Nghiệp và quả của nghiệp của Đức Phật Gotama

Nghiệp và quả của nghiệp của Đức Phật Gotama

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
    THERAVĀDA

    NỀN TẢNG PHẬT GIÁO
    (MŪLABUDDHASĀSANA)

    QUYỂN I

    TAM BẢO
    (RATANATTAYA)

    Tỳ khưu Hộ Pháp
    (Dhammarakkhita Bhikkhu)

     

    NGHIỆP VÀ QUẢ CỦA NGHIỆP CỦA ĐỨC PHẬT GOTAMA

    * Tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, từ vô thủy đã trải qua vô số kiếp không thể biết, đã từng tạo mọi đại-thiện- nghiệp và đã tạo mọi ác-nghiệp đều được lưu trữ ở trong tâm sinh rồi diệt liên tục từ kiếp này sang kiếp kia, dù cho thân thay đổi theo mỗi kiếp tùy theo nghiệp và quả của nghiệp trong vòng tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài, trong vô số tiền-kiếp ấy, khi chưa phải là Đức-Bồ- tát và khi đã là Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama.

    * Tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là kiếp thí-chủ cúng dường tấm vải cũ đến vị tỳ-khưu sống trong rừng, rồi phát nguyện trong tâm muốn trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác, là kiếp Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng- Giác đầu tiên của Đức-Phật Gotama.

    Vô số tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama không chỉ tiếp tục cố gắng tinh-tấn thực hành bồi bổ cho đầy đủ 30 pháp-hạnh ba-la-mật gọi là đại-thiện-nghiệp ba-la-mật, mà có khi còn tạo mọi ác-nghiệp nữa, cũng đều được lưu trữ tích lũy đầy đủ ở trong tâm sinh rồi diệt liên tục từ kiếp này sang kiếp kia trong vòng tử sinh luân-hồi, mặc dù thân mỗi kiếp thay đổi tùy theo nghiệp và quả của nghiệp, nhưng tất cả mọi đại-thiện-nghiệp và mọi ác-nghiệp vẫn được lưu trữ không hề mất mát một mảy may nào, cho đến kiếp chót là Đức-Bồ-tát Thái-tử Siddhattha trước khi trở thành bậc Thánh A-ra-hán đầu tiên trên toàn cõi-giới chúng-sinh.

    ĐẠI-THIỆN-NGHIỆP BA-LA-MẬT HỖ TRỢ CHO QUẢ

    * Đức-Bồ-tát Thái-tử Siddhattha sinh làm người có đầy đủ 32 tướng tốt của bậc đại-nhân và 80 tướng tốt phụ, đó là quả của đại-thiện-nghiệp 30 pháp-hạnh ba-la-mật của tiền-kiếp Đức-Bồ-tát đã tạo trong vô số kiếp quá-khứ.

    Năm tròn đúng 35 tuổi, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng- Giác Siddhattha ngự đến ngồi trên bồ đoàn quý báu tại cội Đại-Bồ-đề trong khu rừng Uruvelā, thực hành pháp- hành thiền-tuệ, chính đại-thiện-nghiệp 30 pháp-hạnh ba- la-mật hỗ trợ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận được 4 pháp trầm-luân (āsava), mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, đặc biệt diệt tận được mọi tiền-khiên-tật (vāsanā), trở thành bậc Thánh A-ra-hán đầu tiên trong toàn muôn ngàn cõi-giới chúng-sinh, nên gọi là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác độc nhất vô nhị có danh hiệu là Đức-Phật Gotama.

    Khi Đức-Bồ-tát Siddhattha đã trở thành bậc Thánh A- ra-hán đầu tiên gọi là Đức-Phật Gotama thì không còn tạo thêm nghiệp mới nào nữa, bởi vì Đức-Phật và chư bậc Thánh A-ra-hán có tác-ý tâm-sở đồng sinh với duy-tác- tâm, nên tác-ý ấy không gọi là nghiệp, mà chỉ thuộc về pháp không-thiện không-ác (abyākatadhamma) mà thôi.

    Tuy Đức-Phật và chư bậc Thánh A-ra-hán hoàn toàn không tạo thêm nghiệp mới, nhưng vẫn còn tất cả mọi đại-thiện-nghiệp cũ và mọi ác-nghiệp cũ đã tạo từ trước khi trở thành bậc Thánh A-ra-hán, tất cả mọi đại-thiện- nghiệp và mọi ác-nghiệp ấy vẫn còn được lưu trữ ở trong tâm của Đức-Phật, của chư bậc Thánh A-ra-hán.

    Nếu nghiệp cũ nào có cơ hội thì nghiệp cũ ấy cho quả trong kiếp hiện-tại cho đến trước khi Đức-Phật, hoặc chư bậc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết-bàn.

    * Đức-Phật và chư bậc Thánh A-ra-hán sau khi tịch diệt Niết-bàn rồi, thì tất cả mọi đại-thiện-nghiệp cũ và mọi ác-nghiệp cũ ấy đều trở thành vô-hiệu-quả-nghiệp (ahosikamma) không còn cơ hội cho quả được nữa.

    ÁC-NGHIỆP CŨ CỦA ĐỨC-PHẬT GOTAMA

    Đức-Phật thuyết giảng trong bộ Chú-giải Apadāna phần Buddhāpadāna (1) về những ác-nghiệp cũ của Đức-Phật cho quả trong kiếp hiện-tại trước khi tịch diệt Niết-bàn, được tóm lược như sau:

    ĐỨC-BỒ-TÁT HÀNH KHỔ-HẠNH SUỐT 6 NĂM TRƯỜNG

    Trong quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác tiền- kiếp Đức-Phật Gotama, sinh trong dòng họ Bà-la-môn cao quý, tên là Jotipāla, trong thời-kỳ Đức-Phật Kassapa đang còn hiện hữu trên thế gian. Đức-Bồ-tát Jotipāla có tính ngã mạn về dòng dõi, chưa có đức-tin nơi Đức-Phật Kassapa, cho nên, khi nghe đến danh hiệu Đức-Phật Kassapa, Đức-Bồ-tát Jotipāla nói rằng: 

    “Sa-môn ấy không dễ trở thành Đức-Phật Chánh- Đẳng-Giác, trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác là điều khó khăn lắm.” 

    Đức-Bồ-tát Jotipāla có một người bạn thân thiết là Ghaṭikāra vốn là một cận-sự-nam có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật Kassapa. Hằng ngày, bạn Ghaṭikāra thường tác động, khuyến khích Đức-Bồ-tát Jotipāla đến hầu Đức-Phật Kassapa nghe pháp, nhưng lần nào Đức- Bồ-tát Jotipāla cũng không chịu đi. 

    Một hôm, bạn Ghaṭikāra bày kế mời Đức-Bồ-tát Joti- pāla đi đến tắm tại một bến nước gần chỗ ở của Đức- Phật Kassapa và chư tỳ-khưu-Tăng. 

    Khi tắm xong, bạn Ghaṭikāra liền mời Đức-Bồ-tát Jotipāla đi đến hầu Đức-Phật Kassapa nghe pháp, nhưng Đức-Bồ-tát Jotipāla không chịu đi. 

    Bạn Ghaṭikāra cương quyết nói rằng không đi không được, rồi nắm lấy đầu tóc của Đức-Bồ-tát Jotipāla dắt lôi đi, nên Đức-Bồ-tát Jotipāla không còn cách nào khác, đành phải đi theo đến hầu Đức-Phật Kassapa. 

    Khi ngồi lắng nghe Đức-Phật Kassapa thuyết pháp, Đức-Bồ-tát Jotipāla phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức- Phật Kassapa, kính xin Đức-Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật Kassapa. 

    Về sau, tỳ-khưu Jotipāla được Đức-Phật Kassapa thọ ký xác định thời gian rằng: 

    “Trong thời vị-lai, ngay cùng trong kiếp trái đất Bhaddakappa này, vị tỳ-khưu Jotipāla này sẽ trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama.” 

    Như vậy, Đức-Phật Kassapa là Đức-Phật Chánh- Đẳng-Giác thứ 24 cuối cùng thọ ký tỳ-khưu Bồ-tát Jotipāla, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama. 

    Tỳ-khưu Bồ-tát Jotipāla tiếp tục thực hành cho đầy đủ trọn vẹn 30 pháp-hạnh ba-la-mật cho đến kiếp chót là kiếp Đức-Bồ-tát Thái-tử Siddhattha. 

    * Năm 29 tuổi, Đức-vua Bồ-tát Siddhattha từ bỏ cung điện, đi xuất gia. 

    Do khẩu ác-nghiệp cũ xúc phạm đến Đức-Phật Kassapa trong thời quá-khứ ấy, cho nên Đức-Bồ-tát Siddhattha phải chịu thực hành pháp-hành khổ-hạnh (dukkaracariyā) là pháp-khó-hành suốt 6 năm trường ròng rã tại khu rừng Uruvelā. 

    Về sau, từ bỏ pháp-hành khổ-hạnh khó hành ấy, Đức- Bồ-tát Siddhattha thực hành theo pháp-hành trung-đạo dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được 4 pháp trầm-luân (āsava), đồng thời diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, đặc biệt diệt tận được mọi tiền-khiên-tật (vāsanā), trở thành bậc Thánh A-ra-hán đầu tiên trong muôn ngàn cõi-giới chúng-sinh, gọi là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác độc nhất vô nhị có danh hiệu Đức-Phật Gotama. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Trong thời quá-khứ ấy, Như-Lai là Bà-la-môn Jotipāla đã xúc phạm đến Đức-Phật Kassapa rằng: “Sa-môn ấy không dễ trở thành Đức-Phật Chánh- Đẳng-Giác, trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác là điều khó lắm.” Do năng lực của khẩu ác-nghiệp cũ ấy cho quả, khiến Như-Lai phải thực hành pháp-hành khổ-hạnh (dukkara- cariyā) là pháp-khó-hành suốt 6 năm trường ròng rã tại khu rừng gần làng Uruvelā (Đó là khoảng thời gian thực hành pháp-hành khổ-hạnh (dukkaracariyā) lâu hơn chư Phật quá-khứ). Sau khi từ bỏ pháp-hành khổ-hạnh ấy, Như-Lai thực-hành theo pháp-hành trung-đạo dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế không thầy chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán đầu tiên trong muôn ngàn cõi-giới chúng-sinh, gọi là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác. Nay, Như-Lai không còn tạo các thiện-nghiệp và ác-nghiệp mới nào nữa, Như-Lai đã diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não, mọi ác-pháp, không còn khổ tâm nữa. Như-Lai sẽ tịch diệt Niết-bàn. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ NÀNG CIÑCĀMĀṆAVIKĀ VU KHỐNG 

    Trong quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama đã vu khống Ngài Trưởng- lão Nanda, bậc Thánh Thanh-văn đệ-tử của một Đức- Phật quá-khứ. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, khẩu ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh làm chúng-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài hằng ngàn năm, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới thoát khỏi cõi địa-ngục. 

