Nền tảng Phật giáo thứ Ba: Trí Tuệ

Nền tảng Phật giáo thứ Ba: Trí Tuệ

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA

    -----

    LUẬT XUẤT GIA TÓM TẮT
    (PABBAJITA VINAYA SAṄKHEPA)

    Quyển thượng

    Soạn giả

    Trưởng Lão Hòa Thượng Hộ Tông
    (Vaṅsarakkhita Mahāthera)

    Pl.2510 – Dl.1966

     

    NỀN TẢNG PHẬT GIÁO THỨ BA

    Nền tảng Phật giáo thứ ba nói về trí tuệ, trí tuệ gọi là nền tảng Phật giáo thứ ba, cũng vì có 9 nguyên nhân, giống như nền tảng thứ nhứt và thứ hai, song cao hơn là:

    1)  Vì trí tuệ là điều nên học hỏi, là nên học cho biết rồi hành theo cho được, tiếp theo thiền định. Giải rằng: Khi tu thiền định rồi nên hành trí tuệ cho phát sanh, là phần thứ ba.

    2)  Vì trí tuệ làm cho các lời dạy khác của Phật tốt đẹp chơn chánh trong phần cuối cùng. Giải rằng: các Phật huấn khác sáng chói trong thế gian cũng vì có người làm cho trí tuệ phát sanh, là khi có người tu theo Phật huấn rồi, đắc trí tuệ là điều chỉ cho đời thấy được rằng: các lời dạy của Ngài toàn là quý báu chơn chánh, là lời dạy cho sanh sự hiểu rõ đến thế gian, hẳn thật.

    3)  Vì trí tuệ (nói về phép minh sát) cho đắc 4 giác phân tích(17): là sự tinh thông trong quả, nhân, các tiếng, sắc xảo.

    4)  Vì trí tuệ là phương pháp cho đi trong đường giữa, là đường không quá vui, không quá khổ. Giải rằng: đường dục là đường vui, đường khổ hạnh là đường khổ, về phần đường có 8 chi (bát chánh đạo) là trung đạo, không vui, không khổ; trí tuệ là phương pháp làm cho đi theo trung đạo.

    5)  Vì trí tuệ làm cho lìa cõi cao, là sắc giới và vô sắc giới.

    6)  Vì trí tuệ làm cho dứt được phiền não vi tế là vô minh, chắc chắn.

    7)  Vì trí tuệ trừ hết phiền não dính chắc trong tâm (thành thói quen).

    8)  Vì trí tuệ làm cho rời tất cả loại tà kiến, hẳn thật.

    9)  Vì trí tuệ làm cho đắc quả cuối cùng là A-la-hán quả.

    Do 9 nguyên nhân đó nên bậc trí tuệ mới gọi trí tuệ là nền tảng Phật giáo thứ ba.

    Lời vấn về trí tuệ

    1)  Kā paññā: Tiếng trí tuệ nói về cái chi?

    2)  Kenatthenapaññā: Gọi là trí tuệ có ý nghĩa thế nào?

    3)  Kānassa lakkhanarasa paccuppatthānapadaṭhānāni: Tiếng trí tuệ đó có tướng, sự, điều rõ rệt và nơi sanh thế nào?

    4)  Katividhāpaññā: Trí tuệ có mấy loại?

    5)  Kathaṃbhāvetabbā: Thế nào làm cho trí tuệ phát sanh được?

    6)  Paññābhāvanāya: Cái chi là quả báo của trí tuệ (nghĩa là tiếng trí tuệ xinh đẹp thế nào?)

    KĀ PAÑÑĀ: TIẾNG TRÍ TUỆ NÓI VỀ CÁI CHI?

    Đáp câu hỏi thứ nhứt: Trí tuệ có nhiều loại, song, khép là nền tảng Phật giáo đây, ám chỉ lấy trí tuệ là sự hiểu biết phân minh, gồm có thiện tâm, gọi theo Phạn ngữ là Vipassanānāna dịch là Minh sát (nhờ xem xét mà được sáng suốt).

     

    KENATTHENAPAÑÑĀ: GỌI LÀ TRÍ TUỆ CÓ Ý NGHĨA THẾ NÀO?

    Đáp câu hỏi thứ hai: Trong tiếng hỏi rằng ‘gọi là trí tuệ có ý nghĩa thế nào đó?’ Đáp: có nghĩa là thông hiểu là hiểu suốt các pháp, nếu chưa hiểu suốt, không gọi là trí tuệ, nên gọi bằng cách khác, là gọi tưởng (saññā) hoặc thức (viññāna) có lời giải như vầy:

    Sự biết cảnh giới là chỉ biết rằng vật này xanh hay vàng... song, không thấu đến tướng của các vật đó rằng là vật không bền, là khổ, là vô ngã, gọi là ‘tưởng’. Sự rõ cảnh giới là biết rằng cái này là vật xanh hoặc vàng và hiểu biết cái tướng của những vật đó nữa, rằng là vật vô thường, khổ não, vô ngã nhưng không có khả năng cho thành đạo, quả được; sự hiểu biết như đây thuộc về ‘thức’ (viññāna). Về phần nhận biết cảnh giới, là hiểu rằng cái này là vật xanh hoặc vàng, biết cái tướng của các vật đó đều là vô thường, khổ não, vô ngã, thêm có thể cho đạt Thánh đạo, Thánh quả nữa; sự thông rõ cách như đây gọi là trí tuệ (pañña) là ‘minh sát tuệ’ (vipassanānāna) bao hàm thiện tâm. Thí dụ ‘tưởng’ như trẻ con biết rõ bạc; ‘thức’ như dân quê không có sự kinh nghiệm trong bạc; ‘trí tuệ’ như quan ngân khố chuyên môn trong bạc, lãnh trách nhiệm là người quản khố. Khi ba người đó thấy bạc vào, thì có sự hiểu biết thô hiển và vi tế khác nhau từng bực, thế nào ‘tưởng’, ‘thức’ và ‘tuệ’ hằng có nhiệm vụ biết thô hiển và vi tế hơn nhau vậy.

