọ lạc, thọ xả, … sinh rồi diệt mau lẹ, không tồn tại lâu dài, chỉ có khổ mà thôi, trở thành vô dụng.

Cho nên, Đức-Phật ví thọ-uẩn này như bong bóng nước.

3- Tưởng-uẩn ví như ảo ảnh (maricikūpamā saññā)

Tưởng-uẩn , đó là tưởng tâm-sở ví như ảo ảnh. Trong mùa hè nóng bức, khách lữ hành nóng nực và khát nước đi trên đường, nhìn về phía trước trời nắng chập chờn gợn sóng giống như đằng trước có nước sông.

Khi đi đến, gợn sóng kia di chuyển đến phía trước, luôn luôn có một khoảng cách. Đó là ảo ảnh không có thật chỉ là vô dụng.

Cũng như vậy, tưởng-uẩn này tưởng nhớ, ghi nhớ những đối-tượng không còn thật nữa. Ví như khi khát nước, tưởng nhớ đến nước, nhưng không giúp làm cho đỡ cơn khát được, trở thành vô dụng.

Cho nên, Đức-Phật ví tưởng-uẩn này như ảo ảnh.

4- Hành-uẩn ví như cây chuối (saṅkhārā kadalūpamā)

Hành-uẩn, đó là 50 tâm-sở (trừ thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở) ví như cây chuối.

Một người cần cây có lõi, đi vào rừng nhìn thấy cây chuối lớn trơn tru, người ấy chặt cây chuối đem về nhà. Khi bóc bẹ chuối từ ngoài vào trong ruột, không tìm thấy lõi cây, chỉ là vô dụng mà thôi.

Cũng như vậy, hành-uẩn này tạo tác các pháp-hữu-vi, mà các pháp-hữu-vi, sắc-pháp, danh-pháp sinh rồi diệt, có trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, không phải ta, không phải của ta, chỉ là vô dụng mà thôi.

Cho nên, Đức-Phật ví hành-uẩn này như cây chuối.

5- Thức-uẩn ví như ảo thuật (mayūpamaṃ viññāṇaṃ)

Thức-uẩn , đó là 89 hoặc 121 tâm, ví như trò ảo thuật.

Các nhà ảo thuật biểu diễn các trò ảo thuật rất nhanh tay, để đánh lừa khán giả một cách tinh xảo.

Cũng như vậy, đối với hàng phàm-nhân, thức-uẩn biết mọi đối-tượng cho là ta biết, nhưng biết sai lầm điên đảo.

Các pháp-hữu-vi là vô-thường, biết là thường; các pháp-hữu-vi là khổ, biết là lạc; các pháp-hữu-vi là vô- ngã, biết là ngã (ta); các pháp-hữu-vi là bất tịnh, biết là tịnh, xinh đẹp,…

Nhưng thật ra, các pháp-hữu-vi là vô-thường, khổ, vô- ngã, bất-tịnh. Thế mà thức-uẩn của các hàng phàm-nhân biết ngược lại rằng: “Các pháp-hữu-vi là thường, lạc, ngã, tịnh.”

Cho nên, Đức-Phật ví thức-uẩn này như trò ảo thuật.

Pháp-Vô-Ngã (Anattā)

Pháp-vô-ngã không chỉ là ngũ-uẩn, mà còn các pháp- hữu-vi và pháp-vô-vi cũng đều là pháp-vô-ngã nữa.

Đức-Phật dạy: “Sabbe dhammā anattā: Tất cả các pháp-hữu-vi, pháp-vô-vi đều là pháp-vô-ngã.”

Pháp-hữu-vi (saṅkhatadhamma) đó là ngũ-uẩn, 12 xứ, 18 tự-tánh (dhātu), … sắc-pháp, danh-pháp trong tam-giới là pháp bị cấu tạo do bởi 4 nhân-duyên: nghiệp, (kamma), tâm (citta), thời-tiết (utu), vật-thực (āhāra), nên gọi là pháp-hữu-vi đều là pháp-vô-ngã.

Pháp-vô-vi (asaṅkhatadhamma) đó là Niết-bàn, là pháp không bị cấu tạo do bởi 4 nhân duyên: nghiệp, tâm, thời-tiết, vật-thực, và các chế-định-pháp (paññatti- dhamma) cũng là pháp-vô-ngã, bởi vì các pháp này không có ai là chủ, không chiều theo ý muốn của ai.

Như Đức-Phật dạy trong Tạng-Luật, bộ Parivārapāḷi:

“Aniccā sabbe saṅkhārā,

dukkhānattā ca saṅkhatā.

Nibbānañceva paññatti,

anattā iti vinicchayā.”(11)

Tất cả các pháp-hữu-vi,

Là sắc-pháp và danh-pháp,

đều có đủ ba trạng-thái,

vô-thường, khổ, vô-ngã.