    Mỗi khi được tái-sinh làm người, Đức-Bồ-tát thường bị vu khống những điều xấu, do năng lực của khẩu ác- nghiệp đã tạo trong tiền-kiếp quá-khứ ấy. 

    Kiếp hiện-tại, Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức- Phật Gotama. 

    Đức-Phật ngự đi thuyết pháp tế độ chúng-sinh có duyên lành nên tế độ, họ là các Đức-vua, các quan, các phú hộ, số đông dân chúng, chư-thiên, chư phạm-thiên v.v…chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, số người trở thành bậc Thánh Nhập-lưu, số người trở thành bậc Thánh Nhất-lai, số người trở thành bậc Thánh Bất-lai, số người trở thành bậc Thánh A-ra-hán, trở thành Thánh-nhân bậc nào do năng lực của 10 pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ (indriya): tín pháp-chủ, tấn pháp-chủ, niệm- pháp-chủ, định pháp-chủ, tuệ pháp-chủ của mỗi hàng thanh-văn đệ-tử. 

    Nếu những người nào chưa chứng đắc thành bậc Thánh-nhân thì họ có đức-tin trong sạch, xin quy y nơi Tam-Bảo, trở thành người cận-sự-nam hoặc người cận- sự-nữ, hoặc xin xuất gia trở thành tỳ-khưu trong giáo- pháp của Đức-Phật Gotama. Cho nên, các hàng thanh- văn đệ-tử của Đức-Phật càng ngày càng thêm đông. 

    Thật ra, phần nhiều các hàng thanh-văn đệ-tử ấy trước kia họ là đệ-tử của các phái ngoại đạo, v.v… 

    Nay, Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, họ trở thành các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật Gotama. 

    Đó là điều làm cho các nhóm tu-sĩ ngoại đạo cảm thấy tổn thương rất nhiều, những tín đồ cũ không giữ lại được, tín đồ mới không thêm, cho nên, sự cúng dường, lợi lộc càng ngày càng giảm dần, đời sống của các tu-sĩ ngoại đạo càng ngày càng thiếu thốn, khổ cực hơn xưa. Các nhóm tu-sĩ ngoại đạo họp bàn với nhau, bày mưu tính kế thâm độc để làm hạ uy tín của Đức-Phật. 

    Thời ấy, trong thành Sāvatthi có người kỹ nữ duyên dáng xinh đẹp như thiên nữ tên là Ciñcāmāṇavikā, nàng vốn là đệ-tử ngoan đạo của các tu-sĩ ngoại đạo. Họ nghĩ ra mưu kế thâm độc rằng: 

    “Chúng ta nên dùng nàng kỹ nữ Ciñcāmāṇavikā giả mang thai với Sa-môn Gotama, để gây ra sự hiểu lầm, làm mất uy tín của Sa-môn Gotama.” 

    Một hôm, như lệ thường nàng Ciñcāmāṇavikā đến tu viện ngoại đạo, lạy các tu-sĩ xong, nàng ngồi một bên. Nàng Ciñcāmāṇavikā rất ngạc nhiên không hiểu sao các tu-sĩ ngồi im lặng không nói với nàng một lời nào. Nàng suy nghĩ “chắc mình có lỗi gì đây!” Nàng bạch với vị đạo-trưởng rằng: 

    - Kính bạch Ngài, con đã lễ bái quý Ngài ba lần rồi, nhưng không biết con có lỗi gì mà quý Ngài không nói với con một lời nào? 

    Vị đạo-trưởng tỏ vẻ nghiêm nghị nói với nàng rằng: 

    - Này Ciñcāmāṇavikā con! Con là một đệ-tử ngoan đạo, con không có lỗi gì. Hiện nay đời sống của quý thầy khổ cực, thiếu thốn lắm con à. Vì vậy, quý thầy buồn bực, khổ tâm, không ai buồn nói với ai điều gì. 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā ngạc nhiên nóng lòng hỏi: 

    - Kính bạch quý Ngài, trước đây đời sống của quý Ngài được đầy đủ, sung túc lắm. Sao hiện nay, quý Ngài lại lâm vào hoàn cảnh khổ cực như vậy? 

    - Này Ciñcāmāṇavikā con! Con không biết gì hay sao? Chính Sa-môn Gotama đã làm khổ quý thầy, chính Sa- môn Gotama đã chiếm đoạt những người đệ-tử giàu có, nên quý thầy mất những lợi lộc cúng dường, … Do đó, quý thầy phải sống trong cảnh thiếu thốn khổ cực như vậy. 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā cảm thấy rất khổ tâm thưa rằng: 

    - Kính bạch quý Ngài, vậy mà con có hay biết gì đâu. Không biết con có thể làm gì để giúp đỡ cho quý Ngài? 

    Các tu-sĩ ngoại đạo giả vờ im lặng một lúc rồi có vị nói rằng: 

    - Này Ciñcāmāṇavikā con! Chỉ sợ con ngại khó mà không giúp quý thầy đó thôi! 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā mau mắn đáp: 

    - Không, kính bạch quý Ngài, khó khăn gì con cũng có thể làm được, miễn là làm sao cho quý Ngài được sống an-lạc. Thế là con mãn nguyện lắm rồi. 

    Vị tu-sĩ ngoại đạo nghiêm chỉnh nói rằng: 

    - Này Ciñcāmāṇavikā con! Đây là việc rất hệ trọng, đòi hỏi con phải khôn khéo. Nếu con thật tình muốn giúp đỡ quý thầy thì chỉ có một phương kế duy nhất, con hãy dùng sắc đẹp duyên dáng đầy quyến rũ của con, giả làm người mang thai với Sa-môn Gotama. Nếu con làm được như vậy thì sẽ làm cho Sa-môn Gotama mất uy tín. Chắc chắn phần đông nhóm đệ-tử cũ của chúng ta trước đây sẽ bỏ Sa-môn Gotama, trở về lại với chúng ta. 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā hớn hở nói: 

    - Đúng vậy, kính bạch quý Ngài, kế này rất hay! Xin quý Ngài hãy tin tưởng nơi con, con sẽ cố gắng làm tròn bổn phận, để đền đáp công ơn của quý Ngài đối với con. 

    Từ hôm ấy, vào mỗi buổi chiều, nàng Ciñcāmāṇavikā ăn mặc đẹp đẽ rất quyến rũ, cầm một bó hoa trên tay, trên đường đang đi hướng đến chùa Jetavana, cố ý gặp dân chúng trong thành Sāvatthi, sau khi nghe Đức-Phật thuyết pháp tại chùa Jetavana xong, đảnh lễ Đức-Phật  trở về nhà, có người tò mò dừng lại hỏi cô rằng: 

    - Chiều tối rồi, cô đi đâu mà ăn mặc đẹp vậy? 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā trả lời cố ý gây ra cho mọi người sự nghi ngờ: 

    - Tôi đi đâu là việc của tôi, quý vị biết phỏng có ích lợi gì! 

    Nói xong, nàng liền bước đi về hướng đến chùa Jetavana, nhưng lại nghỉ qua đêm tại một tu viện ngoại đạo ở gần đó. 

    Rồi sáng hôm sau, khi có một số cận-sự-nam, cận-sự- nữ đem những phẩm vật đến chùa Jetavana để cúng dường Đức-Phật và chư tỳ-khưu-Tăng, thì họ gặp nàng Ciñcāmāṇavikā từ hướng chùa Jetavana trở lại kinh-thành Sāvatthi. Người ta lại hỏi nàng rằng: 

    - Đêm hôm qua cô nghỉ ở đâu mà sáng nay lại vào thành sớm vậy? 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā ỡm ờ đáp: 

    - Tôi nghỉ ở đâu có nơi có chỗ của tôi, quý vị biết phỏng có lợi ích gì! 

    Và từ đó, cứ vào mỗi buổi chiều và mỗi buổi sáng, từ tháng này sang tháng khác, nàng Ciñcāmāṇavikā đều làm như vậy. Cho đến một hôm, có số người cận-sự- nam, cận-sự-nữ khác hỏi rằng: 

    - Đêm hôm qua cô nghỉ ở đâu, mà sáng nay lại vào thành sớm vậy? 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā thấy đã đến lúc cần phải nói, để bắt đầu gây ra sự ngờ vực nên trả lời rằng: 

    - Chuyện riêng tư của tôi mà quý vị muốn biết hay sao? Sớm muộn gì quý vị cũng sẽ biết. Nếu quý vị muốn biết bây giờ tôi xin khai thật rằng:  “Đêm qua tôi nghỉ ởGandhakuṭi chung với Sa-môn Gotama, để phục vụ Ngài, đó là một niềm vinh dự lớn lao của đời tôi.” 

    Nói xong, nàng tỏ vẻ đắc ý bỏ vào thành. Khi nghe nàng Ciñcāmāṇavikā nói vậy, số cận-sự-nam, cận-sự-nữ còn là phàm-nhân thiểu-trí, nên sinh tâm bán tín bán nghi. Cho đến khi trải qua 3 - 4 tháng sau, thì nàng Ciñcā-māṇavikā lấy vải độn bụng, mặc áo lụng thụng che bên ngoài, làm như người đang mang thai. 

    Một số phàm-nhân không có trí-tuệ, không hiểu biết về giáo-pháp của Đức-Phật, nên tưởng lầm là nàng Ciñcāmāṇavikā đang mang thai thật. 