    Lại nữa, sự hiểu bằng ‘tưởng’ thuộc về tâm nghĩ nhớ; sự biết bằng ‘thức’ thuộc về sự hiểu trong khi tiếp xúc các cảnh giới bằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, song không thông suốt, không chuyên môn trong những vật đó hoặc trong cảnh giới đó.

    Phần trí tuệ nhận thức bằng sự kinh nghiệm là thông rõ các nhân quả rằng: vật này có nhân và quả thế nào?

     KĀNASSA LAKKHANARASA PACCUPPATTHĀNAPADAṬHĀNĀNI: TIẾNG TRÍ TUỆ ĐÓ CÓ TƯỚNG, SỰ, ĐIỀU RÕ RỆT VÀ NƠI SANH THẾ NÀO?

    Đáp câu hỏi thứ ba: Trong lời hỏi: Trí tuệ có tướng, vị, điều rõ rệt, nơi sanh thế nào đó. Có lời đáp rằng: Sự soi thấu là hiểu rõ đến cái tự nhiên của ngũ uẩn trong đời, là tướng của trí tuệ; sự chùi lau cái tối tăm, là si mê che án trạng thái các pháp, không cho thấy rõ chơn tướng của sự vật là vị của trí tuệ, là nhiệm vụ của trí tuệ; sự không kinh ngạc, dốt nát là điều rõ rệt của trí tuệ; sự trú tâm vững chắc là định tâm, là căn sanh của trí tuệ, nghĩa là trí tuệ phát sanh được cũng do thiền định. Giải rằng: khi tâm yên lặng mới sanh trí tuệ, thí như nước im mới thấy rõ những vật trong nước, hoặc nói một lẽ nữa: khi tâm xao động, vì sự vừa lòng và ghét giận trong giờ nào, thì trí tuệ không sanh, ví như nước trong lu mà người ta mới quậy, khi nước còn xáo động, chưa im, chưa trong, thì khó thấy rõ cái chi dưới đáy lu, trừ khi nước trong lu đứng im và trong sạch rồi, mới xem thấy các vật có ở trong lu; nhân đó mới giải rằng thiền định là nhân sanh trí tuệ.

    KATIVIDHĀPAÑÑĀ: TRÍ TUỆ CÓ MẤY LOẠI?

    Đáp câu hỏi thứ tư: trí tuệ có mấy loại?

    Đáp: Nếu giải theo tướng của trí tuệ thì chỉ có một là ‘hiểu thấu trạng thái các pháp theo chơn lý’, nhưng nếu giải theo phương pháp của trí tuệ, thì có nhiều loại, chia thành phần 2, 3, 4 như sẽ giải dưới đây là:

    Trí tuệ phần thứ hai

    Ý nghĩa thứ nhứt: lokīyapaññā: trí tuệ trong đời; lokuttarapaññā: trí tuệ ngoài đời. Ý nghĩa thứ hai: sāsavapaññā: trí tuệ có āsava(18); anāsāvapaññā: trí tuệ không có āsava. Ý nghĩa thứ ba: nāmavavaṭṭhāpanapaññā: trí tuệ phân biệt danh; rūpavavaṭṭhāpanapaññā: trí tuệ phân biệt sắc. Ý nghĩa thứ tư: somanassasahaggatapaññā: trí tuệ bao hàm hoan hỷ; upekkhāsahaggatapaññā: trí tuệ bao hàm vô ký. Ý nghĩa thứ năm: dassanabhūmipaññā: trí tuệ bực hiểu thấy; bhāvanābhūmipaññā: trí tuệ bực đào luyện.

    Lời giải về trí tuệ phần thứ nhì:

    Ý nghĩa thứ nhứt: Tiếng nói ‘trí tuệ trong đời’ là trí tuệ gồm có phàm đạo, thuộc về thế gian là trí tuệ trong đường đời. Tiếng nói ‘trí tuệ ngoài đời’ là trí tuệ bao hàm Thánh đạo là trí tuệ xuất thế,

    Ý nghĩa thứ hai: Tiếng nói ‘trí tuệ không có āsava’, phiền não là cảnh giới, là trí tuệ cố chấp các phiền não là cái chăm giữ, thuộc về trí tuệ của tất cả phàm nhơn.

    Ý nghĩa thứ ba: Câu ‘trí tuệ phân biệt danh’ nói về trí tuệ chia danh pháp là thọ, tưởng, hành, thức là cảnh giới do cách quán tưởng cho thấy rằng có trạng thái ra sao, theo căn cứ phép minh sát. Câu ‘trí tuệ phân biệt sắc’ nói về trí tuệ chia sắc pháp, sắc thân ra cảnh giới theo căn cứ phép minh sát.

    Ý nghĩa thứ tư: Câu ‘trí tuệ gồm có hoan hỷ’ nói về trí tuệ vui mừng trong việc lành, trong cõi dục, có ngũ dục là cảnh giới. Hoặc giải một lẽ nữa, là điều thiện cho thọ sanh trong dục giới (cõi người và cõi trời). Câu ‘trí tuệ bao hàm vô ký’ nói về trí tuệ có trong tâm của bậc đắc tứ định (thiền xuất thế).

    Ý nghĩa thứ năm: Câu ‘kiến xứ trí tuệ’ nói về trí tuệ thấy rõ xuất thế, pháp bậc đầu đà là bậc Tu-đà-huờn đạo. Câu ‘trí tuệ bậc đào luyện’ nói về bậc trí tuệ rèn tập ba Thánh pháp phần cuối cùng là bậc Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán.

