Ý nghĩa Tam Bảo

Ratana: Bảo là gì?

Bảo hay báu (ratana) nghĩa là những gì quý báu đáng hài lòng, đáng hoan hỷ, đáng tôn trọng nhất.

Chú-giải bài kinh Dhātuvibhaṅgasutta(1) trình bày những châu báu (ratana) được tóm lược như sau:

Chọn món quà vô giá

Đức-vua Bimbisāra ngự tại kinh-thành Rājagaha trị vì quốc độ Magadha (trung-xứ), Đức-vua muốn chọn một món quà quý báu nhất để gửi biếu Đức-vua Pukkusāti, người bạn thân thiết ngự tại kinh-thành Takkasīlā ở xứ biên địa. Đức-vua Bimbisāra suy xét rằng:

Trong đời này châu báu có hai loại:

– Vật báu là vàng, bạc, kim cương, ngọc maṇi, …

– Sinh-mạng báu là những chúng-sinh cao quý, …

Trong hai loại báu này, sinh-mạng báu là cao quý hơn.

Sinh-mạng báu có hai loại:

– Gia-súc báu là ngựa báu, voi báu, …

– Nhân-loại báu là bậc thiện-trí có tài, có đức, …

Trong hai loại báu này, nhân-loại báu là cao quý hơn.

1 Majjhimanikāya, Uparipaṇṇāsa, Kinh Dhātuvibhaṅgasutta.

Nhân-loại báu có hai hạng:

– Nữ báu là Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-Chuyển- luân Thánh-vương.

– Nam báu là Đức-Chuyển-luân Thánh-vương.

Trong hai loại báu này, nam báu quý hơn nữ báu, bởi vì người nữ quý trọng người nam.

Nam báu có hai hạng:

– Người tại gia báu là Đức-vua, Đức-Chuyển-luân Thánh-vương, …

Bậc xuất-gia báu là vị sa-di, vị tỳ-khưu, …

Trong hai hạng người báu này, dù là Đức-vua hay Đức-Chuyển-luân Thánh-vương cũng cung kính đảnh lễ vị sa-di, vị tỳ-khưu.

Vì vậy, bậc xuất-gia báu là cao quý hơn cả. Bậc xuất-gia báu có hai bậc:

– Bậc Hữu-học báu là hạng thiện-trí phàm-nhân và 3 bậc Thánh-nhân: Bậc Thánh Nhập-lưu, bậc Thánh Nhất- lai, bậc Thánh Bất-lai là bậc còn phải học và hành giới- định-tuệ.

– Bậc Vô-học báu là bậc Thánh A-ra-hán là Bậc đã học và hành giới-định-tuệ đầy đủ xong rồi, không còn học và hành giới-định-tuệ nữa.

Ân-đức của 100 ngàn vị Thánh Hữu-học cũng không bằng ân-đức của một vị Thánh Vô-học (bậc Thánh A- ra-hán).

Vì vậy, trong hai bậc Thánh này, bậc Thánh Vô-học (bậc Thánh A-ra-hán) là cao quý hơn cả.

Bậc Thánh Vô-học báu có hai bậc:

– Bậc Thánh Thanh-văn Vô-học báu là bậc Thánh A- ra-hán thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác.

– Đức-Phật-bảo là Bậc chứng ngộ chân-lý tứ Thánh- đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, gọi là Đức-Phật-bảo.

Ân-đức của 100 ngàn vị Thánh thanh-văn Vô-học báu, cũng không bằng ân-đức của một Đức-Phật-bảo.

Vì vậy, trong hai Bậc này, Đức-Phật-bảo là cao thượng hơn cả.

Đức-Phật-bảo có hai bậc:

Đức-Phật Độc-Giác là Bậc chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, gọi là Đức-Phật Độc-Giác.

Đức-Phật Độc-Giác có nhiều Vị cùng một thời, song Đức-Phật Độc-Giác không giáo huấn chúng-sinh cùng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế y theo Ngài, nên không có người chứng đắc thành bậc Thánh-nhân.

– Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác là Bậc chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, gọi là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác độc nhất vô nhị trong toàn cõi-giới chúng-sinh.

Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có khả năng đặc biệt thuyết pháp giáo huấn chúng-sinh có duyên lành cũng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế y theo Đức-Phật, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn được.

Ân-đức của 100 ngàn Đức-Phật Độc-Giác cũng không bằng ân-đức của Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác.