    Thời gian đã đến 9 tháng, màn kịch hạ uy tín Đức-Phật đến hồi kết thúc. 

    Nhóm tu-sĩ ngoại đạo gọi nàng Ciñcāmāṇavikā đến, họ dùng một miếng gỗ đẽo hình dạng giống như cái thai sắp đến ngày sinh nở, có bốn đầu dây sẵn, bảo nàng Ciñcāmāṇavikā mang vào buộc chặt sau lưng, mặc áo phủ kín, nhìn giống như người đàn bà mang thai sắp đến thời-kỳ sinh nở. 

    Đức-Phật thắng nàng Ciñcāmāṇavikā 

    Vào một buổi chiều, khi Đức-Phật đang ngự trên pháp tòa tại giảng đường chùa Jetavana, tứ chúng thanh- văn đệ-tử đang ngồi im lặng lắng nghe pháp như thường lệ, thì nàng Ciñcāmāṇavikā từ ngoài xồng xộc đi vào, rồi đến trước Đức-Phật, chỉ tay buông lời mắng nhiếc: 

    - Này ông Đại Sa-môn Gotama! Ông thuyết pháp thật là hay, thật là giỏi, ông tế độ biết bao nhiêu người, còn tôi sao ông không tế độ? Tôi bụng mang dạ chửa là vì ông, ông nói ngon nói ngọt với tôi, bảo là sẽ giúp tôi thế này, thế nọ, ... Hôm nay, sắp đến ngày sinh nở, ông lo thuyết pháp tế độ người khác, chẳng đoái hoài gì đến tôi. Nếu ông bận không lo cho tôi được thì ông bảo những người hộ độ ông như Đức-vua Pasenadi, ông phú hộ Anāthapiṇḍika, bà Visākhā,… lo cho tôi cũng được. Nhưng ông chỉ biết thỏa mãn dục vọng cá nhân, ông không hề biết đến nỗi khổ của tôi, phải chịu bụng mang dạ chửa như thế này! 

    Nghe nàng Ciñcāmāṇavikā mắng nhiếc, Đức-Phật ngưng thuyết pháp, vẫn ngồi an nhiên tự tại, an tịnh trên pháp tòa rồi từ tốn nói: 

    - Bhagini, tayā kathitassa tathabhāvaṃ vā vitatha- bhāvaṃ vā ahameva ca tvañca jānāma.(1) 

    - Này cô! Cô nói lời chân thật hay giả dối, chỉ có Như-Lai và cô biết rõ mà thôi? 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā liền đáp: 

    - Đúng vậy, này ông Đại Sa-môn! Chỉ có tôi và ông biết rõ mà thôi! 

    Ngay giây phút ấy, tại cung trời Tam-thập-tam-thiên bảo tọa của Đức-vua-trời Sakka nóng lên, bằng thiên- nhãn quan sát nguyên nhân, Đức-vua-trời Sakka thấy rõ ràng nàng Ciñcāmāṇavikā đang mắng nhiếc Đức-Phật giữa tứ chúng thanh-văn đệ-tử, bởi những chuyện không có thật. 

    Đây là âm mưu thâm độc của nhóm tu-sĩ ngoại đạo, dùng cô kỹ nữ Ciñcāmāṇavikā vô liêm sĩ, cố ý làm hạ uy tín của Đức-Phật giữa tứ chúng thanh-văn đệ-tử. 

    Đức-vua-trời Sakka quyết định phải làm sáng tỏ chuyện này. Đức-vua-trời Sakka cùng bốn thiên-nam xuất hiện xuống giảng đường chùa Jetavana ngay tức khắc. 

    Bốn vị thiên-nam theo lệnh của Đức-vua-trời hóa thành bốn con chuột, cùng một lúc bò lên cắn đứt bốn sợi dây cột tấm gỗ, hình dạng giống bào thai buộc chặt sau lưng nàng Ciñcāmāṇavikā, đồng thời Đức-vua-trời Sakka hóa một luồng gió thổi cho tấm gỗ kia rơi xuống đất đụng nhằm hai bàn chân của nàng Ciñcāmāṇavikā, làm cho đôi chân của nàng bầm máu. 

    Sự việc xảy ra trong thời gian ngắn ngủi, mọi sự thật hiển nhiên được phơi bày trước mắt tứ chúng thanh-văn đệ-tử. Nàng Ciñcāmāṇavikā bị mắng nhiếc không tiếc lời, có người nhổ nước bọt, rồi xua đuổi nàng ra khỏi khuôn viên ngôi chùa Jetavana. 

    Nàng Ciñcāmāṇavikā thất vọng, thất tha thất thểu bước đi ra vừa khuất tầm mắt của mọi người, mặt đất liền nứt ra làm hai, phát lên một tia lửa thiêu cháy nàng rồi rút xác nàng xuống sâu dưới lòng đất. 

    Sau khi nàng Ciñcāmāṇavikā chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh vào đại địa-ngục Avīci, chịu quả khổ do ác- nghiệp ấy. 

    Chuyện nàng Ciñcāmāṇavikā vu khống Đức-Phật đã lan truyền khắp mọi nơi, từ xứ này sang xứ khác. Và ai ai cũng đều biết đó là âm mưu thâm độc đê tiện của nhóm tu-sĩ ngoại đạo. 

    Một số người trước kia còn hộ độ nhóm tu-sĩ ngoại đạo, nay họ nghe thấy như vậy, mất hết đức-tin, nên không còn phát sinh tâm cúng dường các thứ vật dụng cho nhóm tu-sĩ ngoại đạo nữa. Đời sống của nhóm tu-sĩ ngoại đạo thiếu thốn khổ cực, nay lại càng tệ hại hơn nữa. Dân chúng khắp mọi nơi phát sinh đại-thiện-tâm trong sạch cúng dường Đức-Phật và chư tỳ-khưu-Tăng các thứ vật dụng sung túc. 

    Số người nào chưa có đức-tin thì nay lại có đức-tin nơi Tam-Bảo, số người nào đã có đức-tin nơi Tam-Bảo rồi, đức-tin lại càng thêm tăng trưởng. 

    Đức-Phật đã thắng lời vu khống của nàng Ciñcāmā-ṇavikā nhờ pháp an định (1). 

    Như Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Trong tiền-kiếp quá-khứ, Như-Lai đã từng vu khống Ngài Trưởng-lão Nanda, bậc Thánh Thanh-văn đệ-tử của một Đức-Phật quá-khứ. Sau khi chết, do khẩu ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài hằng ngàn năm, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới được thoát ra khỏi cõi địa-ngục. Mỗi khi được tái-sinh làm người, Như-Lai thường bị vu khống những điều xấu không có thật, do năng lực của khẩu ác-nghiệp mà Như-Lai đã tạo trong thời quá-khứ ấy. Do năng lực của ác-nghiệp cũ ấy còn dư sót chút đỉnh, nên kiếp chót này bị nàng Ciñcāmāṇavikā vu khống Như-Lai những điều không có thật, giữa tứ chúng thanh-văn đệ-tử. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ VU KHỐNG DO TU-SĨ NGOẠI ĐẠO SUNDARĪ 

    Trong quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh trong gia đình thuộc giai cấp thấp, tên là Munāḷi, Đức-Bồ-tát Munāḷi thường thân cận gần gũi với kẻ ác, nên sinh thói hư tật xấu. 

    Một hôm, nhìn thấy Đức-Phật Độc-Giác Surabhi, Đức-Bồ-tát Munāḷi liền buông lời vu khống rằng: 

    - Sa-môn trọc đầu này phá giới! Hành pháp thấp hèn! 

    Sau khi Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác Munāḷi chết, khẩu ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh làm chúng-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài hằng ngàn năm, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi địa-ngục. 

    Mỗi khi được tái-sinh làm người, thường bị vu khống những điều xấu, không có thật. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian. Danh thơm tiếng tốt của Đức-Phật Gotama được lan truyền khắp mọi nơi, mỗi ngày các hàng đệ-tử càng tăng thêm đông, trái lại, đệ-tử của các nhóm ngoại đạo mỗi ngày càng giảm dần, cho nên đời sống của các tu-sĩ ngoại đạo lâm vào cảnh thiếu thốn khổ cực hơn xưa. 

    Vì vậy, họ bày mưu tính kế làm mất uy tín của Đức-Phật Gotama. 

    Thời ấy, nữ tu-sĩ ngoại đạo Sundarī rất xinh đẹp, đến viếng thăm các tu-sĩ ngoại đạo, đảnh lễ xong rồi, thấy nhóm tu-sĩ ngoại đạo ngồi im lặng không nói với cô một lời nào. Cô bèn bạch hỏi: 

    - Kính thưa quý Ngài, con có lỗi gì mà quý Ngài không nói với con lời nào? 

    Một tu-sĩ ngoại đạo than vãn rằng: 

    - Tất cả chúng tôi bị Sa-môn Gotama làm khổ, mà con không quan tâm hay biết gì. Đó là lỗi của con đó! Vậy, con có thể vu khống Sa-môn Gotama được không? 

    - Kính thưa quý Ngài, con có thể làm được. 

    Từ hôm ấy, vào mỗi buổi chiều, nữ tu-sĩ Sundarī cầm một bó hoa trong tay, trên đường đang đi hướng về ngôi chùa Jetavana, cố ý gặp dân chúng trong kinh-thành Sāvatthi, sau khi nghe Đức-Phật thuyết pháp tại ngôi chùa Jetavana xong, đảnh lễ Đức-Phật rồi xin phép trở về nhà, có người tò mò dừng lại hỏi cô rằng: 

    - Chiều tối rồi, cô đi đâu vậy? 

    Nữ tu-sĩ Sundarī trả lời để gây ra một sự nghi ngờ: 

    - Đi đâu là việc của tôi, quý vị biết phỏng có ích lợi gì! 

    Nói xong, cô liền bước đi về hướng ngôi chùa Jetavana, nhưng lại nghỉ qua đêm tại một tu viện ngoại đạo. 

