Phẩm thứ Sáu: Cổ nhiên ngữ, vô sắc ngữ, hư không ngữ, ...

Phẩm thứ Sáu: Cổ nhiên ngữ, vô sắc ngữ, hư không ngữ, ...

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA
    --o-O-o--

    TẠNG VÔ TỶ PHÁP (ABHIDHAMMAPIṬAKA)

    BỘ NGỮ TÔNG (KATHĀVATTHU)

    CẢO BẢN

    Đại Trưởng lão Hòa Thượng Tịnh Sự - Mahāthero Santakicco
    Chuyển ngữ từ bản tiếng Pāli - Thái sang tiếng Việt
    Năm 1976

    PHẨM THỨ SÁU

     

    CỐ NHIÊN NGỮ (NIYĀMAKATHĀ)

    1077.

    • Tự ngôn: Cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Níp-bàn là tí hộ (che chở) (tānaṃ), bí mật (lenaṃ), hữu y (saranaṃ), hữu Tức (parayānaṃ), cố định (accutaṃ), bất tử (amata), phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó.

    1078.

    • Tự ngôn: Cố nhiên (niyāma) là vô vi, Níp-bàn cũng vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (tāṇaṃ) cũng hai thứ, bí mật cũng hai thứ, hữu y cũng hai thứ, hữu Tức cũng hai thứ, cố định cũng hai thứ, bất tử cũng hai thứ, Níp-bàn cũng hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Níp-bàn cũng hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có sự cao và thấp, có sự ty hạ và tinh lương, có sự sâu xa và cạn bợn, có ranh rấp mương rãnh chia ra khúc, hay là có lớp giữa của Níp-bàn hai thứ có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1079.

    • Tự ngôn: Cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có hạng người vào đến cố nhiên, đặng cố nhiên, cố nhiên còn làm cho sanh, cho đồng sanh, cho đình trụ, cho đồng trụ, cho sanh ra, cho càng sanh ra, cho đồng sanh đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cũng có hạng người vào đến vô vi, đặng vô vi, còn làm cho vô vi sanh, cho đồng sanh, cho còn vững, cho đồng trụ, cho sanh ra, cho rất sanh ra, cho sanh, cho sanh đều đủ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1080.

    • Tự ngôn: Cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Cố nhiên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dự Lưu cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo Dự Lưu là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo Dự Lưu là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dự Lưu cố nhiên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhứt Lai cố nhiên ... Bất Lai cố nhiên ... La Hán cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán đạo là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: La Hán đạo là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: La Hán cố nhiên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1081.

    • Tự ngôn: Dự Lưu cố nhiên là vô vi ... La Hán cố nhiên là vô vi, Níp-bàn cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành năm thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (tānaṃ) thành năm thứ ... có lớp chặng giữa của Níp-bàn năm thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1082.

    • Tự ngôn: Cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tà cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tà cố nhiên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh cố nhiên là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1083.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng cố nhiên là vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Khi cố nhiên phát sanh ra rồi diệt mất thì người cũng là vẫn bất cố nhiên phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó cố nhiên cũng là vô vi chớ gì!
    • Tự ngôn: Khi tà cố nhiên sanh ra rồi diệt mất người cũng bất cố nhiên phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nếu thế đó tà cố nhiên cũng sẽ là vô vi luôn chớ gì.

    Dứt Cố nhiên ngữ

    ---

    Y TƯƠNG SINH NGỮ (PAṬICCASAMUPPĀDA KATHĀ)

    1084.

    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn, thành tí hộ (tānaṃ), thành bí mật (lena) thành hữu y (saraṇa), thành hữu Tức (parāyana), thành cố định (accuta), thành bất tử (amata) phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi, Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (tāṇa) cũng là hai thứ, bí mật (leṇa) cũng là hai thứ, hữu y (saraṇa) cũng là hai thứ, hữu Tức (parāyana) cũng là hai thứ, cố định (accuta) cũng là hai thứ, bất tử cũng là hai thứ, Níp-bàn cũng là hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Níp-bàn cũng thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có sự cao và thấp, có sự ty hạ và tinh lương, có sự cao thượng và thấp thỏi, có sự chia khác, có ranh rấp và đường mương, có từng ngăn chặng giữa của hai thứ Níp-bàn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1085.