Vì vậy, trong hai Đức-Phật-bảo này, Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác là cao thượng hơn cả.

Sau khi suy xét xong, Đức-vua Bimbisāra truyền hỏi nhóm sứ giả của Đức-vua Pukkusāti rằng:

– Này các khanh! Đức-vua Pukkusāti ngự tại kinh- thành Takkasīlā có hay biết Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức- Tăng đã xuất hiện trên thế gian này hay không?

Đoàn sứ giả tâu với Đức-vua Bimbisāra rằng:

– Muôn tâu Đại-vương, trong kinh-thành Takkasīlā chưa từng nghe đến danh hiệu của Đức-Phật, Đức- Pháp, Đức-Tăng, thì Đức-vua của hạ thần làm sao hay biết được Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức-Tăng đã xuất hiện trên thế gian. Tâu Đại-vương.

Đức-vua Bimbisāra suy xét rằng:

“Đức-vua Pukkusāti người bạn thân thiết của ta chưa hề hay biết Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức-Tăng đã xuất hiện trên thế gian.

Vậy, ta nên chọn Ân-Đức-Phật, Ân-Đức-Pháp, Ân- Đức-Tăng làm món quà pháp vô giá biếu Đức-vua Pukkusāti.”

Món quà Đức-Pháp-Bảo

Đức-vua Bimbisāra lấy một tấm biển vàng ròng không mỏng, không dày, chiều dài 4 hắc tay (cùi), chiều rộng một gang tay, ngự lên tầng lầu cao, Đức-vua phát nguyện thọ trì bát-giới uposathasīla, để thân và khẩu được trong sạch. Đầu tiên Đức-vua khắc ghi 9 Ân-Đức- Phật trên tấm biển vàng ròng như sau:

Buddhaguṇa: Ân-Đức-Phật

“Itipi so Bhagavā Arahaṃ, Sammāsambuddho, Vijjācaraṇasampanno, Sugato, Lokavidū, Anuttaro Purisadammasārathi, Satthā devamanussānaṃ, Buddho, Bhagavā.”

Ý nghĩa 9 Ân-Đức-Phật:

1- Arahaṃ: Đức A-ra-hán là Bậc cao thượng có thân khẩu ý hoàn toàn trong sạch và thanh-tịnh, xứng đáng thọ nhận sự lễ bái cúng dường của chư-thiên, phạm- thiên và nhân-loại.

2- Sammāsambuddho: Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác là Bậc chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, đặc biệt diệt được mọi tiền khiên tật, trở thành bậc Thánh A-ra-hán đầu tiên, gọi là Đức-Phật Chánh-Đẳng- Giác độc nhất vô nhị trong toàn muôn ngàn cõi-giới chúng-sinh.

3- Vijjācaraṇasampanno: Đức Minh-Hạnh-Túc là Bậc có đầy đủ trọn vẹn Tam-minh, Bát-minh và 15 Đức- hạnh cao thượng.

4- Sugato: Đức Thiện-Ngôn là Bậc thuyết pháp chân-lý đem lại lợi ích thật sự cho chúng-sinh.

5- Lokavidū: Đức Thông-Suốt Tam-tổng-pháp là Bậc thấy rõ, biết rõ tổng các loài chúng-sinh, tổng các cõi chúng-sinh, tổng các pháp-hành.

6- Anuttaro purisadammasārathi: Đức Vô-Thượng giáo hóa chúng-sinh là Bậc giáo huấn chúng-sinh cải tà quy chánh, cải ác làm thiện, từ hạng phàm-nhân lên bậc Thánh-nhân.

7- Satthā devamanussānaṃ: Đức Thiên-Nhân-Sư là Bậc Thầy của chư-thiên, chư phạm-thiên, nhân-loại, …

8- Buddho: Đức-Phật là Bậc tự mình chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, đặc biệt diệt được mọi tiền khiên tật, trở thành bậc Thánh A-ra-hán đầu tiên trong toàn muôn ngàn cõi-giới chúng-sinh.

Đức-Phật có khả năng đặc biệt thuyết pháp giáo huấn chúng-sinh có duyên lành cũng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế y theo Đức-Phật, cũng chứng đắc 4 Thánh- đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn tùy theo năng lực của pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ (indriya): tín-pháp- chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ- pháp-chủ của mỗi chúng-sinh.

