Những quan niệm về nghiệp

nhung quan niem ve nghiep

Một số người chưa hiểu rõ về thiện nghiệp, ác nghiệp và quả của thiện nghiệp, ác nghiệp, nên có quan niệm sai lầm rằng: “Làm phước để xoá tội”. Phước đó là thiện nghiệp. Tội đó là ác nghiệp. Nghiệp là tâm sở tác ý (cetanā cetasika) đồng sanh với thiện tâm, ác tâm, mà thiện tâm, ác tâm làm phận sự tác hành tâm (javanakicca), tạo tác nghiệp trong mỗi lộ trình tâm sinh-trụ-diệt, diễn tiến theo thời gian trong cuộc sống của mỗi chúng sinh.

Khi thiện tâm phát sinh tạo nên thiện nghiệp, thì ác tâm không sinh và ngược lại, khi ác tâm phát sinh tạo nên ác nghiệp, thì thiện tâm không sinh. Mỗi lộ trình tâm sinh-trụ-diệt đã trải qua rồi, đã diệt rồi thuộc về thời quá khứ, thời gian không bao giờ quay trở lại. Như vậy, nghiệp nào đã tạo rồi thì không thể nào xóa được. Do đó, làm phước thì được phước. Làm tội thì được tội. Không thể làm phước để xoá tội và ngược lại, không thể làm tội để xoá phước. Tuy phước với tội không thể xóa lẫn nhau, song phước, tội có thể làm giảm bớt tiềm năng cho quả lẫn nhau, nghĩa là ác nghiệp nhiều có thể làm giảm bớt tiềm năng cho quả của thiện nghiệp và ngược lại, thiện nghiệp nhiều cũng có thể làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp.

Ví dụ: Đem một muỗng muối bỏ vào ly ít nước trong, thì nước có vị mặn khó uống. Cũng như vậy, tạo nhiều ác nghiệp có thể làm giảm bớt tiềm năng cho quả của thiện nghiệp và ngược lại, lấy nhiều nước đổ thêm vào để hoà tan muỗng muối, thì nước giảm bớt vị mặn. Cũng như vậy, tạo nhiều thiện nghiệp có thể làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp.

Như trường hợp Thái tử Ajātasattu, trước kia thường thân cận với Tỳ khưu Devadatta, người đã xúi giục Thái tử giết Phụ vương Bimbisāra để lên ngôi làm Vua, nên đã phạm trọng tội giết cha, là 1 trong 5 ác nghiệp vô gián (anantariyakamma). Về sau, Đức vua Ajātasattu biết ăn năn hối lỗi, ngự đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn xin nghe pháp. Đức Thế Tôn thuyết dạy bài kinh Sāmañña- phalasutta, nghe xong bài kinh, Đức vua phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng, Tam Bảo, xin sám hối tội lỗi của mình nơi Đức Phật xong, đem hết lòng thành kính xin quy y Đức Phật, quy y Đức Pháp, quy y Đức Tăng, trở thành một người cận sự nam trọn đời quy y Tam Bảo. Nhờ thiện tâm này giúp cho Đức vua bớt nỗi khổ tâm, tâm vô cùng hoan hỉ, đảnh lể Đức Thế Tôn xin phép hồi cung.

Sau khi Đức vua Ajātasattu hồi cung, Đức Thế Tôn truyền dạy rằng: “Này chư Tỳ khưu, nếu Đức vua Ajātasattu không phạm tội giết cha, tại nơi đây, khi lắng nghe bài kinh Sāmaññaphalasutta này, Đức vua đã chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu rồi. Nhưng do Đức vua đã phạm trọng tội giết cha thuộc vô gián nghiệp, gây tai hại cho Đức vua không thể chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo – Nhập Lưu Thánh Quả trở thành bậc Thánh Nhập Lưu trong kiếp hiện tại này”.

Như vậy, vì Đức vua Ajātasattu đã phạm trọng tội giết cha thuộc ác nghiệp vô gián, nên làm trở ngại cho sự chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo – Nhập Lưu Thánh Quả trong kiếp hiện tại. Từ đó về sau, Đức vua Ajātasattu trở thành một cận sự nam, có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hết lòng lo phụng sự, hộ độ Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng; sau khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn được 3 tháng 4 ngày, Đức vua là người hộ độ chư Thánh Arahán gồm có 500 vị, Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa chủ trì, tổ chức kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất tại động Sattapaṇṇi gần kinh thành Rājagaha xứ Māgadha. Đức vua đã cố gắng tinh tấn tạo mọi thiện nghiệp trong Phật giáo, thế mà đến khi hết tuổi thọ (chết), sau khi chết, do trọng tội giết cha thuộc ác nghiệp vô gián chắc chắn cho quả, đáng lẽ phải tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci chịu khổ suốt một thời gian lâu dài, nhưng nhờ đã tạo nhiều thiện nghiệp có khả năng làm giảm được tiềm năng cho quả của ác nghiệp vô gián ấy, nên không bị tái sinh vào đại địa ngục Avīci, mà chỉ bị tái sinh trong địa ngục nồi đồng sôi gọi là Lohakumbī, chịu khổ từ miệng lộn nhào chìm xuống đáy mất thời gian 30 ngàn năm, rồi từ đáy lộn nhào trở lên miệng nồi cũng mất 30 ngàn năm, chịu quả khổ trong địa ngục này 60 ngàn năm mới mãn nghiệp, sẽ thoát ra khỏi địa ngục, được thiện nghiệp cho quả sẽ tái sinh trở lại làm người, về sau chứng đắc thành Đức Phật Độc Giác có danh hiệu Vijitāvī, đến khi hết tuổi thọ, tịch diệt Niết Bàn.