    Sáng hôm sau, khi có số cận-sự-nam, cận-sự-nữ đem phẩm vật đến ngôi chùa Jetavana để cúng dường Đức- Phật và chư tỳ-khưu-Tăng, họ lại gặp nữ tu-sĩ Sundarī từ hướng chùa Jetavana trở lại kinh-thành Sāvatthi. Người ta hỏi cô rằng: 

    - Đêm hôm qua cô nghỉ ở đâu mà sáng nay lại vào kinh-thành sớm vậy? 

    Nữ tu-sĩ Sundarī muốn gieo rắc hoang mang, nên ỡm ờ đáp rằng: 

    - Chuyện riêng tư của tôi mà quý vị muốn biết hay sao? Nếu quý vị muốn biết, thì tôi sẽ nói thật: “Đời tôi rất vinh hạnh, ban đêm được đến phục vụ Sa-môn Gotama tại cốc Gandhakuṭi của Ngài.” 

    Nhóm tu-sĩ ngoại đạo chờ tin này, nay có cơ hội, họ liền truyền tin vu khống rằng: 

    - Thưa tất cả quý vị, quý vị đã nghe rõ hành vi xấu xa của Sa-môn Gotama như vậy! 

    Chính nữ tu-sĩ Sundarī cũng rêu rao vu khống hành vi xấu của Đức-Phật đối với cô nữa, gieo rắc hoang mang, gây ra sự ngờ vực đến mọi người. 

    Đối với các hàng Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức- Phật thì chắc chắn không bao giờ tin lời vu khống của các tu-sĩ nhóm ngoại đạo và của nữ tu-sĩ ngoại đạo Sundarī; còn đối với một số phàm-nhân thiểu-trí thì phát sinh tâm ngờ vực. 

    Đó là âm mưu của các tu-sĩ ngoại đạo để làm giảm uy tín của Đức-Phật, để mong phục hồi uy tín của mình. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Trong tiền-kiếp, Như-Lai là người si mê tên Munāḷi đã xúc phạm đến Đức-Phật Độc-Giác Surabhi. Sau khi Munāḷi chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, phải chịu khổ suốt thời gian lâu dài nhiều ngàn năm, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy. Do năng lực ác-nghiệp cũ ấy còn dư sót chút đỉnh, trong kiếp hiện-tại này Như-Lai bị vu  khống do nữ tu-  sĩ ngoại đạo Sundarī. 

    * Đức-Phật và chư tỳ-khưu bị vu khống giết nữ tu-sĩ Sundarī để giấu tội-lỗi (Abbhakkhāna) 

    Trong quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh ra trong gia đình thuộc dòng dõi Bà-la-môn, Đức-Bồ-tát là bậc đa văn túc trí, học nhiều hiểu rộng, tinh thông các bộ sách Bà-la-môn. Đức-Bồ-tát làm thầy dạy nhóm đệ-tử 500 vị bà-la-môn tại khu rừng dưới chân núi Himavanta. 

    Một hôm, có vị đạo-sĩ chứng đắc bát-thiền (1), ngũ thông (2) có nhiều oai lực đến tu viện của Đức-Bồ-tát. Đức-Bồ-tát gặp vị đạo-sĩ này liền phát sinh tâm ganh tị, nên vu khống vị đạo-sĩ này rằng: 

    - Vị đạo-sĩ này là người lừa dối, thích hưởng dục lạc trong ngũ dục, ... 

    Đức-Bồ-tát còn nói với nhóm đệ-tử của mình rằng: 

    - Vị Đạo-sĩ ấy là người lừa dối, thích hưởng dục lạc trong ngũ dục, ... 

    Nhóm đệ-tử tin theo lời của thầy, đi vào xóm làng khất thực, cũng nói xấu vị đạo-sĩ ấy như vậy. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh làm chúng-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài hằng nhiều ngàn năm, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới được thoát ra khỏi cõi địa-ngục. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian. Các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật càng ngày càng tăng thêm đông, danh thơm tiếng tốt của Đức-Phật được lan truyền khắp mọi nơi, từ vua chúa, các nhà phú hộ, phần đông dân chúng phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo. Họ cúng dường bốn thứ vật dụng đầy đủ sung túc. 

    Trái lại, các nhóm ngoại đạo, phần đông tín đồ ngoại đạo từ bỏ các tu-sĩ ngoại đạo, đến kính xin quy y nương nhờ nơi Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức-Tăng. Họ không còn hộ độ cúng dường đến các tu-sĩ ngoại đạo, cho nên, đời sống các tu-sĩ ngoại đạo càng ngày càng thiếu thốn khổ cực hơn trước. 

    Dù các tu-sĩ ngoại đạo và nữ tu-sĩ Sundarī vu khống Đức-Phật những điều xấu không có thật, vẫn không làm giảm uy tín Đức-Phật được, nên nhóm tu-sĩ ngoại đạo dùng đến thủ đoạn thâm độc là thuê mướn nhóm côn đồ nghiện rượu giết nữ tu-sĩ ngoại đạo Sundarī, rồi giấu xác chết của cô trong đống rác trước cổng ra vào ngôi chùa Jetavana. 

    Nhóm côn đồ nghiện rượu đã hành động y theo kế của tu-sĩ ngoại đạo. 

    Sau đó, nhóm tu-sĩ ngoại đạo xin vào trình Đức-vua Pasenadi Kosala tâu rằng: 

    - Tâu Đức-vua, tu-nữ Sundarī, đệ-tử của chúng tôi đã mất tích. 

    Đức-vua truyền lệnh cho phép đi tìm kiếm nữ tu-sĩ Sundarī. Nhóm tu-sĩ ngoại đạo kéo nhau giả bộ đi tìm, đến gặp xác chết nữ tu-sĩ Sundarī trong đống rác trước cổng ra vào ngôi chùa Jetavana, họ đặt xác chết nữ tu-sĩ Sundarī trên cáng đem vào trình Đức-vua, rồi khiêng đi quanh thành Sāvatthi rêu rao vu khống rằng: 

    - Thưa tất cả quý vị, xin quý vị hãy xem hành vi xấu xa của Sa-môn Gotama và nhóm đệ-tử của ông, họ đã giết chết nữ tu-sĩ Sundarī, đệ-tử ngoan đạo của chúng tôi, để che giấu tội-lỗi của Sa-môn Gotama. 

    Đức-vua Pasenadi Kosala anh minh và sáng suốt, truyền lệnh quân lính đi điều tra tìm rõ kẻ đã giết nữ tu- sĩ Sundarī. 

    Khi ấy, nhóm côn đồ nghiện rượu đang uống rượu say sưa rồi cãi cọ với nhau và đổ lỗi cho nhau rằng: 

    “Mày giết nữ tu-sĩ Sundarī. Không phải tao, mà chính mày.” 

    Lính triều đình nghe được câu chuyện, liền bắt nhóm côn đồ nghiện rượu đem trình lên Đức-vua xét hỏi. 

    Đức-vua truyền hỏi: 

    - Các ngươi đã giết chết nữ tu-sĩ Sundarī có phải không? 

    - Muôn tâu Đức-vua, dạ phải, chính bọn tiện dân này giết nữ tu-sĩ Sundarī. 

    Đức-vua truyền hỏi tiếp: 

    - Ai thuê mướn các ngươi giết chết nữ tu-sĩ Sundarī. 

    Nhóm côn đồ nghiện rượu liền khai thật rằng: 

    - Muôn tâu Đức-vua, chính nhóm tu-sĩ ngoại đạo thuê mướn chúng tiện dân giết chết nữ tu-sĩ Sundarī, rồi bảo chúng tiện dân đem giấu xác chết của cô trong đống rác trước cổng ra vào của ngôi chùa Jetavana. 

    Đức-vua liền truyền lệnh cho bắt nhóm tu-sĩ ngoại đạo, bắt chúng phải nhận tội, rồi phải đi quanh thành Sāvatthi đính chính lại lời vu khống Đức-Phật Gotama và chư tỳ-khưu trước kia rằng: 

    - Kính thưa tất cả quý vị, chính chúng tôi là người đã thuê mướn nhóm côn đồ nghiện rượu giết chết nữ tu-sĩ Sundarī, để đổ tội cho Sa-môn Gotama và nhóm tỳ-khưu thanh-văn đệ-tử của Sa-môn Gotama. Sự thật, Đức-Phật Gotama và nhóm tỳ-khưu thanh-văn đệ-tử của Sa-môn Gotama là hoàn toàn vô tội. 

    Khi nhóm tu-sĩ ngoại đạo làm như vậy, dân chúng trong kinh-thành Sāvatthi không còn ngờ vực gì nữa. Đức-vua bắt nhóm côn đồ nghiện rượu và nhóm tu-sĩ ngoại đạo chủ mưu giết hại nữ tu-sĩ Sundarī, đem trị tội. 

    Sau đó, Đức-Phật và chư tỳ-khưu-Tăng được phần đông dân chúng gần xa phát sinh đức-tin nơi Tam-Bảo. 

    Sở dĩ Đức-Phật và nhóm tỳ-khưu-Tăng bị vu khống điều xấu không có thật, là vì ác-nghiệp cũ của Đức-Bồ- tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama đã từng vu khống vị đạo-sĩ trong thời quá-khứ còn dư sót chút đỉnh, nên kiếp chót này có cơ hội cho quả của ác-nghiệp cũ ấy. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    “Đức-Bồ-tát, tiền-kiếp của Như-Lai, là vị Bà-la-môn học xong các bộ sách Bà-la-môn, làm thầy dạy nhóm 500 đệ-tử trong khu rừng lớn gần núi Himavanta. Một hôm, có vị đạo-sĩ chứng đắc bát thiền và ngũ thông có nhiều oai lực đến thăm trường học, Như-Lai nhìn thấy vị đạo-sĩ ấy, phát sinh tâm ganh tị, nên đã nói xấu vị đạo-sĩ ấy. Tiền-kiếp của Như-Lai còn nói với nhóm đệ-tử rằng: “Đạo-sĩ này là người lừa dối, thích hưởng dục lạc trong ngũ dục …”  Khi tiền-kiếp của Như-Lai nói như vậy, nhóm đệ-tử tin theo lời của Như-Lai, chúng đi khất thực đến mọi gia đình nói với mọi người rằng: “Đạo-sĩ ấy là người lừa dối, thích hưởng dục lạc trong ngũ dục…” Sau khi vị Bà-la-môn ấy chết, khẩu ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy. Do năng lực ác-nghiệp cũ ấy còn dư sót chút đỉnh, nên kiếp hiện-tại Như-Lai và nhóm tỳ-khưu đều bị vu khống rằng: “Đã giết chết nữ tu-sĩ Sundarī.” 