9- Bhagavā: Đức-Thế-Tôn là Bậc có 6 ân-đức đặc biệt do đầy đủ trọn vẹn 30 pháp-hạnh ba-la-mật của Đức-Phật.

Đức-vua khắc câu kệ tán dương Ân-Đức-Phật.

“Yaṃ kiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā, Saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ. Na no samaṃ atthi Tathāgatena, Idampi Buddhe ratanaṃ paṇītaṃ, Etena saccena suvatthi hotu.”(1)

Tất cả mọi châu báu trong cõi người, Trong cõi Long cung, cùng các cõi trời, Cũng không thể sánh bằng Đức-Phật-bảo, Đức-Phật này là châu báu vô thượng.

Do năng lực của lời chân thật này
Cầu mong mọi chúng-sinh được an lành.

1 Bộ Khuddakanikāya, Suttanipāta, Kinh Rattanasutta.

Tiếp theo Đức-vua khắc ghi 6 Ân-Đức-Pháp:

Dhammaguṇa: Ân-Đức-Pháp

“Svākkhāto Bhagavatā Dhammo, Sandiṭṭhiko, Akāliko, Ehipassiko, Opaneyyiko, Paccattaṃ veditabbo viññūhi.”

Ý nghĩa 6 Ân-Đức-Pháp:

1- Svākkhāto dhammo: Pháp gồm có 10 chánh-pháp mà Đức-Phật đã thuyết giảng hoàn hảo phần đầu, phần giữa, phần cuối, có ý nghĩa đầy đủ, văn chương trong sáng, rõ ràng và thanh-tịnh.

10 chánh-pháp là:

– Pháp học chánh-pháp.

– 9 Pháp siêu-tam-giới (4 Thánh-đạo + 4 Thánh-quả + 1 Niết-bàn).

2- Sandiṭṭhiko dhammo: Chánh-pháp gồm 9 pháp siêu-tam-giới mà chư Thánh-nhân đã chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, rồi tự thấy, tự biết pháp ấy bằng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới của mình.

3- Akāliko dhammo: Chánh-pháp đó là 4 Thánh-đạo cho quả tương xứng 4 Thánh-quả không có thời gian ngăn cách, nghĩa là sau khi chứng đắc Thánh-đạo nào liền cho Thánh-quả ấy sau một sát-na tâm diệt rồi sinh.

4- Ehipassiko dhammo: Chánh-pháp đó là 9 pháp siêu-tam-giới thuộc chân-nghĩa-pháp rất trong sạch và thanh-tịnh, nên dám mời đến để thực chứng, thực đắc.

5- Opaneyyiko dhammo: Chánh-pháp đó là 9 pháp siêu-tam-giới là pháp nên hướng tâm chứng đắc trước tiên, để mong giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.

6- Paccattaṃ veditabbo viññūhi dhammo: Chánh- pháp đó là 9 pháp siêu-tam-giới mà chư bậc thiện-trí Thánh-nhân đã chứng đắc rồi, tự mình biết rõ, tự mình nhập Thánh-quả hưởng an lạc Niết-bàn tịch tịnh.

Đức-vua khắc câu kệ tán dương Ân-Đức-Pháp:

“Yaṃ Buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ, Samādhimānantarikaññamāhu. Samādhinā tena samo na vijjati. Idampi Dhamme ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.” (1)

Đức-Phật cao thượng nhất thường tán dương, Chánh-định thanh-tịnh trong Thánh-đạo nào, Cho liền Thánh-quả ấy không ngăn cách,
Mà các bậc thiền-định trong tam-giới,

Không sánh bằng chánh-định siêu-tam-giới, Đức-Pháp này là châu báu vô thượng,
Do năng lực của lời chân thật này,
Cầu mong mọi chúng-sinh được an lành.

Tiếp theo Đức-vua khắc ghi 9 Ân-Đức-Tăng:

Saṃghaguṇa: Ân Đức-Tăng

“Suppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho, ujup- paṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho, ñāyappatipanno Bhagavato sāvakasaṃgho, sāmīcippaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho. Yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa Bhagavato sāvakasaṃgho, āhuneyyo, pāhuneyyo, dakkhiṇeyyo, añjalikaraṇīyo, anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa.”

1 Bộ Khuddakanikāya, Suttanipāta, kinh Ratanasutta.

Ý nghĩa 9 Ân-Đức-Tăng:

1- Suppaṭipanno: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là những bậc đã thực-hành nghiêm chỉnh đúng theo lời giáo huấn của Đức-Phật.