    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô minh cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô minh là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Y tương sinh cũng là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hành sanh ra do Vô minh làm duyên cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Hành sanh ra do Vô minh làm duyên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Y tương sinh là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thức sanh ra do Hành làm duyên cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thức sanh ra do Hành làm duyên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Y tương sinh cũng là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Danh Sắc sanh ra do Thức làm duyên cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Danh Sắc sanh ra do Thức làm duyên là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Y tương sinh cũng là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Y tương sinh là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Lão tử có ra do Sanh làm duyên cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Lão tử có ra do Sanh làm duyên cũng là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Y tương sinh cũng là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1086.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Y tương sinh là vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, Lão tử có ra do Sanh làm duyên. Dù cho tất cả Như Lai sẽ ra đời hay không ra đời, thể tướng ấy vẫn đình trụ, là pháp trụ cố nhiên, tức là pháp ấy sanh ra do pháp ấy làm duyên, Như Lai chứng trí tột, xét gặp bằng trí tột với thể tướng ấy, khi đã chứng với trí tột xét gặp bằng trí tột rồi mới nói ra, diễn giải, bố cáo, truyền bá, bành trướng, phân bày cho dễ và đặng chỉ rằng Lão tử có ra do Sanh làm duyên. Này chư Phíc-khú, Sanh có ra do Hữu làm duyên ... Hành có ra do Vô minh làm duyên ... dù cho Chư Như Lai sẽ ra đời hoặc không ra đời cũng thế, vì bản thế ấy vẫn có đình trụ ... và đặng chỉ rằng Hành có ra do Vô minh làm duyên; chư Phíc-khú, sự chắc thật, sự không thay đổi, sự không thành ra khác tức là pháp này sanh ra do pháp nọ làm duyên, pháp thật thể ấy như nói đây thế nào thì Như Lai nói Y tương sinh”. Đây là bài Kinh hẳn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì Y tương sinh cũng là vô vi chớ gì!

    1087.

    • Tự ngôn: Y tương sinh có câu rằng: “Vô minh duyên Hành” như thế thật tướng nào là pháp trụ thành pháp cố nhiên trong duyên đó, thật tướng đó là vô vi thì Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (tāṇa) cũng thành hai thứ ... hay là giữa chặn của Níp-bàn hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1088.

    • Tự ngôn: Y tương sinh có câu rằng: “Vô minh duyên Hành ... thế này thì thật tướng nào thành pháp trụ, thành pháp cố nhiên trong duyên ấy, thật tướng ấy thành vô vi. Y tương sinh có câu nửa rằng: “Hành duyên Thức”, như thế thì thật tướng nào thành pháp trụ, thành pháp cố nhiên trong duyên ấy, thật tướng ấy cũng là vô vi, Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành ba thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành ba thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (tāṇa) cũng thành ba thứ ... có chặng giữa của Níp-bàn ba thứ ấy phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1089.

    • Tự ngôn: Y tương sinh có câu rằng: “Vô minh duyên Hành như thế thật tướng nào thành pháp trụ, thành pháp cố nhiên trong duyên ấy, thật tướng ấy là vô vi. Có câu nữa rằng : “Hành duyên Thức”, như thế thật tướng nào thành pháp trụ, thành pháp cố nhiên trong duyên ấy thì thật tướng ấy cũng là vô vi ... Y tương sinh có câu nữa rằng: “Sanh duyên Lão tử”, như thế thật tướng nào thành pháp trụ, thành pháp cố nhiên trong duyên ấy, thật tướng ấy cũng là vô vi, Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành mười hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (tāṇa) cũng thành mười hai thứ ... Bí mật cũng thành mười hai thứ ... có chặng giữa của Níp-bàn mười hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    Dứt Y tương sinh ngữ

    ---

    ĐẾ NGỮ (SACCA KATHA)

    1090.

    • Tự ngôn: Tứ đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (taṇa) cũng có bốn, bí mật (leṇa) cũng có bốn, hữu y (saraṇa) cũng có bốn, hữu Tức (parāyana) cũng có bốn, cố định (accuta) cũng có bốn, bất tử (amata) cũng có bốn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Níp-bàn cũng bốn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có sự cao và thấp, có ty hạ và tinh lương, có cao siêu và hèn hạ, có ranh rấp hoặc có sự chia khác, hay khe rãnh hoặc ngăn chặng giữa của Níp-bàn bốn thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1091.

    • Tự ngôn: Khổ đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khổ đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ thân, khổ tâm, sầu, khóc, khổ, ưu, ai là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tập đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tập đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tập đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Dục ái, Hữu ái, Ly hữu ái là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo đế là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Chánh kiến ... Chánh định là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1092.

    • Tự ngôn: Khổ là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ đế là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Khổ thân, khổ tâm, sầu, khóc, khổ, ưu, ai là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ đế là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tập là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tập đế là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Dục ái, Hữu ái, Ly hữu ái là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tập đế là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo đế là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Chánh kiến ... Chánh định là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo đế là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1093.