    Trí tuệ phần thứ ba

    Ý nghĩa thứ nhứt: cintā mayapaññā: trí tuệ kết quả do sự tưởng nghĩ; sutāmayapaññā: trí tuệ kết quả do sự nghe thấy; bhāvanāmayapaññā: trí tuệ thành tựu do sự đào luyện. Ý nghĩa thứ hai: parittārammaṇapaññā: trí tuệ có cảnh giới ít; mahaggatārammaṇapaññā: trí tuệ có cảnh giới nhiều; appamāmārammanapaññā: trí tuệ có cảnh giới vô lượng. Ý nghĩa thứ ba: āyakosallapaññā: trí tuệ sáng trí trong đường tiến hóa; apāyakosallapaññā: trí tuệ sáng trí trong đường hư hoại; upāyakosallapaññā: trí tuệ sáng trí trong phương pháp. Ý nghĩa thứ tư: ajjhattabhinivesāpaññā: trí tuệ trụ vững trong phía trong; bahiddhābhinivesāpaññā: trí tuệ trụ vững trong phía ngoài; ajjhattābhiddhābhinivesāpaññā: trí tuệ trụ vững cả phía trong và phía ngoài.

    Lời giải về trí tuệ phần thứ ba:

    Ý nghĩa thứ nhứt: Câu ‘trí tuệ kết quả do sự tưởng, nghĩ’ nói về trí tuệ phát sanh do sự suy nghĩ của mình, là sự thông suốt trong điều mình làm, mình nói, không nương theo sự nghe, hay lời dạy bảo cuẩ kẻ khác. Câu ‘trí tuệ thành tựu do sự nghe’ nói về trí tuệ phát sanh nương theo sự thính pháp, học hỏi, hoặc bắt chước kiểu mẫu của người. Câu ‘trí tuệ kết quả do sự đào luyện’ nói về trí tuệ phát sanh do sự rèn tập theo phương pháp mà mình đã suy nghĩ hoặc đã nghe rồi. Ám chỉ rằng khi đã suy nghĩ và nghe rồi tinh tấn trong các pháp đã nghĩ và đã nghe.

    Ý nghĩa thứ hai: Câu ‘trí tuệ có cảnh giới ít’ nói về trí tuệ cõi dục là sự hiểu biết ngũ uẩn ở trong dục giới. Câu ‘trí tuệ có cảnh giới nhiều’ nói về trí tuệ cõi sắc và vô sắc, là sự hiểu biết ngũ uẩn trong cõi sắc và vô sắc. Câu ‘trí tuệ có cảnh giới vô lượng’ nói về trí tuệ bậc xuất thế, là cõi có Niết-bàn là cảnh giới.

    Ý nghĩa thứ ba: Câu ‘trí tuệ là sự sáng trí trong đường tiến hóa’ nói về sự hiểu biết trong biệc lành, trong đường tấn hóa. Câu ‘trí tuệ là sự sáng trí trong đường hư hại’ nói về sự hiểu biết trong đường không tốt, không tiến hóa, tức là sự hiểu biết điều tiêu hoại của ngũ uẩn. Câu ‘trí tuệ là sự sáng trí trong phương pháp’ nói về sự thông hiểu trong cách thức làm cho kết quả lành, hoặc thành tựu công việc.

    Ý nghĩa thứ tư: Câu ‘trí tuệ bền chắc trong phía trong’ nói về trí tuệ quán tưởng ngũ uẩn của mình là cảnh giới, là suy gẫm thân thể của mình theo căn cứ pháp minh sát. Câu: ‘trí tuệ vững chắc trong phía ngoài’ nói về sự trầm tư ngũ uẩn của người khác, là cảnh giới, là sự nghĩ ngợi thân thể của người khác theo căn cứ pháp minh sát. Câu: ‘trí tuệ kiên cố cả phía trong và phía ngoài’ nói về trí tuệ yên tịnh suy nghĩ cả ngũ uẩn của mình và của người khác là cảnh giới theo căn cứ pháp minh sát.

    Trí tuệ phần thứ tư

    Ý nghĩa thứ nhứt: dukkhasaccapaññā: trí tuệ nghĩ ngợi khổ đế; dukkhasamudhapaññā: trí tuệ quán tưởng tập đế; dukkhanirodhapaññā: trí tuệ mặc tưởng diệt đế; dukkhamirodhagāmīnīpaṭipadepaññā: trí tuệ trầm tư đạo đế. Ý nghĩa thứ hai: atthapaṭisambhidāpaññā: trí tuệ tinh thông trong lý luận; dhammapaṭisambhidāpaññā: trí tuệ tinh thông trong pháp; niruttipaṭisambhidāpaññā: trí tuệ tinh thông trong tiếng nói; paṭibhāṇapaṭisambhidāpaññā: trí tuệ tinh thông trong sự sắc xảo.

    Lời giải về trí tuệ phần thứ tư:

    Ý nghĩa thứ nhứt: Câu ‘trí tuệ nghĩ ngợi khổ đế’ nói về trí tuệ suy nghĩ khổ đế, hiểu suốt trong khổ đế được chu đáo, về phần trí tuệ thứ 2, 3, 4 không được giảng nên so sánh với ý nghĩa thứ 1 như đã giảng, gồm có ý nghĩa rèn tập phép Tứ diệu đế.

    Ý nghĩa thứ hai: Câu ‘trí tuệ thông suốt trong lý luận’ nói về trí tuệ: tinh thông trong các pháp từ các nhân mà sanh, tinh thông trong yếu điểm của một vấn đề mà người đã phát biểu, tinh thông trong sự kết quả, tinh thông trong sự hành vi. Câu ‘trí tuệ tinh thông trong tiếng nói’ tức là trí tuệ thông hiểu trong ngũ căn, là phạm ngữ. Câu ‘trí tuệ tinh thông trong sự sắc xảo’ tức là trí tuệ hiểu biết rành rẽ trong tất cả ngũ uẩn, thông suốt bằng cách cấp tốc.

    Bốn trí tuệ tinh thông đó chia ra làm hai là: hữu học đảng cấp nói về bậc hữu học (Tu- đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm); vô học đảng cấp thuộc về A-la-hán. Bốn trí tuệ tinh thông đó, được hoạt bát do 5 phương pháp: đắc A-la-hán, học Phật ngôn, chú tâm nghe pháp, tra hỏi những điều hoài nghi, thường hay rèn tập trong pháp minh sát.

    Lẽ nữa, là tinh thông lưu loát trong 8 nhân là: rèn tập trong pháp minh sát, năng nghe pháp, thông biết trong các thứ tiếng, năng học Phật ngôn, hay hỏi, đắc đạo quả, nương theo chơn sư, gần bạn lành.