2- Ujuppaṭipanno: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là những bậc đã thực-hành trung thực đúng theo pháp-hành trung-đạo, không quanh co lầm lạc.

3- Ñāyappaṭipanno: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là những bậc đã thực-hành theo pháp- hành bát-chánh-đạo chứng ngộ Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.

4- Sāmīcippaṭipanno: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là những bậc đã thực-hành giới-định- tuệ đúng đắn xứng đáng để chúng-sinh tôn kính lễ bái cúng dường.

Cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa Bhagavato sāvakasaṃgho: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn có 4 đôi thành 8 bậc Thánh (tính theo tâm siêu-tam-giới).

Chư Thánh thanh-văn đệ-tử có 4 đôi

Nhập-lưu Thánh-đạo → Nhập-lưu Thánh-quả

Nhất-lai Thánh-đạo → Nhất-lai Thánh-quả

Bất-lai Thánh-đạo → Bất-lai Thánh-quả

A-ra-hán Thánh-đạo → A-ra-hán Thánh-quả

Chư Thánh thanh-văn đệ-tử có 8 bậc Thánh: 4 Thánh-đạo:

– Nhập-lưu Thánh-đạo (Sotāpattimagga).

– Nhất-lai Thánh-đạo (Sakadāgāmimagga).

– Bất-lai Thánh-đạo (Anāgāmimagga).

– A-ra-hán Thánh-đạo (Arahattamagga).

4 Thánh-quả:

– Nhập-lưu Thánh-quả (Sotāpattiphala).

– Nhất-lai Thánh-quả (Sakadāgāmiphala).

– Bất-lai Thánh-quả (Anāgāmiphala).

– A-ra-hán Thánh-quả (Arahattaphala).

5- Āhuneyyo: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức- Thế-Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ từ phương xa đem đến cúng dường quý Ngài, để mong được quả báu lớn.

6- Pāhuneyyo: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức- Thế-Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ dành cho những vị khách quý như quý Ngài.

7- Dakkhiṇeyyo: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ có đức-tin trong sạch nơi Tam- bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, đem dâng cúng đến quý Ngài, để mong được quả báu tốt lành cho mình và những người thân quyến.

8- Añjalikaraṇīyo: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là những bậc xứng đáng cho chúng-sinh chắp tay cung kính lễ bái cúng dường.

9- Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa: Chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Thế-Tôn là phước điền cao thượng của chúng-sinh không đâu sánh được.

Đức-vua khắc câu kệ tán dương Ân-Đức-Tăng.

“Ye puggalā aṭṭha sataṃ pasatthā, Cattāri etāni yugāni honti. Te dakkhiṇeyyā Sugatassa sāvakā, Etesu dinnāni mahapphalāni. Idampi Saṃghe ratanaṃ paṇītaṃ, Etena saccena suvatthi hotu.”

Chư bậc Thánh thiện-trí thường tán dương, Tám bậc Thánh là bốn đôi tương xứng, Chư Thánh-Tăng ấy xứng đáng thọ nhận, Những phẩm vật cúng dường của thí chủ. Quả báu lớn sẽ phát sinh đến họ, Đức-Tăng này là châu báu vô thượng, Do năng lực của lời chân thật này, Cầu mong mọi chúng-sinh được an lành.

Pháp-hành Thiền-định

Sau khi khắc Ân-đức Tam-bảo xong, Đức-vua khắc ghi pháp-hành thiền-định “đề-mục niệm hơi thở vào – hơi thở ra”. Giảng giải tỉ mỉ phương pháp bắt đầu thực- hành đề-mục niệm hơi thở vào – hơi thở ra cho đến khi chứng đắc theo tuần tự 4 bậc thiền sắc-giới.

Đức-vua đặc biệt khuyên rằng:

“Đức-Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian rồi, giáo-pháp của Đức-Phật dẫn dắt chúng-sinh giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài. Nếu bạn có thể xuất gia được thì thật là một điều cao quý nhất.”

Sau khi khắc ghi xong món quà Đức-Pháp-bảo, Đức- vua truyền lệnh đoàn sứ giả mang lá thư đến trình lên Đức-vua Pukkusāti, yêu cầu Đức-vua chuẩn bị làm lễ đón rước món quà Đức-Pháp-bảo cho thật long trọng.