    • Tự ngôn: Diệt đế là vô vi, Diệt là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Khổ đế là vô vi, Khổ là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Diệt đế là vô vi, Diệt là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tập đế là vô vi, Tập là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Diệt đế là vô vi, Diệt là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Đạo đế là vô vi, Đạo là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1094.

    • Tự ngôn: Khổ đế là vô vi, Khổ là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Diệt đế là vô vi, Diệt là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Tập đế là vô vi, Tập là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Diệt đế là vô vi, Diệt là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Đạo đế là vô vi, Đạo là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Diệt đế là vô vi, Diệt là hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1095.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng Tứ đế là vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: “Này chư Phíc-khú, bốn thứ này chắc thật không sai, không thành thứ khác. Bốn thứ đó là chi? Tức là khổ Đế chắc thật không sai khác, không thành thứ khác ... tức là Khổ Tập đế, tức là Khổ Tập ... tức là Khổ diệt.. tức là con đường tiến hành đi đến Diệt Khổ chắc thật không sai, không thành thứ khác. Này chư Phíc-khú, chỉ có bốn thứ này chắc thật không sai không thành thứ khác”. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu thế đó thì Tứ đế cũng là vô vi chớ gì!

    Dứt Đế ngữ

    ---

    VÔ SẮC NGỮ (ĀPUPPA KATHĀ)

    1096.

    • Tự ngôn: Không vô biên xứ là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn, thành tí hộ, thành bí mật, thành sở y, thành hữu tức, thành cố định, thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Không vô biên xứ thành vô vi, Níp-bàn thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ thành hai thứ ... có bực chặng giữa của Níp-bàn hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Không vô biên xứ là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Không vô biên xứ thành hữu, thành thú hướng (gati), thành chúng sanh trụ, thành hành, thành sanh, thành chỗ nương của thức, thành cách đặng thân (attabhāva) phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hữu, thành thú hướng, thành chúng sanh trụ, thành hành, thành sinh, thành chỗ trụ của thức, thành cách đặng thân phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nghiệp làm nhân đưa đến Không vô biên xứ vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nghiệp làm nhân đưa đến vô vi vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vẫn có chúng sanh vào đến Không vô biên xứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vẫn có chúng sanh vào đến vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1097.

    • Tự ngôn: Tất cả chúng sanh sanh, lão, tử, thác, tái tục trong Không vô biên xứ đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả chúng sanh sanh, lão, tử, thác, tái tục trong vô vi đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1098.

    • Tự ngôn: Thọ, Tưởng, Hành, Thức vẫn có trong Không vô biên xứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Không vô biên xứ là Tứ uẩn hữu phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi là Tứ uẩn hữu phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1099.

    • Phản ngữ: Không nên nói rằng Tứ Vô sắc là vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Tứ Vô Sắc, Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng là thật tướng không lay động phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu Tứ Vô Sắc, Đức Thế Tôn Ngài có phán là thật tướng không lay động, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng Tứ Vô sắc là vô vi.

    Dứt Vô sắc ngữ

    ---

    NHẬP DIỆT NGỮ (NIRODHASAMĀPATTI KATHĀ)

    1100.

    • Tự ngôn: Nhập diệt là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn, thành tí hộ (che chở), thành bí mật, thành hữu y, thành hữu Tức, thành cố định, thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhập diệt là vô vi, Níp-bàn cũng là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ (che chở) thành hai thứ ... có ngăn chặng giữa của Níp-bàn hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nhập diệt là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có nhóm người nhập diệt đặng diệt, còn cho diệt sanh ra, cho diệt sanh đủ, cho đình trụ, cho đình trụ đủ, cho phát sanh, cho phát sanh cách tột, cho sanh ra, cho sanh ra đầy đủ đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có nhóm người vào vô vi, đắc vô vi, làm cho vô vi sanh ra, cho sanh đầy đủ, cho đình trụ, cho đình trụ đều đủ, cho phát sanh, cho phát sanh cách tột, cho sanh ra, cho sanh ra đều đủ đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Sự trong sạch, sự xuất khỏi diệt hiện bày đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Sự trong trẻo, sự xuất khỏi vô vi hiện bày đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực nhập Diệt có khẩu hành diệt mất trước rồi từ đó thân hành diệt, từ đó tâm hành diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Bực nhập vô vi cũng có khẩu hành diệt trước rồi từ đó thân hành diệt, từ đó tâm hành diệt phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Bực xuất khỏi diệt có tâm hành phát sanh ra trước, từ đó thân hành phát sanh, từ đó khẩu hành phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Người xuất ra khỏi vô vi cũng có tâm hành sanh trước, từ đó tâm hành phát sanh, từ đó khẩu hành phát sanh ra phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1101.