     

    KATHAṂBHĀVETABBĀ: THẾ NÀO LÀM CHO TRÍ TUỆ PHÁT SANH ĐƯỢC?

    Đáp câu hỏi thứ năm: thế nào làm cho trí tuệ được phát sanh?

    Đáp: Phải hành theo 3 nguyên tắc như sau đây. Ba nguyên tắc làm cho phát sanh trí tuệ là: phải làm căn bản của trí tuệ cho chơn chánh, phải làm nguồn của trí tuệ cho chơn chánh, phải làm thân của trí tuệ cho chơn chánh.

    Câu ‘căn bản của trí tuệ’ nói về pháp sanh trí tuệ nhứt là Ngũ uẩn (Khandha), Lục nhập (Āyatana), Ngũ căn (Indriya), Tứ diệu đế (Sacca), Thập nhị duyên khởi (Paṭiccasamapāda).

    Câu ‘nguồn cúa trí tuệ’ nói về hai pháp là: giới (sīla), định (samadhi). Nhưng về phần giới và định tinh khiết gọi theo Phạm ngữ là giới tinh khiết (silavisuddhi) và định tinh khiết (cittavisuddhi).

    Tiếng ‘thân của trí tuệ hoặc vọng của trí tuệ’ nói về 5 pháp là: kiến tinh khiết, vô nghi nhân duyên tinh khiết, kiến đạo vô đạo tinh khiết, đạo tuệ kiến tinh khiết, tuệ kiến tinh khiết. Lời giải về 5 pháp tinh khiết như vầy: Câu ‘kiến tinh khiết’ gọi theo Phạm ngữ là diṭṭhivisuddhi tức là sự hiểu rõ danh và sắc bằng cách rõ rệt. Câu ‘vô nghi nhân duyên tinh khiết’ gọi theo Phạm ngữ là kaṅkhāvitara visuddhi tức là sự hoài nghi trong nhân duyên của danh và sắc, có trong hiện tại, quá khứ, vị lai, do sự phân biệt được nhân duyên của danh và sắc rằng: nhân duyên do danh và sắc sanh diệt liên tiếp. Câu ‘kiến đạo vô đạo tinh khiết’ gọi theo Phạm ngữ là maggāmagganānadassanavisuddhi, tức là sự hiểu rõ 10 minh sát tùy phiền não là: ánh sáng, biết, no lòng, yên tâm, an lạc, tín ngưỡng, tinh tấn, định tâm, xả, vừa lòng phi thường. Trong vipassana19 có giải rằng: khi 10 pháp đó sanh lên rõ rệt, có năng lực làm cho hành giả hiểu rằng: ta đã đắc đạo quả rồi, hoặc lầm tưởng đó là chánh đạo. Khi nhận thức rằng 10 phép đó chỉ là dụ hoặc thôi, đến khi được rõ như vậy mới gọi là hiểu trong sạch ‘đạo không phải đạo’ của sự hành theo căn cứ vipassana. Câu ‘đạo tuệ kiến tinh khiết’ gọi theo Phạm ngữ là paṭipadānānadassanavisuddhi, tức là minh sát tuệ thứ 9 là saccānulomikaṅāna20. Câu ‘tuệ kiến tinh khiết’ gọi theo Phạm ngữ là Nanadassanavisuddhi, tức là sự hiểu biết trong sạch trong Tu-đà-huờn đạo, Tư-đà-hàm đạo, A-na-hàm đạo, A-la-hán đạo.

    Giải về phương pháp hành theo 3 nguyên tắc.

    Câu ‘phải làm căn bản của trí tuệ cho chơn chánh’ là phải học và hỏi cho thông hiểu trong 5 căn pháp của trí tuệ như đã có giải rồi, cho hiểu được chơn chánh. Câu ‘phải làm nguồn trí tuệ cho chơn chánh’ là phải tu giới cho trong sạch, định tâm cho vững chắc y theo phương pháp đã giảng trong nền tảng Phật giáo thứ 1 và thứ 2, rồi mới nên làm thân hoặc gọng của trí tuệ, là 5 pháp tinh khiết như đã giải tóm tắt, cho phát sanh lên. Câu ‘phải làm cho thân của trí tuệ cho chơn chánh’ là 5 pháp tinh khiết cho kết quả từng bậc như dưới đây.

    Phương pháp sanh kiến tinh khiết (diṭṭhivisuddhi).

    Phương pháp làm cho sanh kiến tinh khiết (diṭṭhivisuddhi) là sự thông hiểu trong sạch làm cho sanh sự hiểu biết trong sạch đến hành giả tu pháp chỉ quán, cho đến khi được kết quả là đắc thiền. Sau khi phân biệt chi thiền và pháp liên can chi thiền cho biết, nhứt là cái tướng và trách nhiệm của chi thiền và pháp quan hệ của chi thiền. Khi đã phân biệt rồi, cần phải quan sát 5 điều của chi thiền và pháp liên can với chi thiền. Cả thảy toàn là danh pháp và phải nghĩ liên tiếp rằng các danh pháp đó nương với cái chi? Khi thấy rằng nương với sắc thì có trong sắc pháp, rồi phải nhận thức rằng: các pháp có tướng tiêu diệt toàn là sắc pháp. Điều dạy phải hành như thế cho đúng theo chơn lý của sự quán tưởng trong danh pháp và sắc pháp, ví như người gặp rắn trong nhà rồi tìm chỗ ở của rắn. Điều thí dụ đây chỉ cho thấy rằng: khi rõ danh pháp rồi phải tìm nơi trú của danh pháp.

    Phần hành giả tu minh sát khi muốn hành cho ‘sự hiểu biết trong sạch phát sanh’ dạy phải dùng: 4 dhātu (tứ đại); 18 dhātu (6 căn, 6 trần,6 thức); āyatana (duyên (sanh tội phước) hoặc nơi trú của tâm và tâm sở (lục nhập); ngũ uẩn. Và quán tưởng theo ý nghĩa cho đến khi dứt sự phỏng đoán rằng: người, thú, thấy danh và sắc chỉ là dhātu, āyatana, khandha. Tỉnh trí chú tâm trong vô si mê xứ (asammohabhumi) là chỗ không hiểu lầm, tưởng quấy mới gọi kiến tinh khiết, là sự hiểu biết trong sạch.