Trong thư Đức-vua Bimbisāra ghi rõ rằng:

“Tâu Đại-vương, khi cung kính tiếp nhận món quà Đức-Pháp-bảo này xong, xin Đại-vương cung thỉnh lên lâu đài, chỉ một mình Đại-vương mở ra cung kính đọc mà thôi.”

Đức-vua Pukkusāti tiếp đoàn sứ giả của Đức-vua Bimbisāra và nhận lá thư của Đức-vua Bimbisāra. Đọc xong lá thư, Đức-vua liền truyền lệnh các quan trang hoàng cung điện thật lộng lẫy, sửa sang trang hoàng con đường từ kinh-thành Takkasīlā đến biên giới, để làm lễ cung nghinh đón rước món quà Đức-Pháp-bảo của Đức- vua Bimbisāra.

Tôn kính món quà Đức-Pháp-Bảo

Với tâm vô cùng tôn kính Đức-Pháp-bảo, Đức-vua Bimbisāra tự tay mình sắp đặt món quà Đức-Pháp-bảo từ đầu đến cuối như sau:

Trước tiên trải một tấm vải mịn dệt bằng lông thú đắp trên tấm biển vàng được khắc ân-đức Tam-bảo, và pháp-hành thiền-định với đề-mục niệm hơi thở vào- hơi thở ra ấy, cuốn tròn lại đặt vào trong chiếc hộp nhỏ quý giá, tiếp theo tuần tự như sau:

* đặt chiếc hộp nhỏ này vào trong chiếc hộp vàng,

* đặt chiếc hộp vàng này vào trong chiếc hộp bạc,

* đặt chiếc hộp bạc này vào trong chiếc hộp ngọc maṇi,

* đặt chiếc hộp ngọc maṇī này vào trong chiếc hộp xích châu,

* đặt chiếc hộp xích châu này vào trong chiếc hộp hồng ngọc,

* đặt chiếc hộp hồng ngọc này vào trong chiếc hộp bích ngọc,

* đặt chiếc hộp bích ngọc vào trong chiếc hộp thạch anh,

* đặt chiếc hộp thạch anh vào trong chiếc hộp ngà,

* đặt chiếc hộp ngà vào trong chiếc hộp đá quý,

* đặt chiếc hộp đá quý vào trong ngôi tháp nhỏ,

* đặt ngôi tháp nhỏ ấy tuần tự đến các ngôi tháp cuối cùng là ngôi tháp lớn chắc chắn và quý giá nhất, bao bọc xung quanh ngôi tháp lớn này bằng tấm vải tốt đẹp, rồi đóng dấu ấn của Đức-vua Bimbisāra.

Đức-vua truyền lệnh rằng:

– Này các khanh! Các khanh hãy truyền lệnh của Trẫm đến các quan, và thần dân thiên-hạ hãy sửa sang, trang hoàng con đường dài từ kinh-thành đến vùng biên giới, để làm lễ cung nghinh tiễn đưa món quà Đức-Pháp-bảo đến kinh-thành Takkasīlā. (1)

1 Từ kinh-thành Rājagaha đến kinh-thành Takkasīlā khoảng cách 192 do tuần (mỗi do tuần khoảng 20 km).

Lễ cung nghinh Đức-Pháp Bảo

Được biết Đức-vua Pukkusāti đã chuẩn bị sẵn sàng để làm lễ đón rước món quà Đức-Pháp-bảo, Đức-vua Bimbisāra tổ chức cuộc đại lễ tiễn đưa món quà Đức- Pháp-bảo rất long trọng.

Đức-vua Bimbisāra mặc đại lễ phục, làm lễ cung thỉnh ngôi Tháp-Bảo đặt lên cái ngai quý báu trên lưng con voi báu của triều đình, bên trên có chiếc lọng màu trắng, có cờ hiệu. Đức-vua Bimbisāra làm lễ cúng dường Pháp-bảo xong, cung kính tiễn đưa món quà Đức-Pháp-bảo đến kinh-thành Takkasīlā. Đức-vua ngự theo sau con voi báu cho đến biên giới mới ngừng lại.

Một lần nữa, Đức-vua Bimbisāra lễ bái cúng dường Đức-Pháp-bảo xong, mới truyền lệnh tiếp tục lên đường cung nghinh Đức-Pháp-bảo sang biên giới xứ khác.