    • Tự ngôn: Tam xúc tức là tiêu diệt xúc, vô chứng xúc, phi nội xúc vẫn đụng chạm với người đã ra khỏi diệt phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tam xúc tức tiêu diệt xúc, vô chứng xúc, phi nội xúc vẫn đụng chạm người mà đã xuất khỏi vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1102.

    • Tự ngôn: Tâm của người xuất ra khỏi diệt rồi dĩ nhiên chống lại, nghiêng lại phản khán, chăm chú phản khán phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tâm của bực đã ra khỏi vô vi cũng dĩ nhiên chống vào phản khán, nghiêng vào phản khán, chăm chú vào phản khán phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1103.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói nhập diệt là vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nhập diệt là hữu vi phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó nhập diệt cũng là vô vi chớ gì!

    Dứt nhập diệt ngữ

    ---

    HƯ KHÔNG NGỮ (ĀKĀSA KATHĀ)

    1104.

    • Tự ngôn: Hư không là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Níp-bàn, thành tí hộ (che chở), thành bí mật, thành hữu y, thành hữu Tức, thành cố định, thành bất tử phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1105.

    • Tự ngôn: Hư không là vô vi, Níp-bàn là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Vô vi thành hai thứ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tí hộ thành hai thứ ... có chặng giữa của Níp-bàn hai thứ đó phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1106.

    • Tự ngôn: Hư không là vô vi phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có nhóm người làm cho phi hư không đặng thành hư không phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có nhóm người làm hữu vi cho đặng thành vô vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1107.

    • Tự ngôn: Có nhóm người làm cho hư không đặng thành phi hư không phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Có nhóm người làm cho vô vi đặng thành hữu vi phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1108.

    • Tự ngôn: Trong hư không, tất cả chim bay đi đặng, mặt trăng và mặt trời dạo đi đặng, tất cả sao dạo đi đặng, bực có thần thông hiện phép đặng, tất cả người lay động tay đặng, vỗ tay đặng, liệng cục đá đi đặng, liệng trái cầu đi đặng, hiện thông đi đặng, bắn tên đi đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Trong vô vi, tất cả chim cũng bay đặng, mặt trăng và mặt trời cũng dạo đi đặng, tất cả sao cũng dạo đi đặng, bực có thần thông cũng hiện phép đặng, cũng liệng cục đá đi đặng, cũng liệng trái cầu đi đặng, cũng hiện thần thông đi đặng, cũng bắn mũi tên đi đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1109.

    • Tự ngôn: Tất cả người bao hư không làm cho thành nhà, làm cho thành kho đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Tất cả người bao vô vi làm cho thành nhà, làm cho thành kho đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1110.

    • Tự ngôn: Khi đang đào giếng, chỗ phi hư không rồi trở thành hư không đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Hữu vi cũng trở thành vô vi đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1111.

    • Tự ngôn: Khi giếng trống đang bị bít, kho trống đang đựng cho đầy, nồi không để đồ rang đầy thì hư không nó lòn lỏi đi đặng phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Vô vi nó cũng lòn lỏi đi đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1112.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói rằng hư không thành vô vi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Hư không thành hữu vi phải chăng? Tự ngôn: Không nên nói thế đó...
    • Phản ngữ: Nếu thế đó hư không cũng thành vô vi chớ gì!

    Dứt Hư không ngữ

    ---

    HƯ KHÔNG HỮU KIẾN NGỮ (ĀKĀSA SANIDASSANATIKATHĀ)

    1113.

    • Tự ngôn: Hư không thành hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Sắc xứ, thành Sắc giới, thành màu xanh, thành màu vàng, thành màu đỏ, thành màu trắng, bị Nhãn thức biết, đối chiếu nơi nhãn, đến vào rạch của nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1114.

    • Tự ngôn: Hư không thành hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nương nhãn và hư không mới phát sanh Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1115.

    • Tự ngôn: Nương nhãn và hư không mới sanh ra Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và hư không mới sanh ra Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có !
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và sắc mới sanh ra Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng nương nhãn và sắc mới sanh ra Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói rằng nương nhãn và hư không mới sanh ra Nhãn thức.

    1116.

    • Phản ngữ: Không nên nói hư không thành hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài thấy lỗ trống giữa hai cây, lỗ trống giữa hai cột, lỗ ván, lỗ cửa phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài thấy lỗ giữa hai cây, lỗ giữa hai cột, lỗ ván, lỗ cửa sổ. Chính do nhân đó (Ngài) mới nói hư không thành hữu kiến.