    Phương pháp làm cho dứt sự hoài nghi (kaṅkhāvitaranavisuddhi).

    Trong phương pháp này dạy hành giả phải quán tưởng tìm cho thấy nhân duyên của danh sắc. Phải làm giống như y sĩ tìm căn bịnh hoặc như người có tâm từ bi, thấy đứa bé bị bỏ ở bên đường, họ nghĩ nhớ đến cha mẹ đứa bé đó rằng: trẻ này là con của ai hả?

    Cách thức quán tưởng đó phải quán sát rằng: danh và sắc này phải có nhân duyên, không phải, nhứt là cái sanh lên trong hoa sen hoặc trong ngọc Mani, là cái sanh trong lòng mẹ. Khi đã xét như thế đó sẽ bắt lấy được nhân duyên của các sắc, là nhận thấy được rằng: vô minh (avijjā), ái dục (taṇhā), thủ (upādāna), nghiệp (kamma), thực phẩm (āhāra) là 5 nhân duyên danh sắc, 6 cửa, 6 cảnh giới là duyên của danh.

    Lại nữa duyên cho sanh danh và sắc là: vô minh (avijjā), hành (saṅkhāra), thức (viññāṇa). Theo lời Phật thuyết để trong thập nhi duyên khởi (paticcasamupāda). Lẽ nữa, nhân và duyên của danh sắc đó nói về 5 pháp vô minh, hành, ái dục, thủ, hữu (nói về tác ý nghiệp).

    Hơn nữa, duyên của danh và sắc nói về 4 nghiệp: nghiệp cho quả hiện tại (hành do tác ý đầu tiên), nghiệp cho quả trong kiếp thứ nhì (hành bằng tác ý thứ 7)21, nghiệp cho quả trong kiếp sau sau (hành bằng tác ý thứ 5), nghiệp không cho quả (hành do tác ý đầu không có thể cho quả hiện tại).

    Thêm nữa nói về 4 nghiệp là: 1) nghiệp nặng: nói về ngũ nghịch đại tội; 2) nghiệp nhiều: đã làm nhiều rồi; 3) nghiệp gần: nghiệp mà người nhớ được trong giờ hấp hối; 4) nghiệp có thể cho thọ sanh trong khi không có 3 nghiệp trên.

    Lại nữa nói về 4 nghiệp là: 1) nghiệp cho thọ sanh (là nghiệp sanh ngũ uẩn trong cõi dục sắc và vô sắc); 2) nghiệp hộ trợ (là nghiệp cho sanh sự vui, khổ đến ngũ uẩn trong 3 cõi); 3) nghiệp hại là hại cái khổ và cái vui mà các nghiệp khác đã cho sanh; 4) nghiệp sát (là nghiệp giết quả của nghiệp khác). Khi nắm lấy được duyên cho sanh danh và sắc, như đã giải theo các ý nghĩa đó, rồi sẽ được dứt sự hoài nghi trong danh và sắc rằng: cái chi cho danh và sắc sanh? Và hết ngờ rằng : danh và sắc quá khứ hoặc vị lai có hay không, hoặc có ngay trong hiện tại, cũng không còn tin trong 62 tà kiến và sự hiểu lầm của các vị giáo sư khác rằng: danh và sắc là trường tồn.

    Được thấy như thế đó mới gọi là dứt hoài nghi (kaṅkhāvitaranavisuddhi).

    Phương pháp làm cho sanh ‘đạo vô đạo tuệ kiến tinh khiết’ (Maggāmagganānadassavisuddhi).

    Phương pháp này dạy phải hành theo phương pháp minh sát.

    Nói về 3 phép quan sát phần đầu của minh sát: 1) sự quán tưởng danh và sắc theo mỗi tướng gọi là nātapariññā; 2) dùng danh và sắc để suy xét theo phổ thông tướng (samannalakkhana) theo ý nghĩa, nhứt là sắc không thường gọi là (tīranapariññā); 3) bỏ sự hiểu lầm trong sắc và danh gọi là pahāṇapariññā.

    Chú Thích: Nātapariññā là sự phân biệt, nhân duyên của danh và sắc là nhân, cho thấu đến tướng của danh và sắc. Tīranapariññā là nhân làm cho rõ thấu các tướng, tức là sự vô thường là khổ, là không phải của ta. Pahāṇapariññā là sự phân biệt cho thấy rằng: danh và sắc toàn là không thường, là khổ não, vô ngã, rồi bỏ không nên chấp nhận rằng là đáng yêu mến, không nên tạo cho có, không đáng giữ vững. Khi đã phân biệt rõ nhân duyên của sắc và danh, do 3 điều phân biệt như đã giải, cho đến khi được thuần thục rồi, thì hằng có 10 minh sát tùy phiền não (vipassanupatilesa) phát sanh lên và chỉ biết rằng: là minh sát tùy phiền não, rồi tiến hành pháp minh sát. Tu như vậy mới gọi là làm cho sanh đạo hay không phải đạo tuệ kiến tinh khiết - maggāmagganānadassavisuddhi là sự hiểu biết rằng: cái chi là đạo hay không phải đạo.

    Đạo hành tuệ kiến tinh khiết (paṭipadānānavisuddhinidesa).

    Phép minh sát là đỉnh tột cao, do thế lực của 8 tuệ và tuệ thông rõ vừa đến chơn lý (saccānulomikanāna) thứ 9, là cái tên của đạo hành kiến tuệ tinh khiết (sự trong sạch của trí tuệ thấy biết đạo hành).