Đức-vua Bimbisāra đứng nhìn theo và nghĩ rằng:

“Con đem hết lòng tôn kính Đức-Phật-bảo, Đức- Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, nay con làm lễ tiễn đưa Đức- Pháp-bảo đến kinh-thành Takkasīlā như thành kính tiễn đưa Đức-Phật vậy.”

Đến khi đoàn tùy tùng cung nghinh Đức-Pháp-bảo đi xa dần, không còn nhìn thấy nữa, Đức-vua Bimbisāra mới chịu hồi cung, ngự trở về kinh-thành Rājagaha.

Lễ đón rước món quà Đức-Pháp-Bảo

Đức-vua Pukkusāti tổ chức lễ đón rước món quà

Đức-Pháp-bảo tại biên giới rất long trọng, rồi cung nghinh về đến kinh-thành Takkasīlā, nhằm vào ngày rằm (ngày giới).

Đức-vua Pukkusāti làm lễ tiếp nhận tại cung điện xong, vâng theo lời căn dặn trong thư của Đức-vua Bimbisāra, Đức-vua Pukkusāti cung thỉnh lên lâu đài, không cho phép một ai theo hầu. Đặt món quà Đức- Pháp-bảo trên bàn, Đức-vua quỳ gối, cung kính mở lớp vải có dấu ấn của Đức-vua Bimbisāra, tuần tự mở từ ngôi tháp lớn đến các ngôi tháp nhỏ, thỉnh chiếc hộp ngọc ra, rồi cũng tuần tự mở từ chiếc hộp này đến chiếc hộp khác cho đến chiếc hộp cuối cùng.

Nhìn thấy một cuộn tấm vàng ròng, Đức-vua Pukkusāti hai tay nâng lên, trân trọng đặt trên bàn, rồi cung kính từ từ mở cuộn tấm vàng ròng ấy ra. Thấy mặt trên có lớp vải mỏng quý giá, Đức-vua Pukkusāti nghĩ:

“Chắc chắn hôm nay ta được đọc điều mà ta chưa từng đọc, được biết điều mà ta chưa từng biết.”

Hai tay cung kính dở lớp vải mịn, nhìn thấy các dòng chữ đều đặn, Đức-vua Pukkusāti phát sinh đức-tin trong sạch, bắt đầu chăm chú đọc từng chữ, từng câu 9 Ân- Đức-Phật, liền phát sinh hỷ lạc chưa từng có bao giờ, Đức-vua Pukkusāti ngồi nhắm mắt hưởng sự an-lạc.

Tiếp theo chăm chú đọc tiếp từng chữ, từng câu 6 Ân- Đức-Pháp. Cũng như lần trước, phát sinh hỷ lạc chưa từng có bao giờ, Đức-vua Pukkusāti cũng ngồi nhắm mắt hưởng sự an-lạc một lát.

Tiếp theo chăm chú đọc từng chữ từng câu 9 Ân-Đức-Tăng, cũng như hai lần trước, phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có bao giờ, Đức-vua Pukkusāti ngồi hưởng sự an- lạc trong đối tượng Ân-đức Tam-bảo.

Sau đó, Đức-vua Pukkusāti chăm chú đọc từng chữ từng câu pháp-hành thiền-định đề-mục niệm hơi thở vào – hơi thở ra. Hiểu rõ phương pháp thực-hành.

Đức-vua Pukkusāti thực-hành pháp-hành thiền-định với đề-mục niệm hơi thở vào – hơi thở ra theo sự hướng dẫn của Đức-vua Bimbisāra, tuần tự dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm, đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm, đệ tam thiền sắc-giới thiện-tâm, cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm cao nhất của thiền sắc-giới.

Đức-vua Pukkusāti an hưởng sự an-lạc thanh-tịnh của thiền, kéo dài suốt nửa tháng, không còn quan tâm đến công việc triều chính. Thấy vậy, các quan trong triều, thần dân thiên hạ tụ hội thỉnh cầu Đức-vua lâm triều, trông coi triều đình, trị vì đất nước.

Nghe các quan yêu cầu như vậy, Đức-vua suy xét rằng: “Ta nên tiếp tục làm Vua trị vì đất nước này, hay ta nên xuất gia theo giáo-pháp của Đức-Phật Gotama.”