Niết-bàn và chế-định-pháp,

cũng thuộc về pháp-vô-ngã.

Pháp-Vô-Ngã là những pháp nào?

Sắc-uẩn là pháp-vô-ngã, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành- uẩn, thức-uẩn đều là pháp-vô-ngã, hay tất cả mọi sắc- pháp, mọi danh-pháp là pháp-vô-ngã, bởi vì các pháp này không chiều theo ý muốn của ai, không có ai là chủ, không phải là ta và không phải của ta. Cho nên, các pháp ấy đều là pháp-vô-ngã.

Sự thật, pháp-vô-ngã chỉ có trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama mà thôi. Ngoài Phật-giáo ra, không ai biết về pháp-vô-ngã.

Cái ta, cái ngã có thật hay không?

Đức-Phật dạy: Tất cả các pháp-hữu-vi, pháp-vô-vi đều là pháp-vô-ngã.

Như vậy, sự thật cái ta, cái ngã không có thật.

Vậy, do đâu mà có cái ta, cái ngã ?

Cái ta, cái ngã vốn không có thật. Sở dĩ có cái ta, cái ngã là vì tà-kiến (diṭṭhi) thấy sai, chấp lầm từ sắc-pháp cho là ta, từ danh-pháp cho là ta.

Thật ra, đúng theo thật-tánh của chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) thì chỉ có 4 pháp là tâm, tâm-sở, sắc-pháp, Niết-bàn mà thôi.

Sắc-pháp đó là 28 sắc-pháp, danh-pháp đó là 89 hoặc 121 tâm và 52 tâm-sở, Niết-bàn cũng thuộc về danh-pháp, nhưng do tà-kiến (diṭṭhi) thấy sai, chấp lầm nơi sắc-pháp cho là ta, nơi danh-pháp cho là ta như sau:

Tà-kiến đó là tà-kiến tâm-sở (diṭṭhicetasika) đồng sinh với 4 tham-tâm hợp với tà-kiến thấy sai chấp lầm trong đối-tượng sắc-pháp, danh-pháp cho là ta, là ngã.

Tà-kiến thấy sai, chấp làm nơi sắc-pháp

– Khi thân đi hay sắc đi, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi thân đi hay sắc đi ấy cho là ta đi.

– Khi thân đứng hay sắc đứng, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi thân đứng hay sắc đứng ấy cho là ta đứng.

– Khi thân ngồi hay sắc ngồi, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi thân ngồi hay sắc ngồi ấy cho là ta ngồi.

– Khi thân nằm hay sắc nằm, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi thân nằm hay sắc nằm ấy cho là ta nằm.

– Hoặc khi thân cử động, các oai nghi phụ hay sắc cử động, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi thân cử động ấy hay sắc cử động ấy cho là ta cử động, v.v…

Tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi danh-pháp

– Khi nhãn-thức-tâm nhìn thấy đối-tượng sắc, hình dáng, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi nhãn-thức- tâm thấy cho là ta thấy.

– Khi nhĩ-thức-tâm nghe các đối-tượng âm thanh, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi nhĩ-thức-tâm nghe ấy cho là ta nghe.

– Khi tỷ-thức-tâm ngửi các đối-tượng hương, thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi tỷ-thức-tâm ngửi ấy cho là ta ngửi.

– Khi thiệt-thức-tâm nếm các đối-tượng vị, thì tâm tà- kiến thấy sai, chấp lầm nơi thiệt-thức-tâm nếm ấy cho là ta nếm.

– Khi thân-thức-tâm xúc giác cứng mềm, nóng lạnh… thì tâm tà-kiến thấy sai, chấp lầm nơi thân-thức-tâm xúc- giác ấy cho là ta xúc-giác.

– Khi ý-thức-tâm biết các đối-tượng pháp, thì tâm tà- kiến thấy sai, chấp lầm nơi ý-thức-tâm biết, tâm suy nghĩ ấy cho là ta biết, ta suy nghĩ, v.v… N

hư vậy, cái ta, cái ngã không có thật, mà chỉ có tâm tà-kiến là có thật mà thôi.

Cho nên, không có pháp-hành diệt ngã, mà chỉ có pháp-hành diệt tâm tà-kiến chấp ngã mà thôi.

Pháp-hành diệt tâm tà-kiến chấp ngã như thế nào?

Hành-giả phàm-nhân là hạng người tam-nhân thực- hành pháp-hành thiền-tuệ, có khả năng dẫn đến trí-tuệ- thiền-tuệ phát sinh theo tuần tự trải qua 16 trí-tuệ-thiền- tuệ từ trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới cho đến trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới.