    Xin giải về 8 tuệ là: 1) udyabbayānupassanānāṇa: trí tuệ quán tưởng thấy cả sự sanh và sự diệt, tức là minh sát, đi theo đường đạo cho đến giải thoát phiền não; 2) kaṅkhānupassanānāṇa: trí tuệ quán tưởng thấy sự diệt; 3) bhayatapatthānānāṇa: trí tuệ quán tưởng thấy rõ ngũ uẩn là cái đáng kinh khủng; 4) ādīnavanupassanānāṇa: trí tuệ quán tưởng thấy tội lỗi; 5) nibbidānupassanānāṇa: trí tuệ quán tưởng thấy sự chán ngán; 6) muṅcitukamyatanāṇa: trí tuệ quán tưởng do mong được giải thoát; 7) paṭisaṅkhānupassanānāṇa: trí tuệ quán tưởng do khảo sát tìm đạo; 8) saṅkhārūpekkhānāṇa: trí tuệ quán tưởng do vô ký trong ngũ uẩn. Tiếng ‘saccānulomikanāna’ thứ 9 đây là cái tên anulomanāṇa. Cho nên hành giả mong thực hành đạo tuệ kiến tinh khiết (paṭipadānānadassanāvisuddhi) cho đầy đủ, nên tinh tấn trong các tuệ đó, từ udyabbayānāṇa đến tuệ thứ 9.

    - Phương pháp tiến hành Udyabbayānāṇa là tuệ thứ nhứt.

    Tiếng udyabbayānāṇa dịch là sự thông hiểu sự sanh và diệt cả danh sắc, dạy phải quán tưởng như vầy, phải suy xét rằng cái chi làm cho không thấy vô thường tướng, khổ tướng và vô ngã tướng. Khi đã quán tưởng thì sẽ thấy rằng: sự nối tiếp của sắc làm cho không thấy vô thường tướng; sự thay đổi bốn oai nghi không cho thấy khổ tướng; sự cố chấp rằng nguyên một khối hoặc một đống là nhân không cho thấy vô ngã tướng, khi đã thấy như thế rồi quán tưởng sự liên tiếp của sắc và sự ép buộc, là điều khó khăn trong oai nghi và sự phân danh sắc cho lìa khỏi nhau bằng cách chia tứ đại (dhātu). Khi đã làm được như vậy rồi, ba tướng đó sẽ rõ rệt lên và sẽ có trí nhớ vững chắc trong pháp sanh và diệt của danh và sắc được, gọi là kết quả tuệ thứ nhứt.

    -  Phương pháp tiến hành bhaṅgānupassanānāṇa là tuệ thứ hai.

    Tiếng bhaṅgānupassanānāṇa dịch là suốt thông điều tan rã tiêu diệt. Cách thức tiến hành dạy phải quán tưởng cái tâm diệt; lấy sắc là cảnh giới rằng là không thường, là khổ, là vô ngã, đáng chán ngán, nên lìa tâm yêu mến, nên dứt tình cảm, không nên cố chấp. Khi đã quán tưởng thường như vậy sẽ thấy sự diệt của tất cả ngũ uẩn, như sự tiêu tan của điện chớp, như bọt nước, gọi là đắc thành tuệ thứ hai.

    Tám quả báo của trí tuệ quán tưởng thấy sự tiêu diệt (của ngũ uẩn): bỏ sự thấy trong cõi (đè nén thường kiến), bỏ sự trìu mến trong sanh mạng, thường tinh tấn trong pháp có sự tiến hóa (thiền định, minh sát), nuôi mạng trong sạch, bỏ sự liên can (không bận trong việc nhỏ lớn), lìa sự lo ngại (hết kinh sợ vì không quyến luyến trong cái ta), nhẫn nại và ôn hòa (vì thấy vô thường tướng), nhẫn nại đối với sự ghét, thương (nhẫn nại đối với sự không ưa thích trong chỗ ở thanh vắng và ngũ dục, nghĩa là đè nén được). Nhân đó các bậc tiên sư mới giảng để rằng: bậc trí tuệ thấy rõ 8 đức tính tối thượng đó, hằng quán tưởng bằng trí tuệ thấy sự tiêu diệt, thường thông suốt sự tiêu tan, để đắc pháp bất diệt, như người bị lửa dính nơi chéo y hoặc trên đầu.

    -  Phương pháp tiến hành bhayatapatthānānāṇa là tuệ thứ ba.

    Tuệ thứ ba dịch là sự thông hiểu ngũ uẩn là cái đáng sợ. Dạy phải quán tưởng cho nhiều và khi đã hành thâm rồi, sẽ thấy rõ ngũ uẩn quá khứ cũng đã diệt, ngũ uẩn hiện tại cũng đang diệt, ngũ uẩn vị lai cũng sẽ diệt giống nhau. Chỉ có sự quán tưởng thấy như thế đó, và không lo sợ cái chi cả, ví như người nhìn xem ba đống lửa, chính mình không biết sợ và chỉ nghĩ rằng: người ở trong đống lửa sẽ bị khổ nhiều thôi, hoặc ví như người nhìn xem kẻ bị công kích trong ba mũi lao thôi, phần mình chẳng biết lo sợ chi cả. Lời thí dụ đây như thấy ngũ uẩn trong ba đời. Người đắc bhayatapatthānānāṇa chỉ thấy rằng: cả ngũ uẩn trong tâm thế là khổ thôi, phần mình chẳng có điều chi lo sợ cả; cái rõ rệt đáng lo sợ sanh lên đến người có hai: ngũ uẩn và sự động tác của ngũ uẩn. Có lời chú giải rằng: khi người nghĩ đến vô thường, khổ não, vô ngã của các uẩn rồi, ngũ uẩn và sự động tác của ngũ uẩn sẽ rõ rệt, là cái đáng sợ đến mình, là khi người đó nhớ đến sự tan rã của ngũ uẩn. Khi quán tưởng cái khổ thì sẽ thấy ngũ uẩn thường bị đè ép, quán tưởng về vô ngã sẽ thấy rằng ngũ uẩn là cái rỗng không, không có chủ tể. Nếu đã rõ như thế đó, gọi là đắc Thánh tuệ thứ ba.

    -  Phương pháp tiến triển ādinavanupassanānāṇa là tuệ thứ tư.