Quyết định xuất gia, nên Đức-vua Pukkusāti lấy thanh gươm cắt tóc, mở cánh cửa sổ ném nắm tóc xuống nền và truyền bảo rằng:

– Này các khanh! Các khanh hãy chọn Đức-vua khác trị vì đất nước này.

Sau đó, Đức-vua truyền gọi vị quan cận thần thân tín đi tìm bộ y và cái bát đất, rồi tự mình mặc y với tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm xuất-gia theo giáo- pháp của Đức-Phật Gotama.

Đức-vua Pukkusāti mang hình tướng là một bậc xuất gia mặc bộ y mang bát đất bước xuống lâu đài, đi ra khỏi kinh-thành Takkasīlā hướng tâm đến kinh-thành Rājagaha khoảng cách 192 do tuần.

Khi đến kinh-thành Rājagaha, Đức-vua Pukkusāti không ngự vào cung điện yết kiến Đức-vua Bimbisāra, mà nghỉ nhờ đêm tại lò gốm.

Trong đêm ấy, Đức-Thế-Tôn từ kinh-thành Sāvatthi ngự đến lò gốm cũng xin nghỉ nhờ qua đêm, để có cơ hội thuyết pháp tế độ Đức-vua Pukkusāti, nhưng Đức-Thế- Tôn dùng thần thông che dấu kim thân của Đức-Phật, nên mọi người chỉ thấy Đức-Phật như một vị tỳ-khưu bình thường mà thôi.

Vì vậy, Đức-vua Pukkusāti ở chung với Đức-Phật từ đầu hôm, mà không nhận biết được Đức-Phật Gotama.

Biết Đức-vua Pukkusāti đang mệt mỏi, vì đi đường xa, nên Đức-Phật đợi Đức-vua Pukkusāti nghỉ ngơi cho lại sức. Khi ấy, Đức-Phật mới thuyết pháp tế độ Đức- vua Pukkusāti. Sau khi nghe pháp xong, Đức-vua Pukkusāti liền chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc từ Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, Niết- bàn, Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả và Niết- bàn, Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Bất-lai, đồng thời nhận biết được Đức-Thế-Tôn.

Đức-vua Pukkusāti đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, xin sám hối điều không biết của mình và kính xin Đức-Thế-Tôn cho phép xuất gia sa-di, tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức- Thế-Tôn.

Nhưng rất tiếc, Đức-vua Pukkusāti chưa đủ 8 thứ vật dụng của tỳ-khưu (tam-y, bát, dây thắt lưng, dao cạo tóc, kim chỉ, đồ lọc nước), nên Đức-Phật không thể cho phép xuất gia trở thành sa-di, tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật.

Trong khi Đức-vua Pukkusāti đang tìm vải tại nơi đống rác, để may y. Khi ấy, một con bò chạy đến húc vào Đức-vua Pukkusāti làm cho Đức-vua chết ngay tại nơi ấy.

Đức-vua vốn là bậc Thánh Bất-lai, nên sau khi chết, đệ tứ thiền sắc-giới thiện-nghiệp cho quả tái-sinh làm phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới Tịnh-cư-thiên (Suddhavāsa) tầng trời thứ nhất gọi là Vô-phiền-thiên (Avihā), rồi sẽ chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả và Niết- bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán sẽ tịch diệt Niết-bàn tại cõi trời ấy, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

Quả báu của món quà Đức-Pháp-Bảo

Đức-vua Pukkusāti đã chứng đắc 4 bậc thiền sắc-giới, có quyết định quan trọng từ bỏ ngôi vua, xuất gia gặp được Đức-Phật. Và sau khi nghe Đức-Phật thuyết pháp, Đức-vua đã trở thành bậc Thánh Bất-lai là bậc Thánh thứ ba trong Phật-giáo, được tái-sinh lên tầng trời sắc- giới phạm-thiên Tịnh-cư-thiên, chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn tại cõi trời sắc-giới ấy, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

Đức-vua Pukkusāti có được những quả báu tốt lành ấy là nhờ món quà Đức-Pháp-bảo của Đức-vua Bimbisāra đã gửi biếu. Cho nên, món quà Đức-Pháp-bảo ấy thật là vô giá.

Trong đời có những món quà quý giá đáng hài lòng, nếu món quà ấy là của một nhân vật quan trọng đáng tôn kính, thì nó trở thành một vật kỷ niệm, một vật gia bảo trong gia đình, dòng họ.