Bắt đầu từ trí-tuệ thứ nhất gọi là nāmarūpa- paricchedañāṇa: trí-tuệ phân-tích thấy rõ, biết rõ thật- tánh của mỗi sắc-pháp, mỗi danh-pháp hiện-tại ấy là pháp-vô-ngã (anattā) đúng theo chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma), cho đến trí-tuệ-thiền-tuệ siêu- tam-giới thứ 14 gọi là Sotāpattimaggañāṇa: Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới, nên diệt tận được hai loại phiền-não là tà-kiến chấp-ngã trong ngũ-uẩn (sakkāyadiṭṭhi) và hoài-nghi (vicikicchā) không còn dư sót, liền tiếp theo trí-tuệ-thiền-tuệ siêu- tam-giới thứ 15 gọi là Sotāpattiphalañāṇa: Nhập-lưu Thánh-quả-tuệ trong cùng Nhập-lưu Thánh-đạo lộ- trình-tâm, trở thành bậcThánh Nhập-lưu .

Và tiếp theo trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 16 cuối cùng gọi là paccavekkhaṇañāṇa: trí-tuệ quán-triệt Nhập-lưu Thánh- đạo, Nhập-lưu Thánh-quả đã chứng đắc, Niết-bàn đã chứng ngộ; trí-tuệ quán-triệt phiền-não nào đã diệt tận được và phiền-não nào còn lại chưa diệt tận được.

Bậc Thánh Nhập-lưu vĩnh viễn không còn tà-kiến theo chấp ngãtrong ngũ-uẩn, trong kiếp hiện-tại, cho đến kiếp vị-lai nhiều nhất 7 kiếp nữa.

Đến kiếp thứ 7, bậc Thánh Nhập-lưu chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.

Chấp ngã có ba loại

1- Tà-kiến theo chấp ngã.

2- Tham-ái theo chấp ngã.

3- Ngã-mạn theo chấp ngã.

1- Tà-kiến theo chấp ngã là tà-kiến theo chấp ngã nơi sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn, hay chấp ngã nơi sắc-pháp, nơi danh-pháp cho là tự ngã của ta do năng lực của tà-kiến (eso me attā).

Bậc Thánh Nhập-lưu đã diệt tận được tà-kiến theo chấp ngã này vĩnh viễn không còn nữa, nhưng chỉ còn tham-ái theo chấp ngã và ngã-mạn theo chấp ngã mà thôi.

2- Tham-ái theo chấp ngã là tham-ái theo chấp ngã nơi sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn, hay sắc-pháp, danh-pháp cho là của ta do năng lực của tham-ái (etaṃ mama).

Bậc Thánh Nhất-lai đã diệt tận được tham-ái theo chấp ngã phần thô trong cõi dục-giới, còn phần vi-tế thì chưa diệt được.

Bậc Thánh Bất-lai đã diệt tận được tham-ái theo chấp ngã phần vi-tế trong cõi dục-giới, còn tham-ái phần vi-tế trong 5 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô- sắc-giới trong cõi trời sắc-giới phạm-thiên, cõi trời vô- sắc-giới phạm-thiên thì chưa diệt được.

3- Ngã-mạn theo chấp ngã là ngã-mạn theo chấp ngã nơi sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn, hay sắc-pháp, danh-pháp cho là ta do năng lực của ngã- mạn (eso hamasmi).

Bậc Thánh A-ra-hán đã diệt tận được tham-ái theo chấp ngã phần vi-tế trong cõi trời sắc-giới và ngã-mạn theo chấp ngã này không còn dư sót nữa.

Cho nên, bậc Thánh A-ra-hán ngay kiếp hiện-tại sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

Chấp ngã – Không chấp ngã

Tất cả chúng-sinh nói chung, con người nói riêng, hễ còn là phàm-nhân, chưa phải Thánh-nhân thì vẫn còn chấp ngã do các phiền-não, nhất là tà-kiến, tham-ái, ngã-mạn.

* Hạng thiểu-trí phàm-nhân (andhaputhujjana) trong đời không đến gần gũi, thân cận với bậc thiện-trí trong Phật-giáo, không lắng nghe chánh-pháp, không thực- hành pháp-hành thiền-tuệ, không hiểu biết thật-tánh của ngũ-uẩn sắc-pháp, danh-pháp, nên tà-kiến, tham-ái, ngã-mạn theo chấp ngã nơi ngũ-uẩn rằng:

Tà-kiến theo chấp ngã trong ngũ-uẩn ấy cho là tự ngã của ta (eso me attā).

Tham-ái theo chấp ngã trong ngũ-uẩn ấy cho là của ta (etaṃ mama).

Ngã-mạn theo chấp ngã trong ngũ-uẩn ấy cho là ta (eso hamasmi).