    ĐỨC-PHẬT BỊ LỬA PHỎNG DA BÀN CHÂN 

    Trong quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama, là đứa trẻ nghịch ngợm đang chơi ở ngoài đường, nhìn thấy Đức-Phật Độc-Giác đang đi khất thực, Đức-Bồ-tát đốt lửa vây quanh Đức-Phật Độc-Giác. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái- sinh trong 4 cõi ác-giới, chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát khỏi cõi địa-ngục. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu Đức-Phật Gotama, do năng lực của ác-nghiệp ấy còn dư sót chút đỉnh, nên Đức-Phật bị lửa phỏng da bàn chân. 

    TUYỂN CHỌN NHÓM XẠ THỦ BẮN ĐỨC-PHẬT 

    Trong quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama là một tướng lĩnh giết hại nhiều quân thù. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp sát sinh cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi địa-ngục. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama, do năng lực của ác-nghiệp cũ ấy còn dư sót chút đỉnh, khiến cho tỳ-khưu Devadatta tuyển chọn nhóm xạ thủ bắn cung nỏ tài giỏi, ra lệnh cho họ đi bắn giết chết Đức-Phật để lãnh thưởng. 

    Theo lệnh của tỳ-khưu Devadatta, nhóm xạ thủ đi đến gặp Đức-Phật, đứng giương cung nhắm bắn Đức-Phật, nhưng họ đứng trơ như pho tượng, không có một mũi tên nào rời khỏi cây cung được. 

    Khi họ biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, thì cây cung mới rơi khỏi tay của họ được, rồi họ đều đến hầu đảnh lễ sám hối Đức-Phật. 

    Khi ấy, Đức-Phật thuyết pháp tế độ, họ đều trở thành bậc Thánh Nhập-lưu, cung kính đảnh lễ Đức-Phật rồi xin phép trở về. 

    Đức-Phật truyền dạy không nên đi con đường mà tỳ- khưu Devadatta chỉ định, mà nên đi con đường khác để tránh khỏi bị nhóm xạ thủ khác giết chết, theo mưu kế của tỳ-khưu Devadatta. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ MẢNH ĐÁ ĐỤNG NƠI NGÓN CHÂN CÁI 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức- Phật Gotama, sinh trong gia đình giàu sang, có một người em trai cùng cha khác mẹ. 

    Khi cha mẹ đều qua đời, để lại một gia tài lớn. Hai anh em mỗi người có một đám gia nhân tùy tùng riêng. Vì nghe lời xúi giục của đám gia nhân ấy nên hai anh em 

    gây gổ, sát hại lẫn nhau, để chiếm đoạt toàn bộ tài sản của cải về mình. 

    Đức-Bồ-tát là anh có sức mạnh hơn người em, nên xô đẩy người em té xuống hốc đá, rồi dùng đá đè chết người em trai. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp sát sinh cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài nhiều ngàn năm, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi địa-ngục. 

    Kiếp hiện-tại, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác kiếp chót là Thái-tử Siddhattha của Đức-vua Suddhodana và Chánh-cung Hoàng-hậu Mahāmāyādevī. 

    Và Devadatta là hoàng-tử của Đức-vua Suppabuddha (hoàng-huynh của Bà Mahāmāyādevī) và Chánh-cung Hoàng-hậu Amittādevī (hoàng-muội của Đức-vua Suddhodana). Hoàng-tử Devadatta là hoàng huynh của công-chúa Yasodharā. 

    Như vậy, địa vị Thái-tử Siddhattha với địa vị hoàng- tử Devadatta có liên quan trong dòng họ như sau: 

    * Thái-tử Siddhattha với hoàng-tử Devadatta là con ông vua cậu và con của bà cô Chánh-cung Hoàng-hậu lẫn nhau. 

    Thái-tử Siddhattha kết hôn với công-chúa Yasodharā. 

    Đức-Bồ-tát Siddhattha đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. 

    Khi Đức-Phật Gotama ngự trở về kinh-thành Kapila-vatthu cùng với chư Đại-đức-Tăng, Đức-Phật thuyết-pháp tế độ Đức-Phụ-vương cùng với dòng tộc Sakya. 

    Hoàng-tử Devadatta là một trong năm hoàng-tử dòng Sakya xuất gia trở thành tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama. 

    Tỳ-khưu Devadatta thực hành pháp-hành thiền-định chứng đắc các bậc thiền sắc-giới và chứng đắc các phép thần-thông tam-giới. 

    DO NGUYÊN NHÂN NÀO TỲ-KHƯU DEVADATTA GÂY OAN TRÁI VỚI ĐỨC-PHẬT GOTAMA? 

    Tiền-kiếp của tỳ-khưu Devadatta và tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là hai người buôn bán nữ trang trong tích Serivavāṇijajātaka (1) được tóm lược như sau: 

    Trong thời quá-khứ, Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là người buôn bán nữ trang lương thiện, còn tiền-kiếp của tỳ-khưu Devadatta cũng là người buôn bán nữ trang nhưng tham lam và gian xảo. 

    Một gia đình trước đây là nhà phú hộ, nhưng bây giờ tất cả tài sản đều bị khánh kiệt, chỉ còn chiếc mâm bằng vàng ròng bám đầy bụi. Thừa kế gia đình ấy chỉ còn một bà ngoại già và đứa cháu gái, họ không hề biết gì về giá trị của chiếc mâm vàng ấy. 

    Một hôm, người buôn bán nữ trang tham-lam và gian- xảo (tiền-kiếp của tỳ-khưu Devadatta) từ xa đến, đi qua ngang nhà. Thấy người buôn bán nữ trang, cô cháu gái năn nỉ xin bà ngoại mua cho mình một món nữ trang. 

    Bà ngoại già âu yếm bảo với cháu gái rằng: 

    - Này cháu yêu quý! Ngoại không tiếc gì cho cháu cưng đâu. Hiềm một nỗi gia đình mình hiện nay nghèo quá, cơm áo không đủ dùng thì lấy đâu tiền bạc mà mua nữ trang cho cháu. Chỉ còn chiếc mâm cũ kỹ kia, để ngoại hỏi người lái buôn xem thử có đổi được món nữ trang nhỏ nào cho cháu không. 

    Bà liền gọi người lái buôn vào, đưa chiếc mâm cũ kỹ cho y xem. Sau khi săm soi kỹ, với con mắt nhà nghề, người lái buôn biết rõ là chiếc mâm bằng vàng ròng quý giá mà hai bà cháu không hề biết được giá trị của nó. 

    Tính vốn tham-lam và xảo-trá, y tự nghĩ: 

    “Ta phải chiếm đoạt chiếc mâm vàng này mà chỉ cần đổi một món nữ trang nho nhỏ không đáng giá.” 

    Nghĩ xong, y giả vờ bực dọc ném chiếc mâm xuống đất rồi nói: 

    - Này bà già! Chiếc mâm cũ kỹ này chẳng có giá trị gì cả, nó không đáng giá 12 xu rưỡi, lấy đâu để đổi lấy một món nữ trang. 

    Nói xong, người lái buôn tham-lam và gian-xảo kia liền bỏ đi nơi khác. 

    Ngày hôm sau, người lái buôn bán nữ trang lương-thiện (Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama) đi ngang qua nhà. Thấy người lái buôn bán nữ trang, cô cháu gái lại khóc lóc năn nỉ đòi nữ trang cho bằng được. 

    Vì rất thương yêu và muốn vừa lòng cháu, bà gọi người lái buôn vào nhà, lại đem chiếc mâm cũ kỹ kia đưa cho người lái buôn này xem. 

    Lần này thì bà kể lể về hoàn cảnh khốn khổ của mình cho người lái buôn nghe, với hy vọng đổi được món nữ trang nhỏ nào đó cho cháu. 

    Đức-Bồ-tát lái buôn lương-thiện cầm chiếc mâm, lau chùi lớp bụi, phát hiện ra chiếc mâm này không chỉ là một chiếc mâm bằng vàng ròng tinh chất quý giá, mà còn chạm trổ những hoa văn tinh tế, công phu, thật là một nghệ thuật tuyệt vời. Đức-Bồ-tát hai tay nâng niu chiếc mâm và từ tốn thưa rằng: 

    - Thưa mẹ, chiếc mâm này không những bằng vàng ròng tinh chất, mà còn là một cổ vật quý giá, ít nhất khoảng trên 100 ngàn kahāpaṇa (đồng tiền vàng ấn Độ thời xưa). Tất cả giá trị nữ trang và tiền bạc của con mang theo bên người chưa bằng được một phần trăm, thì con đâu dám đụng đến cổ vật vô giá ấy. 

    Bà già vô cùng cảm kích trước tấm lòng chân thật của người lái buôn lương-thiện, chân thành nói rằng: 

    - Này con! Chính tấm lòng chân thật của con còn quý hơn cả cổ vật này. Hôm trước, người lái buôn nữ trang như con đã chê chiếc mâm này, y nói chiếc mâm này chưa đáng giá 12 xu rưỡi. Khi đi ra, y còn ném chiếc mâm xuống đất và thốt lên những lời hằn học nữa. Quả thật, nếu nó bằng vàng quý giá như con nói thì đó chính là quả phước của con. Vậy, con hãy nên lấy đi, rồi cho cháu một món nữ trang nào cũng được, xin con đừng ái ngại. 

    Sau nhiều lần từ chối không được, Đức-Bồ-tát đành trao lại tất cả số nữ trang và trọn số tiền (500 đồng tiền vàng) của mình, tổng cộng giá trị khoảng một  ngàn đồng tiền vàng cho hai bà cháu, chỉ xin lại tám đồng để chi phí dọc đường. Đức-Bồ-tát lái buôn đem chiếc mâm vàng ra đi. 