    Tuệ thứ tư này dịch là sự thấy tội. Cách thức tiến tới dạy phải quán tưởng bhayatapatthānānāṇa cho nhiều, và khi đã được tăng gia rồi sẽ rõ rằng: cả ngũ uẩn toàn là cái không đẹp, là thấy các cõi như hầm than lửa, tứ đại như bốn rắn độc, ngũ uẩn như đao phủ thủ, lục nhập nội như nhà hoang, lục nhập ngoại như đạo tặc cướp xóm làng, 9 viññānāthiti, sattāvasa(22) như 11 đống lửa cháy hỏa hào, thấy ngũ uẩn rõ rệt như mụt nhọt, bịnh, lao, đao phủ thủ, rồi sẽ dứt sự yêu mến vừa lòng trong ngũ uẩn, sẽ thấy sự sanh và sự động tác của ngũ uẩn toàn là khổ, sẽ rõ sự bất sanh, sự bất động tác của ngũ uẩn toàn là vui. Khi đã thấy như thế đó gọi là đắc tuệ thứ tư.

    -  Phương pháp tiến triển nibbidānupassanānāṇa là tuệ thứ năm.

    Tuệ thứ năm này dịch là rõ biết sự chán ngán. Cách thức quán tưởng dạy phải hành cho nhiều, vì khi đã thường hành rồi sẽ sanh sự chán trong các uẩn, như chim thiên nga ưa ở trên núi, không vừa lòng ao nước, gần kẻ dữ là ao nước dơ bẩn; chim thiên nga hằng ngán ao nước như vậy, chỉ thích ao nước to và sạch thế nào, người đắc nibbidānupassanānāṇa hằng biết chán trong ngũ uẩn, chỉ hài lòng trong sự không có uẩn là điều thanh cao. Khi được rõ như thế đó gọi là đắc tuệ thứ năm.

    -  Phương pháp tiến triển muṅcitukammayatānāṇa(23) là tuệ thứ sáu.

    Tuệ thứ sáu này dịch là thông hiểu sự mong thoát, hoặc mong lánh cho khỏi các uẩn. Cách thức quán tưởng dạy phải hành muṅcitukammayatānāṇa cho nhiều, vì khi đã hành được nhiều rồi sẽ sanh tâm mong ra khỏi ngũ uẩn. Thấy rằng ngũ uẩn toàn là tội, ví như cá mong tránh khỏi lưới, hoặc ếch cầu lìa miệng rắn, hoặc như loài thú mong tránh khỏi bẫy thợ săn. Được như thế gọi là đắc tuệ thứ sáu.

    -  Phương pháp tiến triển paṭisaṅkhānupassanānāṇa(24) là tuệ thứ bảy.

    Tuệ thứ bảy dịch là sự thông hiểu quán tưởng tìm đường tránh khỏi ngũ uẩn. Cách thức quán tưởng dạy phải suy xét ngũ uẩn theo ba tướng là để: không thường, khổ não, vô ngã. Khi quán tưởng như thế đó sẽ thấy toàn là vấn đề vô thường, do các tình trạng, là rõ sự sanh và diệt của tất cả uẩn, là bị bó buộc chật hẹp, không có ai là chủ tể của các uẩn. Khi thấy như vậy gọi là quán tưởng tìm đạo, sẽ đem mình ra khỏi ngũ uẩn. Gọi là đắc thành tuệ thứ bảy.

    -  Phương pháp quán tưởng saṅkhārūpekkhānāṇa(25) là tuệ thứ tám.

    Tuệ này dịch là không quan tâm trong ngũ uẩn có nghĩa rằng không vui không buồn trong tất cả uẩn. Cách thức tiến hành dạy phải phân biệt tất cả uẩn đều là cái rỗng không, trống không vô ngã; khi đã thấy như thế đó rồi sẽ bơ thờ, bỏ lơ trong ngũ uẩn, không vui, không buồn cái chi, gọi là đắc thành tuệ thứ tám.

    Hành giả phân biệt rằng tất cả sự vật toàn là trống không, do trí tuệ đã quán tưởng tìm đường như vậy, hằng phân biệt sự trống không, có hai điều kiện nữa là: trống không lìa cái ta; trống không lìa những cái có ta.

    Sự trống không có bốn điều kiện nữa. Hành giả không thấy cái ta và không thấy cái chi chi khác, trú ở trong đều phụ thuộc của cái ta, như thế đó, rồi phân biệt pháp trống không có bốn điều kiện nữa như vầy: chúng ta không thấy cái ta trong nơi nào, chúng ta không thấy cái ta trong điều liên can đến người nào, chúng ta không thấy cái ta của chúng ta trong nơi nào, chúng ta không thấy cái ta trong người khác rằng: có quan hệ trong nơi nào.

    Sự trống không có sáu điều kiện nữa là: Hành giả phân biệt bốn điều trống không như vậy rồi, hằng phân biệt điều trống không bằng sáu phương pháp nữa rằng: 1) mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm trống không, lìa cái ta hoặc cái có trong ta; 2) mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm lìa cái thường hoặc lìa sự lâu dài; 3) mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm lìa sự bền vững hoặc ly cái bất biến; 4) sắc, tiếng, mùi, vị, đụng chạm, pháp trống không; 5) thức nương mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm trống không; 6) tiếp xúc đường mắt, tai, mũi, lưỡi trông không. Hành giả nên quán tưởng bằng cách thức như thế đó cho đến lão và tử.

    Sự trống không có tám điều kiện nữa: Hành giả phân biệt sự trống không bằng sáu phương pháp đã giải trên rồi, cần phân biệt theo tám phương pháp nữa rằng: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhãn, lão, tử là không bền chắc, lìa khỏi sự bền chắc, đi khỏi sự bền chắc, bằng sự bền chắc rằng là: lâu dài hoặc là vui, là của ta, là thường, là vững chắc, là không thay đổi, như cây sậy, như cây thu đủ v.v...