Như vậy, nhờ thiện nghiệp mà Đức vua Ajātasattu đã tạo, nên có khả năng làm giảm bớt tiềm năng cho quả của trọng ác nghiệp giết cha thuộc ác nghiệp vô gián.

Tóm lại, nghiệp này không thể xóa bỏ nghiệp kia, mà chỉ có thể làm giảm bớt tiềm năng cho quả của nghiệp kia mà thôi.

Có số người có quan niệm sai lầm rằng: “Còn nghiệp thì còn sinh” có nghĩa là còn có thiện nghiệp, ác nghiệp thì còn tái sinh kiếp sau. Theo Phật giáo, quan niệm này không hoàn toàn đúng, chỉ có đúng đối với chúng sinh còn là phàm nhân và 3 bậc Thánh Hữu Học: Bậc Thánh Nhập Lưu, bậc Thánh Nhất Lai, bậc Thánh Bất Lai mà thôi. Còn đối với bậc Thánh Arahán đã diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, đến khi hết tuổi thọ, tịch diệt Niết Bàn, không còn tái sinh kiếp sau nữa, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài. Tuy các thiện nghiệp, ác nghiệp cũ từ vô thủy cho đến trước khi trở thành bậc Thánh Arahán vẫn còn nguyên, nhưng tất cả mọi nghiệp cũ ấy đã trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma), do Arahán Thánh Đạo đã làm cho tất cả nghiệp cũ vô hiệu hóa không còn khả năng cho quả được nữa. Do đó, quan niệm đúng thì nên nói rằng: “Nếu còn tham ái, phiền não, thì còn tái sinh kiếp sau”.

Có số người có quan niệm sai lầm rằng: “Trả cho hết nghiệp”, nghĩa là khi gặp phải cảnh đau khổ, cảnh trái ý nghịch lòng, họ thường an ủi mình rằng: “Gắng chịu đựng trả cho hết nghiệp”. Thực ra, nghiệp của mỗi chúng sinh từ vô thủy cho đến kiếp hiện tại này đã tạo vô số, không sao kể xiết được. Cho nên, chắc chắn không bao giờ trả cho hết nghiệp được. Sự thật, không phải tất cả mọi nghiệp đều cho quả, nếu thiện nghiệp hoặc ác nghiệp nào có hội đủ nhân duyên hỗ trợ, thì thiện nghiệp hoặc ác nghiệp ấy mới có cơ hội cho quả của nó và nếu thiện nghiệp hoặc ác nghiệp nào không hội đủ nhân duyên hỗ trợ, thì thiện nghiệp hoặc ác nghiệp ấy không có cơ hội cho quả của nó.

Nếu hiểu biết rõ nghiệp như vậy, có đức tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, nếu gặp trường hợp ác nghiệp cho quả khổ, thì ta nên cố gắng tinh tấn tạo thiện nghiệp. Nếu có khả năng làm phước bố thí, thì nên bố thí, vật thí dù ít dù nhiều không quan trọng, điều quan trọng là phát sinh thiện tâm trong sạch hoan hỉ trong phước bố thí ấy; nên tìm đến vị Đại Trưởng Lão xin Ngài truyền Tam quy và ngũ giới, lắng nghe chánh pháp… hoặc tự giúp mình, là tự thọ Tam quy và ngũ giới, đọc kinh sách, nghe pháp bằng băng cassette và nhất là hành thiền niệm Ân đức Phật, V. V… Nhờ vậy, phát sinh đức tin, mọi thiện pháp tăng trưởng có thể làm giảm bớt tiềm lực cho quả của ác nghiệp, được an lạc, bớt khổ đau.

Có số người chưa hiểu rõ nghiệp và quả của nghiệp nên than thở rằng: “Mình làm phước mà vẫn nghèo. Người làm tội mà vẫn giàu”. Thật ra, làm phước thì được phước. Làm tội thì được tội. Phước và tội là nghiệp hiện tại. Nghèo và giàu là quả của nghiệp quá khứ. Người làm phước bố thí, tạo nên thiện nghiệp hiện tại, ít nhất họ được hưởng quả báu thiện tâm hoan hỉ trong phước bố thí ấy, được nhìn thấy cảnh đáng hài lòng, được nghe lời tán dương ca tụng đáng hài lòng… còn cảnh nghèo đó là quả của nghiệp không bố thí ở quá khứ. Kiếp hiện tại, thiện nghiệp bố thí chưa hội đủ nhân duyên hỗ trợ để cho thiện nghiệp bố thí ấy có cơ hội cho quả giàu có, nên vẫn còn chịu cảnh nghèo. Người làm tội, tạo nên ác nghiệp hiện tại, ít nhất họ chịu khổ tâm do bởi ác nghiệp ấy, như thấy cảnh không đáng hài lòng, bị nghe lời chê trách,… còn họ giàu có đó là quả của thiện nghiệp bố thí ở quá khứ, thường là từ kiếp trước. Kiếp hiện tại, ác nghiệp chưa có đủ nhân duyên hỗ trợ để cho ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả khổ, nên họ vẫn còn hưởng quả báu của thiện nghiệp cũ quá khứ ấy.

Trích: Tìm hiểu PHƯỚC BỐ THÍ (Trang 406 – 413) (Tỳ Khưu Hộ Pháp)