Hạng thiểu trí phàm-nhân ấy tự làm khổ mình, làm khổ người, tự làm khổ mình lẫn làm khổ người trong kiếp hiện-tại lẫn vô số kiếp vị-lai.

* Hạng thiện-trí phàm-nhân (kalyāṇaputhujjana) trong đời thường đến gần gũi thân cận với bậc thiện-trí trong Phật-giáo, thường lắng nghe chánh-pháp, thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến phát sinh trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của sắc-pháp, danh-pháp; trí- tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc- pháp, danh-pháp, thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái-chung : trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được mọi phiền-não, mọi tham-ái không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, nên không còn tà-kiến, tham-ái, ngã- mạn theo chấp ngã nơi ngũ-uẩn nữa.

* Không còn tà-kiến theo chấp ngã trong ngũ-uẩn ấy cho là tự ngã của ta (na meso attā).

* Không còn tham-ái theo chấp ngã trong ngũ-uẩn ấy cho là của ta (netaṃ mama).

* Không còn ngã-mạn theo chấp ngã trong ngũ-uẩn ấy cho là ta (neso hamasmi).

Cho nên, bậc Thánh A-ra-hán không còn tự làm khổ mình, không làm khổ người, không tự làm khổ mình lẫn người trong kiếp hiện-tại.

Thật ra, tà-kiến theo chấp ngã, tham-ái theo chấp ngã, ngã-mạntheo chấp ngã này chỉ làm trở ngại cho hành- giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ không thể dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, không thể chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn mà thôi.

Tà-kiến theo chấp ngã, tham-ái theo chấp ngã, ngã- mạn theo chấp ngã này không làm trở ngại cho bậc thiện- trí phàm-nhân tạo 10 loại phước-thiện (puññakriyā- vatthu), tạo 10 đại-thiện-nghiệp như sau:

Phước-thiện có 10 pháp:

1- Phước-thiện bố-thí (dānakusala).

2- Phước-thiện giữ-giới (sīlakusala).

3- Phước-thiện hành-thiền (bhāvanākusala).

4- Phước-thiện cung-kính (apacāyanakusala).

5- Phước-thiện hỗ-trợ (veyyāvaccakusala).

6- Phước-thiện hồi-hướng (pattidānakusala).

7- Phước-thiện hoan-hỷ (pattānumodanākusala).

8- Phước-thiện nghe-pháp (dhammassavanākusala).

9- Phước-thiện thuyết-pháp (dhammadesanākusala).

10- Phước-thiện chánh-kiến (diṭṭhijukammakusala).

Thân thiện-nghiệp có 10 loại theo 3 môn:

*Thân Thiện nghiệp có 3 loại : 1. Thân không sát-sinh, 2. Thân không trộm-cắp, 3. Thân không tà-dâm.

* Khẩu thiện-nghiệp có 4 loại: 1. Khẩu không nói-dối, 2. Khẩu không nói lời chia rẽ, 3. Khẩu không nói lời thô tục, 4. Khẩu không nói lời vô ích.

* Ý thiện-nghiệp có 3 loại: 1. Ý không tham lam tài sản của người khác, 2. Ý không thù hận người khác, 3. Ý có chánh-kiến.

Sau khi bậc thiện-trí phàm-nhân chết, dục-giới thiện- nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện dục- giới là cõi người hoặc 6 cõi trời dục-giới.

Tà-kiến theo chấp ngã, tham-ái theo chấp ngã, ngã- mạn theo chấp ngã này cũng không làm trở ngại cho hành-giả là hạng người tam-nhân thực-hành pháp-hành thiền-định dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm và 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.

Chú thích

1 Bộ Samyuttanikāya, Khandhavagga, kinh Anattalakkhaṇasutta.

2 Bộ Sāratthadīpanīṭīkā, kinh Anattalakkhaṇasuttavaṇṇanā.

3 Khu Bộ Suttanipāta, trong kinh Mettasutta.

4 Khu Bộ Dhammapadagāthā, câu kệ thứ 159.

5 Tạng Luật, phần Bhikkhunīpātimokkha.

6 Khu Bộ Dhammapadagāthā, gāthā số 62.

7 Khu Bộ Dhammapadagāthā, gāthā số 160.

8 Bộ Samyuttanikāya, phần Khandhavagga, kinh Attadīpasutta.

9 Xúc gồm có 3 sắc-pháp: Đất, lửa, gió trong phần tứ đại, nên phần chi- pháp không tính trong phần sắc-pháp phụ thuộc.

10 Bộ Saṃ, Khandhavagga, kinh Pheṇapiṇḍūpamasutta.

11 Vinayapiṭaka, bộ Parivāra, phần Samuṭṭhānasīsasaṅkhepa.

Trích: Tam bảo (Tỳ khưu Hộ Pháp)

Để lại bình luận tại đây!