    Sau đó, thì người lái buôn tham-lam và gian-xảo trở lại tìm bà cụ, y bảo rằng: 

    - Này bà già! Hãy đem chiếc mâm cũ kỹ kia ra đây, tôi sẽ cho cháu bà một món nữ trang nho nhỏ. 

    Bà cụ nhìn thấy y, con người tham lam và gian xảo đáng khinh bỉ, bà bảo rằng: 

    - Này ông kia! Chiếc mâm vàng của tôi đáng giá trên 100 ngàn kahāpaṇa, sao trước đây ông chê, cho rằng nó chưa đáng giá 12 xu rưỡi. Tôi đã bán cho một người lái buôn nữ trang lương-thiện, ông ấy đã trao cho tôi trọn số tiền 500 đồng tiền vàng của mình và tất cả số nữ trang còn lại. Ông ấy đã mang chiếc mâm vàng ấy đi rồi. 

    Nghe nói vậy, người lái buôn tham lam và xảo trá cảm thấy vô cùng tiếc rẻ gào lên: 

    - Ôi! Ta đã bị thiệt hại quá lớn rồi! Tên lái buôn kia đã cướp chiếc mâm bằng vàng đáng giá trên 100 ngàn kahāpaṇa của ta rồi! 

    Gào thét đến khô hơi tắt tiếng, tâm uất hận đến cực độ, tên lái buôn nằm lăn xuống đất ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, như người điên, y xé bỏ quần áo, đồ nữ trang vung vãi, với đầu bù tóc rối, y chạy đuổi theo Đức-Bồ-tát lái buôn. 

    Lúc ấy, Đức-Bồ-tát lái buôn đã xuống thuyền qua quá nửa dòng sông, vẫn nghe văng vẳng tiếng gào thét của y: 

    - Hãy trở lại! Hãy trở lại! 

    Đức-Bồ-tát lái buôn bảo người lái đò chèo thẳng qua bên kia sông. Bên bờ sông này, quá thất vọng và tiếc của, quá uất hận, cơn nóng giận cực độ làm cho người lái buôn máu trào ra miệng, lăn ra chết ngay tại chỗ. 

    Trước khi chết với tâm sân hận, y thốt ra lời thề độc địa kết oan trái với Đức-Bồ-tát rằng: 

    - Ta sẽ kết oan trái với ngươi! 

    Đó là lần kết oan trái đầu tiên của tiền-kiếp tỳ-khưu Devadatta với Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama. 

    Từ đó về sau, trong suốt khoảng thời gian tử sinh luân- hồi, hễ mỗi khi hai bên gặp  lại nhau, dù trong hoàn  cảnh nào, địa vị nào, hậu-kiếp của người lái buôn tham lam và gian xảo kia cũng tìm cách giết hại hoặc làm khổ Đức-Bồ-tát, thậm chí hậu-kiếp của người lái buôn tham lam và gian xảo ở địa vị làm cha, Đức-Bồ-tát là con, thì người cha ấy cũng có lý do để giết hại Đức-Bồ-tát. 

    Như tích Cūḷadhammapālajātaka: Đức-Bồ-tát Chánh- Đẳng-Giác Dhammapāla, tiền-kiếp Đức-Phật Gotama, là hoàng-tử của Đức-vua Bārāṇasī và Chánh-cung Hoàng-hậu Candādevī, mới lên 7 tháng tuổi. Đức-vua Bārāṇasī (hậu- kiếp của người lái buôn tham lam và gian xảo) truyền lệnh cho tên đao phủ chặt 2 tay, 2 chân và chặt cái đầu của hoàng-tử Dhammapāla mới lên 7 tháng tuổi, v.v… 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. 

    Do năng lực của ác-nghiệp sát sinh cũ ấy của Đức-Phật còn dư sót chút đỉnh, nên khiến tỳ-khưu Devadatta leo lên núi Gijjhakūṭa xô tảng đá lăn xuống trên đường Đức- Phật đi kinh hành. Tuy tảng đá đã bị ngăn chặn lại, nhưng vẫn có một mảnh đá nhỏ vỡ ra văng xuống đụng phải đầu ngón chân cái bên bàn chân phải của Đức-Phật, làm ngón chân cái của Đức-Phật Gotama bị bầm máu. 

    Như vậy, Tỳ-khưu Devadatta đã phạm phải 1 trong 5 ác-nghiệp vô-gián trọng-tội. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Trong tiền-kiếp Như-Lai đã giết người em trai cùng cha khác mẹ để chiếm đoạt trọn gia tài của cha mẹ để lại, tiền-kiếp Như-Lai đã xô em trai xuống hốc đá, rồi lăn đá đè chết. Do ác nghiệp cũ ấy cho quả trong kiếp chót này, Như- Lai bị tỳ-khưu Devadatta xô tảng đá lăn xuống, nhưng tảng đá bị ngăn lại, chỉ một mảnh đá nhỏ vỡ văng ra đụng vào ngón chân cái của Như-Lai bị bầm máu. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ VOI NĀḶĀGIRI RƯỢT ĐUỔI 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức- Phật Gotama, là người nài voi, đang cỡi voi đi, nhìn  thấy Đức-Phật Độc-Giác đang đi trên đường, Đức-Bồ- tát nài voi liền nghĩ rằng: 

    “Sa-môn này từ đâu đến đây?” 

    Y phát sinh tâm sân làm cho con voi nổi giận rượt đuổi theo Đức-Phật Độc-Giác. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái- sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi địa-ngục. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. 

    Do năng lực của ác-nghiệp cũ trong quá-khứ còn dư sót chút đỉnh, khiến tỳ-khưu Devadatta đến gặp đức-vua Ajātasattu trình tâu âm mưu dùng voi Nāḷāgiri hung dữ, để sát hại Đức-Phật và được Đức-vua chấp thuận. Tỳ- khưu Devadatta ra lệnh người quản tượng rằng: 

    - Này người quản tượng! Ngày mai, ngươi phải cho hung tượng Nāḷāgiri uống 16 hũ rượu, say điên cuồng rồi thả ra theo con đường mà Sa-môn Gotama thường hay đi vào thành khất thực, để nó chạy thẳng đến chà chết Sa-môn Gotama. 

    Sáng hôm ấy, Đức-Phật đang ngự vào kinh-thành Rājagaha cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng, voi Nāḷāgiri nhìn thấy Đức-Phật từ xa ngự đến, liền cuộn vòi, quạt hai lỗ tai, cong đuôi chạy thẳng đến nơi Đức- Phật, ví như một quả núi đang bổ nhào về phía Đức-Phật. 

    Đức-Phật liền niệm rải tâm từ đến voi Nāḷāgiri, rồi gọi bằng một giọng phạm âm ngọt ngào trìu mến rằng: 

    - Này Nāḷāgiri đáng thương! Người ta cho con uống 16 hũ rượu mạnh, làm cho con say điên cuồng để con giết hại Như-Lai. 

    - Này Nāḷāgiri đáng thương! Con hãy đến đây với Như-Lai. 

    Voi Nāḷāgiri hung ác nghe giọng phạm âm ngọt ngào trìu mến của Đức-Phật, liền mở mắt, ngẩng đầu nhìn thẳng thấy kim thân Đức-Phật tỏa ra hào quang mát dịu, thì lập tức cơn say điên cuồng tan biến mất, tâm thức tỉnh. 

    Do nhờ oai lực tâm từ của Đức-Phật, voi Nāḷāgiri hạ vòi xuống, ngoan ngoãn đi lần đến, quỳ một cách cung kính dưới đôi bàn chân của Đức-Phật. Đức-Phật thuyết pháp tế độ voi Nāḷāgiri, toàn thân tâm của voi Nāḷāgiri phát sinh hỷ lạc chưa từng có. 

    Nếu không phải là loài súc-sinh thì sau khi nghe pháp xong chắc chắn voi Nāḷāgiri đã chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả nào đó, nhưng vì voi Nāḷāgiri là loài súc-sinh nên không thể chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả nào được. 

    Từ đó về sau, voi Nāḷāgiri (1) trở thành voi hiền lành dễ mến cho đến trọn đời của nó. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Trong tiền-kiếp Như-Lai là người quản tượng đang cỡi voi đi trên đường, Đức-Bồ-tát quản tượng làm cho con voi nổi giận rượt đuổi Đức-Phật Độc-Giác đang đi khất thực. Sau khi Đức-Bồ-tát quản tượng chết, ác- nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi ác-giới chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát ra khỏi cõi ác-giới. Do năng lực của ác-nghiệp cũ còn dư sót chút đỉnh, khiến tỳ-khưu Devadatta sai người quản tượng thả voi Nāḷāgiri chạy nhào đến trước mặt Như-Lai đang đi vào kinh-thành Rājagaha để khất thực. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ MẢNH ĐÁ ĐỤNG NGÓN CHÂN CÁI LÀM BẦM MÁU (SAKALIKĀVEDHA) 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức- Phật Gotama, sinh trong một gia đình dân thường. Khi còn nhỏ Đức-Bồ-tát rất tinh nghịch, cậu bé đang chơi giữa đường, nhìn thấy Đức-Phật Độc-Giác đang đi khất thực, cậu bé nghĩ rằng: “Sa-môn này đi đâu?” 

    Cậu bé tinh nghịch cầm một mảnh đá ném vào sau lưng Đức-Phật Độc-Giác, đụng phải gót chân của Ngài bị bầm máu. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái- sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài hằng ngàn năm cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi địa-ngục. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. 

    Khi Đức-Phật đang đi kinh hành tại núi Gijjhakūṭa, do năng lực của ác-nghiệp cũ trong quá-khứ còn dư sót chút đỉnh, khiến tỳ-khưu Devadatta xô tảng đá lăn xuống, tuy tảng đá bị ngăn cản lại, nhưng một mảnh đá nhỏ vỡ văng ra đụng vào ngón chân cái bàn chân phải của Đức-Phật, bị bầm máu. 

    Đó là do quả của ác-nghiệp cũ quá-khứ của Đức-Phật. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ MỔ VẾT BẦM BẰNG DAO (SATTHACCHEDA) 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, là Đức-vua một nước nhỏ ngoài trung xứ, Đức- vua Bồ-tát gần gũi thân cận với các vị quan cận thần ác nên trở thành Đức-vua ác. 