Như vậy, món quà ấy có giá trị về cả vật chất lẫn tinh thần, nhưng nếu đem so sánh với món quà Đức-Pháp- bảo mà người nào hiểu biết, thực-hành đúng theo chánh- pháp, sẽ nâng đỡ cuộc đời của người ấy trở nên cao thượng, trở thành bậc thiện-trí phàm-nhân hoặc bậc Thánh-nhân, thì món quà Đức-Pháp-bảo ấy thật là vô giá biết dường nào! Cho nên, Đức-Phật dạy:

“Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti,…”
Pháp thí là cao thượng hơn tất cả mọi sự thí, …

Như vậy, bậc thiện-trí biết tôn kính, sử dụng chánh- pháp làm Món-Quà-Pháp (Dhammapaṇṇākāra) biếu đến những người thân yêu của mình, không chỉ gây được một thiện-cảm khó quên, mà còn đem lại cho họ sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài, trong kiếp hiện-tại lẫn nhiều kiếp vị-lai đối với người thân yêu của mình.

Tiền-kiếp Đức-vua Pukkusāti

Trong tích Ngài Trưởng-lão Bāhiyadārucīriya(1) có đoạn đề cập đến tiền-kiếp của Đức-vua Pukkusāti được tóm lược như sau:

Tiền-kiếp của Đức-vua Pukkusāti đã từng là một vị tỳ- khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật Kassapa thời quá-khứ.

Vào thời ấy, giáo-pháp của Đức-Phật Kassapa sắp bị mai một. Một nhóm 7 vị tỳ-khưu phát sinh động tâm, đồng tâm nhất trí với nhau, quyết tâm cố gắng thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, trước khi Phật-giáo chưa bị mai một, chưa bị suy thoái hoàn toàn.

1 Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, tích Bāhiyadārucīriyattheravatthu.

Bảy vị tỳ-khưu đảnh lễ ngôi Bảo-Tháp, dẫn nhau vào rừng làm một cái thang bắt lên đỉnh núi cao, 7 vị tỳ-khưu leo lên đỉnh núi xong, xô đẩy cái thang ngã xuống. 7 vị tỳ-khưu quyết tâm thực-hành pháp-hành thiền-tuệ.

Ngay đêm thứ nhất, một vị tỳ-khưu chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán cùng với lục thông. Ngài Trưởng- lão sử dụng phép-thần-thông bay đi khất thực đem về chia cho 6 vị tỳ-khưu còn lại, nhưng 6 vị tỳ-khưu ấy đều không chịu nhận vật thực, chỉ có quyết tâm thực-hành pháp-hành thiền-tuệ mà thôi.

Đến ngày thứ hai một vị tỳ-khưu chứng đắc thành bậc Thánh Bất-lai có phép-thần-thông. Ngài Trưởng-lão sử dụng thần thông bay đi khất thực đem về chia cho 5 vị tỳ-khưu còn lại, nhưng 5 vị tỳ-khưu ấy cũng đều không chịu nhận vật thực, quyết tâm thực-hành pháp-hành thiền-tuệ mà không chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả nào, vẫn còn là vị tỳ-khưu phàm-nhân.

Đến ngày thứ bảy, thì cả 5 vị tỳ-khưu đều viên tịch, dục-giới thiện-nghiệp cho quả tái-sinh lên cõi trời dục- giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy.

* Vào thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, 5 vị thiên-nam chết từ cõi trời, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh làm người.

* Một vị là Đức-vua Pukkusāti, 4 vị còn lại là Ngài Trưởng-lão Kumārakassapa, Ngài Trưởng-lão Dārucīriya, Ngài Trưởng-lão Dabba Mallaputta và Ngài Satiya Paribbājaka.

Do nhờ các pháp-hạnh ba-la-mật đầy đủ và 5 pháp- chủ (indriya): tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp- chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ đã tích lũy từ nhiều kiếp trong quá-khứ, cho nên khi Đức-vua Pukkusāti tiếp nhận được món quà Đức-Pháp-bảo của Đức-vua Bimbisāra, có được cơ hội tốt làm nhân-duyên phát sinh mọi thiện-pháp đến với Đức-vua Pukkusāti như vậy.

Còn 4 vị còn lại đều có duyên lành đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, được lắng nghe Đức-Phật thuyết pháp tế độ, họ đều chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

Trích: Tam Bảo (Tỳ Khưu Hộ Pháp)

Để lại bình luận tại đây!