    Dứt Hư không hữu kiến ngữ

    ĐỊA CHẤT HỮU KIẾN NGỮ (PATHAVI DHATU SANIDASSANATAYADIKATHA)

    1117.

    • Tự ngôn: Địa chất là hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Sắc xứ, thành Sắc giới, thành màu xanh, thành màu vàng, thành màu đỏ, thành màu trắng, bị Nhãn thức biết, đối chiếu nơi nhãn, đến vào rạch của nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1118.

    • Tự ngôn: Địa chất là hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nương nhãn và địa chất, Nhãn thức mới phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1119.

    • Tự ngôn: Nương nhãn và địa chất, Nhãn thức mới phát sanh phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và địa chất, mới phát sanh Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có!
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và sắc, mới phát sanh Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng nương nhãn và sắc mới phát sanh Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói rằng nương nhãn và địa chất, mới sanh ra Nhãn thức.

    1120.

    • Phản ngữ: Không nên nói địa chất là hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài thấy đất, thấy đá, thấy núi phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài thấy đất, thấy đá, thấy núi; chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng chất đất là hữu kiến...
    • Phản ngữ: Không nên nói chất nước là hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài thấy nước phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài thấy nước, chính do nhân đó, Ngài mới nói chất nước là hữu kiến ...
    • Phản ngữ: Không nên nói chất lửa là hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài vẫn thấy ngọn lửa phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài vẫn thấy ngọn lửa, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng chất lửa là hữu kiến...
    • Phản ngữ: Không nên nói chất gió là hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài thấy cây cối vẫn bị gió ngã phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài thấy cây cối vẫn bị gió ngã, chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng phong chất là hữu kiến.

    Dứt Địa chất hữu kiến ngữ

    ---

    NHÃN QUYỀN HỮU KIẾN NGỮ (CAKKHUNDRIYA SANIDASSANANTI ADI KATHA)

    1121.

    • Tự ngôn: Nhãn quyền thành hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Sắc xứ, thành Sắc giới, vào đến sông của nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó..

    1122.

    • Tự ngôn: Nhãn quyền là hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nương nhãn và Nhãn quyền mới phát sanh Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

    1123.

    • Tự ngôn: Nương nhãn và Nhãn quyền mới phát sanh Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và Nhãn quyền mới phát sanh Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có!
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và sắc mới phát sanh Nhãn thức. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng nương nhãn và sắc mới phát sanh Nhãn thức như đây là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói nương nhãn và Nhãn quyền mới phát sanh Nhãn thức.

    1124.

    • Phản ngữ: Không nên nói Ngũ quyền là hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài thấy nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài thấy nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân chính do nhân đó, Ngài mới nói Ngũ quyền là hữu kiến..

    Dứt Nhãn quyền hữu kiến ngữ

    ---

    THÂN NGHIỆP HỮU KIẾN NGỮ (KAYAKAMMA SANIDASSANANTIKATHA)

    1125.

    • Tự ngôn: Thân nghiệp là hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Thành Sắc, thành Sắc xứ, thành Sắc giới, thành màu xanh, thành màu vàng, thành màu đỏ, thành màu trắng, Nhãn thức biết đặng, đối chiếu nhãn, vào đến sông của nhãn phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Thân nghiệp là hữu kiến phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nương nhãn và thân nghiệp mới phát sanh Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...
    • Tự ngôn: Nương nhãn và thân nghiệp mới sanh ra Nhãn thức phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và thân nghiệp mới sanh ra Nhãn thức; như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Không có.
    • Tự ngôn: Nói rằng nương nhãn và sắc mới sanh ra Nhãn thức, như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.
    • Tự ngôn: Nếu mà nói rằng nương nhãn và sắc mới sanh ra Nhãn thức như đây là bài Kinh vẫn thật có thời không nên nói nương nhãn và thân nghiệp mới sanh ra Nhãn thức.

    1126.

    • Phản ngữ: Chớ nên nói thân nghiệp thành hữu kiến phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Ngài thấy cách bước đi tới, bước đi lui, ngó qua, ngó lại, ngay tay phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi.
    • Phản ngữ: Nếu mà Ngài thấy cách bước tới bước lui, ngó qua ngó lại, ngay tay. Chính do nhân đó, Ngài mới nói rằng thân nghiệp là hữu kiến.

    Dứt Thân nghiệp hữu kiến ngữ

    Mười một bài kệ tóm lược từ địa chất hữu kiến ngữ ... đến thân nghiệp hữu kiến ngữ.

    Hết Phẩm thứ sáu

    ---

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.