    Một ngày nọ, Đức-vua nổi khùng cầm gươm, đi chân trần (không mang dày dép) ra khỏi cung điện chạy vào thành giết chết nhiều người vô tội. 

    Sau khi Đức-vua Bồ-tát băng hà, ác-nghiệp sát sinh  ấy cho quả tái-sinh trong cõi ác-giới, chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi ác-giới. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. 

    Do năng lực của ác-nghiệp cũ trong quá-khứ còn dư sót chút đỉnh, khiến tỳ-khưu Devadatta xô tảng đá lăn xuống, một mảnh đá nhỏ văng đụng ngón chân cái của Đức-Phật bị bầm máu. 

    Về sau, thái-y Jīvaka chữa trị chỗ máu bầm bằng cách dùng con dao bén mổ lấy máu bầm ra với tâm từ của vị thái-y. Đó là đại-thiện-nghiệp chữa trị vết bầm ở đầu ngón chân cái của Đức-Phật. 

    Tỳ-khưu Devadatta làm bầm máu ngón chân cái của Đức-Phật bằng mảnh đá với tâm sân nên phạm phải ác- nghiệp rất nặng gọi là ác-nghiệp vô-gián-trọng-tội (anantariyakamma) chắc chắn sẽ cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục Avīci mà không có nghiệp nào làm gián đoạn được. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Trong tiền-kiếp Như-Lai là Đức-vua nổi khùng, đi chân trần, cầm gươm vào thành giết người vô tội. Sau khi Đức-vua băng hà, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ bị hành-hạ thiêu đốt trong địa-ngục suốt thời gian lâu dài, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới thoát ra khỏi cõi địa-ngục. Do quả của ác-nghiệp cũ còn dư sót chút đỉnh, kiếp chót hiện-tại này, Như-Lai bị mổ lấy máu bầm ở vết thương đầu ngón chân cái của Như-Lai, bởi vì năng lực của ác-nghiệp cũ còn cho quả. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ BỆNH ĐAU ĐẦU (SĪSADUKKHA) 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh trong gia đình ngư dân, Đức-Bồ-tát cùng đám ngư dân đến chỗ bắt cá, nhìn thấy đám ngư dân bắt được cá rất nhiều gom thành đống lớn, liền phát sinh tâm hoan-hỷ về sự sát sinh ấy. 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái- sinh trong cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy suốt thời gian lâu dài, cho đến khi mãn quả của ác- nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi ác-giới. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. 

    Do quả của ác-nghiệp cũ hoan-hỷ ác-nghiệp sát sinh trong quá-khứ ấy còn dư sót chút đỉnh, nên đôi khi Đức- Phật bị bệnh đau đầu. 

    Còn tiền-kiếp của đám ngư dân trong quá-khứ, nay kiếp hiện-tại sinh trong hoàng tộc dòng Sakya đều bị tiêu diệt bởi Đức-vua Viṭaṭūbha (1). 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Tiền-kiếp Như-Lai sinh trong xóm ngư dân. Nhìn thấy đám ngư dân bắt được cá rất nhiều, tiền-kiếp của Như-lai phát sinh tâm hoan-hỷ. Do năng lực của ác-nghiệp cũ còn dư sót chút đỉnh, đôi khi cho quả khổ bệnh đau đầu trong kiếp chót của Như-Lai. Còn đám ngư dân trong quá-khứ, nay là dòng họ Sakya bị Đức-vua Viṭaṭūbha tàn sát tất cả. 

    ĐỨC-PHẬT ĐỘ CƠM GẠO ĐỎ (YAVAKHĀDANA) 

    Đức-Bồ-tát, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh trong gia đình thuộc giai cấp thấp, kém học thức, là kẻ si mê (andhabāla). Đức-Bồ-tát nhìn thấy chư tỳ-khưu thanh- văn đệ-tử của Đức-Phật độ vật thực ngon lành, cơm gạo sāli, nên Đức-Bồ-tát đã xúc phạm rằng: 

    “Các Sa-môn đầu trọc này hãy dùng cơm gạo đỏ, không nên dùng cơm gạo sāli, ...” 

    Sau khi Đức-Bồ-tát chết, khẩu ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi ác-giới, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy mới được thoát ra khỏi cõi ác-giới. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. Đức-Phật cùng với chư Đại-đức tỳ- khưu-Tăng du hành khắp mọi nơi, thuyết pháp tế độ cho chúng-sinh có duyên lành nên tế độ. 

    Một thuở nọ, Đức-Phật ngự đến xứ Verañjā cùng với nhóm 500 tỳ-khưu-Tăng. Hay tin Đức-Phật đã ngự đến, ông Bà-la-môn Verañja đến hầu Đức-Phật, để đấu khẩu tranh tài với Đức-Phật, nhưng ông Bà-la-môn không thể thắng được Đức-Phật, liền hồi tâm tỉnh trí phát sinh đức- tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, xin quy y Tam-Bảo trở thành cận- sự-nam trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama. 

    Ông Bà-la-môn Verañja thành kính đảnh lễ Đức-Phật, thỉnh cầu Đức-Phật cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng an cư nhập hạ ba tháng mùa mưa tại xứ Verañjā này. 

    Đức-Phật im lặng nhận lời thỉnh cầu của ông Bà-la- môn Verañja. Trong xứ Verañjā gặp phải hạn hán mất mùa, thiếu thốn vật thực, nên dân chúng chịu cảnh chết đói, lại còn bị Ác-ma-thiên làm dân chúng xứ Verañjā mê muội, cho nên Đức-Phật cùng với chư Đại-đức tỳ- khưu-Tăng đi khất thực ít người để bát cúng dường vật thực đến Đức-Phật cùng với nhóm 500 chư Đại-đức tỳ- khưu-Tăng. 

    Khi ấy, đoàn người lái buôn từ xứ Uttarāpatha cùng với 500 cỗ xe ngựa vừa đến xứ Verañjā gặp mùa mưa, nên đành phải trú lại. Họ nhìn thấy chư tỳ-khưu đi khất thực nhưng không được vật thực, nên họ phát sinh đại- thiện-tâm trong sạch làm phước-thiện bố-thí cúng dường phần lúa đem theo làm vật thực cho ngựa, giã ra thành gạo đỏ, nấu cơm, chư-thiên bỏ thêm vào hương vị trời, rồi cúng dường để bát đến Đức-Phật cùng với nhóm 500 chư tỳ-khưu-Tăng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật. 

    Đặc biệt họ làm phước-thiện cúng dường đến Ngài Trưởng-lão Ānanda món bơ mật ong, đường, … để Ngài Trưởng-lão làm thêm vật thực dâng cúng dường lên Đức-Phật. 

    Như vậy, Đức-Phật cùng với nhóm 500 Đại-đức tỳ- khưu Tăng độ cơm gạo đỏ suốt 3 tháng trong mùa an cư nhập hạ năm ấy, cho đến ngày rằm làm đại lễ Pavāraṇā (lễ yêu cầu thỉnh mời) trước ngày mãn hạ, đồng thời Ác- ma-thiên không còn làm cho dân chúng xứ Verañjā mê muội nữa. 

    Thật vậy, ông Bà-la-môn Verañja nhớ lại trước đây ba tháng, có thỉnh mời Đức-Phật cùng với 500 Đại-đức tỳ- khưu-Tăng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại xứ Verañjā này mà ông đã quên hẳn, nên suốt thời gian nhập hạ ông không cúng dường những thứ vật dụng đến Đức-Phật cùng với 500 Đại-đức tỳ-khưu-Tăng. 

    Ông Bà-la-môn Verañja đến hầu đảnh lễ sám hối Đức-Phật, rồi kính thỉnh Đức-Phật cùng với 500 Đại-đức tỳ-khưu-Tăng ngày hôm sau đến tư gia của ông, để ông làm phước-thiện đại-thí cúng dường đến chư tỳ-khưu- Tăng có Đức-Phật chủ trì. 

    Đức-Phật làm thinh, ông Bà-la-môn Verañja biết Đức-Phật nhận lời thỉnh mời của ông. Ông Bà-la-môn Verañja đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi xin phép trở về nhà. 

    Sáng ngày hôm sau, Đức-Thế-Tôn ngự đến tư gia của ông Bà-la-môn Verañja, cùng với 500 Đại-đức tỳ-khưu- Tăng. Ông Bà-la-môn Verañja đón tiếp Đức-Phật cùng với 500 Đại-đức tỳ-khưu-Tăng, xin làm lễ phước-thiện đại-thí cúng dường vật thực đến chư Đại-đức tỳ-khưu- Tăng có Đức-Phật chủ trì. 

    Sau khi Đức-Phật cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu- Tăng thọ thực xong, ông Bà-la-môn Verañja đảnh lễ Đức-Phật cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng, xin sám hối tội-lỗi mê muội quên hẳn bổn phận của ông. 

    Ông Bà-la-môn Verañja kính xin Đức-Phật cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng tha thứ cho tội-lỗi mê muội quên hẳn bổn phận của mình. 

    Thật ra, đó là ác-nghiệp cũ của Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama còn dư sót chút đỉnh, nay còn có cơ hội cho quả đến Đức-Phật Gotama. 

    Ác-nghiệp thuộc về của riêng Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, còn quả của ác-nghiệp không chỉ riêng của Đức-Phật mà còn ảnh hưởng đến 500 Đại-đức tỳ-khưu-Tăng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật nữa. 

    ĐỨC-PHẬT BỊ BỆNH ĐAU LƯNG (PIṬṬHIDUKKHA) 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh trong gia đình giàu sang, Đức-Bồ-tát có dáng vóc lùn, nhưng có sức mạnh phi thường. 

    Thời ấy, một võ sĩ đô vật có thân hình vạm vỡ, qua những trận đọ sức với các đối thủ từ khắp tỉnh thành cho đến kinh-thành, y đều toàn thắng, rồi y tự cho mình là người vô địch. 

    Một hôm, võ sĩ này đến quê hương của Đức-Bồ-tát, cũng như các nơi khác, không có một đối thủ nào có thể đọ sức nổi với y. Cho nên, y huyênh hoang tự đắc cho mình là người vô địch, rồi hãnh diện lên đường đi đến nơi khác. 

