Pháp Hạnh Trí Tuệ Ba-La-Mật Bậc Hạ

Pháp Hạnh Trí Tuệ Ba-La-Mật Bậc Hạ

    NỀN-TẢNG-PHẬT-GIÁO (MŪLABUDDHASĀSANA)

    QUYỂN VII

    PHÁP-HẠNH BA-LA-MẬT 2 (PĀRAMĪ)

    Soạn giả: Tỳ-khưu Hộ-Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu) (Aggamahāpaṇḍita)

     

    Quyển VI: Pháp-Hạnh Ba-La-Mật 1 đã trình bày ba pháp-hạnh ba-la-mật là pháp-hạnh bố-thí ba-la-mật, pháp-hạnh giữ-giới ba-la-mật, pháp-hạnh xuất-gia ba-la- mật, mỗi pháp-hạnh ba-la-mật có ba bậc: bậc hạ, bậc trung, bậc thượng, mỗi bậc được trích dẫn một tích Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, gồm có 9 tích Đức-Bồ- tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama xong, tiếp theo,

    Quyển VII, Pháp-Hạnh Ba-La-Mật 2 này sẽ trình bày pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật, có ba bậc: bậc hạ, bậc trung, bậc thượng, mỗi bậc có trích dẫn một tích Đức- Bồ-tát, gồm có 3 tích Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc ấy làm tiêu biểu như sau:

    4- PHÁP-HẠNH TRÍ-TUỆ BA-LA-MẬT (PAÑÑĀPĀRAMĪ)

    Pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật có ba bậc:

    PHÁP-HẠNH TRÍ-TUỆ BA-LA-MẬT BẬC HẠ TÍCH MAHOSADHAJĀTAKA (MÁ-HÔ-XÁ-THÁ-CHA-TÁ-KÁ)

    Tích Mahosadhajātaka(1) còn gọi là Umaṅgajātaka, trong tích này, Đức-Bồ-tát tên Mahosadha, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ (paññāpāramī).

    Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthi, thuyết về tích Mahosadhajātaka này đề cập đến pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật của tiền-kiếp của Đức-Phật. Tích này được bắt nguồn như sau:

    Một hôm, chư tỳ-khưu đang hội họp tại giảng đường, tán dương ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Thế-Tôn rằng: Đức-Thế-Tôn có trí-tuệ sâu sắc, trí-tuệ vi-tế, trí- tuệ nhanh nhẹn, trí-tuệ sắc bén, trí-tuệ thấu suốt, trí-tuệ khống chế luận thuyết của người khác, v.v... làm cho người nghe bỏ tà-kiến theo chánh-kiến, chứng ngộ chân- lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn trở thành bậc Thánh-nhân.

    - Này chư pháp-hữu! Đức-Thế-Tôn của chúng ta là Bậc đại trí-tuệ như vậy.

    - Này chư pháp-hữu! Đức-Thế-Tôn là bậc có trí-tuệ vĩ đại, trí-tuệ sâu sắc, trí-tuệ siêu-việt, ...

    Trong khi chư tỳ-khưu đang đàm đạo thì Đức-Thế- Tôn ngự đến ngồi trên pháp tòa bèn hỏi rằng:

    - Này chư tỳ-khưu! Các con đang đàm đạo về chuyện gì vậy?

    Chư tỳ-khưu bạch với Đức-Thế-Tôn về chuyện đang đàm đạo như vậy, Đức-Thế-Tôn dạy rằng:

    - Này chư tỳ-khưu! Không phải chỉ bây giờ Như-Lai là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có trí-tuệ như vậy, mà trong thời quá-khứ, những tiền-kiếp của Như-Lai còn là Đức- Bồ-tát, đang tạo bồi bổ các pháp-hạnh ba-la-mật cho được đầy đủ, để trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác, những kiếp Đức-Bồ-tát ấy cũng có nhiều trí-tuệ như vậy.

    Sau khi truyền dạy như vậy, Đức-Thế-Tôn làm thinh.

    Khi ấy, chư tỳ-khưu kính thỉnh Đức-Thế-Tôn thuyết về Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật tạo pháp-hạnh trí- tuệ ba-la-mật.