    Sự trống không có mười điều kiện nữa: Hành giả phân biệt sự trống không bằng tám phương pháp như thế đó rồi, nên phân biệt theo mười cách thức nữa rằng: 1) thấy sắc bằng chút ít nhỏ nhen; 2) trống không; 3) rỗng không; 4) không phải ta; 5) không có chủ tể; 6) không cho làm được theo sở nguyện; 7) không được; 8) không hành theo quyền lực; 9) cái riêng khác; 10) cái im lặng.

    Thấy thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.

    Sự trống không có 12 điều kiện: Hành giả phân biệt sự trống không bằng 10 phương pháp như thế đó rồi, nên phân biệt theo 12 điều kiện nữa là: 1) sắc không phải là thú; 2) không phải là sanh mạng; 3) không phải là người; 4) không phải là người nam; 5) không phải gái; 6) không phải là trai; 7) không phải ta; 8) không phải cái đáng kể là ta; 9) không phải chúng ta; 10) không phải của chúng ta; 11) không phải của người khác; 12) không phải của ai.

    Thọ, tưởng, hành, thức không phải của ai.

    Sự trống không có 42 điều kiện nữa là: Hành giả phân biệt sự trống không theo 12 phương pháp như vầy rồi, cần phân biệt sự trống không theo 42 cách nữa là: 1) thấy sắc là không thường; 2) là khổ; 3) là bịnh hoạn; 4) là mụn nhọt; 5) là cây tên; 6) là cái chập hẹp; 7) là điều đau đớn; 8) là riêng khác; 9) là tai ương; 10) là bất hạnh; 11) là rủi ro; 12) là kinh khủng; 13) là hoạn nạn; 14) là rung động; 15) là tiêu diệt; 16) là không lâu dài; 17) là không có điều phản kháng; 18) là không có nơi kín đáo; 19) là không có nơi nương dựa; 20) là ít oi; 21) là không che chở; 22) là trống không; 23) là trống rỗng; 24) là không phải ta; 25) là không nên hoan hỷ; 26) là tội; 27) là thay đổi; 28) là không có lỗi; 29) là chật hẹp; 30) là người già; 31) là không có sự tiến hóa; 32) là phiền não ngầm; 33) là không có chỗ trú; 34) là hữu vi; 35) là mồi của ma vương; 36) là có pháp sanh; 37) là có pháp già; 38) là có pháp chết; 39) là có pháp buồn khổ thân, tâm chật hẹp; 40) là sanh lên; 41) là diệt lại; 42) là ra đi.

    Thấy thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế đó. Này Mogharāja, hãy có trí nhớ luôn khi, bỏ tà kiến theo sự hiểu rằng là ta, như vậy sẽ sát hại được tử thần.

    - Phương pháp quán tưởng saccānulomikanāṇa là tuệ thứ chín.

    Tuệ này dịch là sự thông rõ vừa đến chơn lý. Cách thức quán tưởng dạy phải suy ngẫm tuệ thứ 8 cho nhiều, vì khi đã suy nghĩ nhiều rồi tâm sẽ định chơn chánh, rồi quán tưởng xen ngũ uẩn bằng phổ thông tướng (samanalakkhana) và phát sanh sự thông hiểu phổ thông tướng. Sự hiểu bực này gọi là (thông rõ vừa đến tuệ phần đầu và vừa đến 37 phần pháp Bồ đề Bodhypakhayakharam) phần cuối cùng gọi là đắc thành tuệ thứ 9.

    Tuệ thứ 9 này gọi là paṭipadānānadassanavisuddhi, dạy phải quán tưởng tuệ thứ 9 cho tinh nhuệ, minh mẫn rồi sẽ đắc Thánh đạo, khi đã đắc 4 Thánh đạo gọi là đã đáp câu hỏi thứ 5.

    PAÑÑĀBHĀVANĀYA: CÁI CHI LÀ QUẢ BÁO CỦA TRÍ TUỆ (NGHĨA LÀ TIẾNG TRÍ TUỆ XINH ĐẸP THẾ NÀO?)

    Đáp câu hỏi thứ sáu: cái chi là quả của trí tuệ?

    Đáp: Quả của trí tuệ có rất nhiều, song nói tóm tắt là pháp minh sát như đã giải trong điều thứ 5.

    Có bốn là: 1) Lau chùi tất cả phiền não, 2) Được nếm vị của Thánh quả, 3) Làm cho nhập diệt thọ, tưởng định được, 4) Làm cho thành bực đáng cúng dường xuất chúng.

    Về phần quả báo của trí tuệ phàm có rất nhiều, song nói tóm tắt chỉ có một, là điều an lạc phát sanh từ quả phúc của sự thành công bằng trí tuệ.

    Trí tuệ tức là pháp minh sát tuệ bao hàm cách thức quán tưởng và quả báo được thọ hưởng, là nền tảng Phật giáo thứ ba.

    Tóm tắt chỉ có bấy nhiêu.

    ‒ Dứt tác phẩm Nền tảng Phật giáo (Pl.2499 – Dl.1955) ‒

    -oo0oo-

    (17) Chia ra nhiều phần để phân xét cho rõ.
    (18) Phiền não ngâm trong tâm.
    (19) Phép minh sát.
    (20) Tuệ thông rõ vừa đến chân lý.
    (21) Xem trong luật xuất gia thứ nhì trang 8 (về tốc lực tâm).
    (22) 7 nơi mà thức đi thọ sanh và 9 cõi của chúng sanh cư trú: loại chúng sanh có thân khác nhau, có tưởng khác nhau (ác đạo, người, cõi dục); loại chúng sanh có thân khác nhau, có tưởng giống nhau (tức là một ít phạm thiên trong cõi sơ thiền); loại chúng sanh có thân giống nhau, có tưởng khác nhau (nói về một ít phạm thiên trong cõi nhị thiền); loại chúng sanh có thân giống nhau, có tưởng giống nhau (nói về một ít phạm thiên trong cõi tam thiền, trời vô tưởng và 4 cõi trời vô sắc).
    (23) Tuệ quán tưởng do mong được giải thoát.
    (24) Tuệ quán tưởng do khảo sát tìm đạo.
    (25) Tuệ quán tưởng do mong được giải thoát

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.