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát nghĩ rằng: “Người võ sĩ này đã thắng tất cả các võ sĩ đô vật trong quê hương của ta, rồi y ra đi với vẻ tự cao ngã-mạn như vậy.” 

    Đức-Bồ-tát liền đến gặp y, vỗ tay bảo rằng: 

    - Này ngươi hãy đến đây, đọ sức với ta rồi đi! 

    Nghe Đức-Bồ-tát nói vậy, võ sĩ đô vật cười khanh khách và nghĩ rằng: “Các địch thủ to lớn, ta còn thắng một cách dễ dàng, huống gì người thấp lùn này, ta chỉ cần dùng một tay là đủ.” 

    Nghĩ xong, y vỗ tay đi đến gặp Đức-Bồ-tát. Hai người bắt tay lẫn nhau trước khi đọ sức. Đức-Bồ-tát vồ đến ôm gọn thân hình vạm vỡ của y, nhấc bổng chân lên, đưa lên hư không, quay vòng tròn, rồi dộng vai mạnh xuống mặt 

    đất làm đau sụn cột xương sống, rồi để y nằm dài trên mặt đất, không còn cựa quậy được nữa. 

    Dân chúng trong xứ thấy vậy vỗ tay tán dương khen thưởng Đức-Bồ-tát đã thắng được một võ sĩ đô vật lừng danh, rồi họ tặng cho Đức-Bồ-tát những phần thưởng vô cùng quý giá. 

    Đức-Bồ-tát chữa trị lại phần xương vai, xương cột sống cho võ sĩ, rồi đỡ y đứng dậy và dạy bảo y rằng: 

    - Này bạn! Từ nay về sau bạn không nên đọ sức so tài với ai nữa. 

    Do ác-nghiệp ấy còn dư sót, cho nên mỗi khi Đức-Bồ- tát được tái-sinh làm người, ác-nghiệp làm khổ võ sĩ đô vật ấy, nếu có cơ hội cho quả, thì Đức-Bồ-tát thường bị đau lưng, đau mình nhức mỏi. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama hoàn toàn không còn khổ-tâm do phiền-não nữa, nhưng Đức-Phật vẫn còn khổ-thân tứ đại, thường mắc bệnh đau lưng, ... 

    Cho nên, đôi khi Đức-Phật đang thuyết pháp, bệnh đau lưng phát sinh, Đức-Phật truyền dạy Ngài Đại- Trưởng-lão Sāriputta hoặc Ngài Đại-Trưởng-lão Mahā- moggallāna thay thế Đức-Phật tiếp tục thuyết pháp. 

    Còn Đức-Phật truyền bảo tỳ-khưu trải y, để cho Đức- Phật nằm nghỉ, để giảm bớt cơn đau lưng. 

    Đó là quả của ác-nghiệp cũ. Đức-Phật dạy về ác- nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Tiền-kiếp Như-Lai đã từng làm cho võ sĩ đô vật lừng danh trong thời quá-khứ đau sụn lưng. Do nghiệp cũ ấy cho quả, nên kiếp hiện-tại, Như-Lai thường bị bệnh đau lưng phát sinh.

    ĐỨC-PHẬT BỊ BỆNH ĐẠI TIỆN RA MÁU (ATISĀRA) 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh trong gia đình thầy thuốc. Đức-Bồ-tát trưởng thành cũng sinh sống bằng nghề làm thầy bốc thuốc chữa bệnh cho mọi người. 

    Khi Đức-Bồ-tát chữa lành bệnh cho con trai một phú hộ, mà người con trai phú hộ trả tiền công bốc thuốc không xứng đáng. Do không hài lòng, nên Đức-Bồ-tát đã bốc thuốc xổ cho con trai phú hộ uống. 

    Khi Đức-Bồ-tát, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama được tái-sinh làm người, do ác-nghiệp cho uống thuốc xổ ấy, nếu có cơ hội cho quả thì Đức-Bồ-tát bị bệnh kiết lị, đi đại tiện ra máu. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama năm 35 tuổi. 

    Từ đó về sau, suốt 45 năm thuyết pháp tế độ chúng- sinh giải thoát khỏi khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới. 

    Đức-Phật độ món ăn đặc biệt bổ dưỡng sūkura- maddava của ông Cunda kammāraputta, và có thêm phần hương vị của chư-thiên ở các cõi trời bỏ vào món ăn ấy, để bồi bổ tăng thêm sức lực trong cơ thể của Đức- Phật để đến khu rừng Kusinārā. 

    Trên đường Đức-Phật ngự đến khu rừng Kusinārā cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng, Đức-Phật bị lâm bệnh kiết lị đi đại tiện ra máu, làm cho cơ thể của Đức- Phật mệt nhoài, lại thêm khát nước, Đức-Phật phải dừng lại nằm nghỉ ngơi một lúc, rồi mới tiếp tục ngự đến khu rừng Kusinārā, để Đức-Phật tịch diệt Niết-bàn vào canh chót đêm rằm tháng tư (âm lịch) ấy. 

    Đức-Phật là bậc cao thượng nhất trong tam-giới chúng-sinh, thế mà vẫn không sao tránh khỏi ác-nghiệp cũ cho quả. 

    Đức-Phật dạy về ác-nghiệp cũ của Ngài rằng: 

    - Tiền-kiếp Như-Lai làm nghề thầy thuốc, vị thầy ấy chữa bệnh cho con trai phú hộ. Do không hài lòng con trai phú hộ, nên vị thầy đã bốc thuốc xổ cho con trai phú hộ uống. Do ác-nghiệp cũ ấy cho quả, nên kiếp hiện-tại này Như-Lai bị bệnh đại tiện ra máu. 

    ĐỨC-PHẬT KHÁT NƯỚC 

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, là người chăn bò, dẫn đàn bò ra đồng ăn cỏ, Đức- Bồ-tát nhìn thấy con bò mẹ đang uống nước đục, nên ngăn cấm không cho nó uống nước đục theo ý muốn của nó. 

    Kiếp hiện-tại là Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót đã trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama. Trên đường từ thành phố Pāvānagara đến khu rừng Kusinārā, trước khi tịch diệt Niết-bàn, Đức-Phật bị lâm bệnh kiết lị đi đại tiện ra máu, mệt nhoài và khát nước. Đức-Phật truyền dạy Ngài Trưởng- lão Ānanda đi lấy nước. 

    Do ác-nghiệp cũ không cho con bò mẹ uống nước đục ấy cho quả, nên con sông còn ít nước, vừa có 500 chiếc xe bò băng qua sông làm nước sông đục ngầu. 

    Khi đi đến con sông ấy, Ngài Trưởng-lão Ānanda nhìn thấy nước sông đục ngầu nên Ngài Trưởng-lão không muốn lấy nước ấy. 

    Đức-Phật vì khát nước quá không chịu đựng nổi, nên Đức-Phật lại truyền bảo Ngài Trưởng-lão Ānanda đi lấy nước đem về cho Ngài độ cho qua cơn khát. 

    Một lần nữa, Ngài Trưởng-lão Ānanda cũng đến con sông ấy, vừa bước xuống, thật phi thường thay! Nước sông đang đục ngầu, bỗng nhiên trở nên trong sạch lạ thường. Ngài Trưởng-lão Ānanda lấy nước ấy đem về dâng đến Đức-Phật. 

    Đó là quả của ác-nghiệp cũ ngăn cấm con bò mẹ đang uống nước đục trong tiền-kiếp của Đức-Phật. 

    Đức-Phật đã thuyết giảng đến chư tỳ-khưu Tăng tại ven rừng gần hồ Anotatta những ác-nghiệp cũ và quả  của ác-nghiệp cũ mà Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật đã tạo trong thời quá-khứ, nay kiếp hiện-tại những ác- nghiệp cũ ấy vẫn còn có cơ hội cho quả của ác-nghiệp, trước khi Đức-Phật Gotama tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới. (1) 

    Nghiệp và quả của nghiệp là rất công bằng, không hề thiên vị ai, kể cả Đức-Phật và chư bậc Thánh A-ra-hán. 

    Thật vậy, * đại-thiện-nghiệp 30 pháp-hạnh ba-la-mật của Đức-Bồ-tát Siddhattha kiếp chót cho quả trở thành Đức-Phật Gotama. 

    Và những ác-nghiệp cũ của Đức-Phật Gotama có cơ hội cho quả, nên Đức-Phật Gotama phải chịu quả xấu trong kiếp hiện-tại cho đến trước khi tịch diệt Niết-bàn. 

    Đại-thiện-nghiệp 10 pháp-hạnh ba-la-mật của Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna cho quả trở thành bậc Thánh Tối-thượng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật. 

    Và ác-nghiệp cũ của Ngài có cơ hội cho quả, nên Ngài bị đánh đập phải tịch diệt Niết-bàn. 

    Còn mỗi người trong chúng ta cũng phải thừa hưởng quả của đại-thiện-nghiệp và ác-nghiệp của mình như vậy. 

    -oo0oo-

    (1) Bộ Khuddakanikāya. Bộ Apadāna aṭṭhakathā.

    ---

    (1) Bộ Chú-giải Dhammapadaṭṭhakathā, chuyện Ciñcāmāṇavikāvatthu.

    ---

    (1) Chuyện nàng Ciñcāmāṇavikā đầy đủ trong quyển “Sự tích 8 Phật Lực”.

    ---

    (1) Bát thiền: Đó là 4 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới. 

    (2) Ngũ thông: Đa-dạng-thông, nhãn-thông, nhĩ-thông, tiền-kiếp-thông và tha-tâm-thông.

    ---

    (1) Bộ Jātakaṭṭhakathā, Ekakanipāta, Tích Serivavāṇijajātaka.

    ---

    (1) Chuyện voi Nāḷāgiri đầy đủ trong quyển “Sự tích 8 Phật Lực”.

    ---

    (1) Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, Tích Viṭaṭūbhavatthu.

    ---

    (1) Tìm hiểu rõ quyển IV, Nghiệp Và Quả Của Nghiệp của bộ Nền-Tảng- Phật-Giáo, cùng soạn-giả.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.