    TÍCH MAHOSADHAJĀTAKA

    Đức-Thế-Tôn thuyết về tích Mahosadhajātaka, trong tích này, Đức-Bồ-tát Mahosadha, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ được tóm lược như sau:

    Trong thời quá khứ, Đức-vua Vedeha ngự tại kinh- thành Mithilā, trị vì đất nước Videha. Đức-vua có bốn vị quân-sư là Senaka, Pukkusa, Kāminda và Devinda. Bốn vị quân-sư này hằng ngày lo phụng sự Đức-vua Vedeha.

    Đức-Bồ-Tát Mahosadha Tái-Sinh Làm Người

    Tiền-kiếp Đức-Bồ-tát Mahosadha chuyển kiếp (cuti: chết) từ cõi trời Tam-thập-tam-thiên, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau (paṭisandhi) đầu thai vào lòng bà phu-nhân Sumanā của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka vào canh chót đêm ấy.

    Đức-Vua Vedeha Nằm Mộng

    Cũng ngay vào canh chót đêm ấy, Đức-vua Vedeha nằm mộng thấy rằng: “Bốn góc thành cung điện có bốn đống lửa lớn cháy sáng, ở giữa cung điện, một ngọn lửa nhỏ, ban đầu như con đom đóm, rồi phát ra ánh sáng lan rộng, to lớn bao trùm cả bốn đống lửa ở bốn góc thành, ánh sáng ấy tỏa lên cao đến tận cõi trời sắc-giới Phạm- thiên tột đỉnh Akaniṭṭha, tỏa khắp thế giới chúng- sinh, dù một hột cải nhỏ rơi xuống mặt đất cũng có thể nhìn thấy rõ được.

    Tất cả chúng-sinh cõi người, chư thiên các cõi trời dục-giới, phạm-thiên các cõi trời sắc-giới đều đến lễ bái cúng dường ngọn lửa ấy bằng những phẩm vật quý giá.

    Đặc biệt mọi chúng-sinh đến gần đống lửa ấy đều không có cảm giác nóng chút nào, trái lại tất cả đều cảm thấy mát mẻ vô cùng hoan hỷ.”

    Đức-vua Vedeha tỉnh giấc nhớ rõ lại giấc mộng như vậy, không biết sự việc gì sẽ xảy ra, chờ cho đến sáng để hỏi các vị quân-sư.

    Sáng hôm ấy, khi bốn vị quân-sư vào chầu, họ tâu hỏi Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, đêm qua Bệ-hạ ngủ có ngon giấc không?

    Đức-vua truyền rằng:

    - Thưa chư vị quân-sư, đêm qua Trẫm nằm ngủ không ngon giấc, bởi vì Trẫm nằm mộng thấy đống lửa sáng, Trẫm xin thuật lại giấc mộng cho chư vị nghe...

    - Thưa chư vị quân-sư, giấc mộng như vậy, có sự việc gì sẽ xảy ra với Trẫm không?

    Nghe Đức-vua tường thuật lại giấc mộng như vậy, quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ hoan hỷ, đó là giấc mộng lành, những điều tốt lành sẽ phát sinh đến với Bệ-hạ.

    - Thưa quân-sư, những điều tốt lành sẽ phát sinh như thế nào, xin quân-sư tâu cho Trẫm rõ.

    - Tâu Bệ-hạ, nếu căn cứ theo bộ sách xưa đoán mộng thì ngọn lửa đó là ánh sáng trí-tuệ. Như vậy, ngoài bốn vị quân-sư thiện-trí ra, Bệ-hạ sẽ có thêm một bậc đại- thiện-trí thứ năm. Bậc đại-thiện-trí thứ năm này có trí- tuệ siêu-việt, khống chế bốn vị quân-sư thiện-trí chúng thần, như đống lửa ở giữa cung điện có ánh sáng cao tột đỉnh và lan tỏa khắp mọi nơi, không có một ai trong cõi người, chư-thiên trong sáu cõi trời dục-giới, chư phạm- thiên trong 15 cõi trời sắc-giới sánh được với bậc đại- thiện-trí thứ năm này được.

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Thưa quân-sư, hiện nay bậc đại thiện-trí ấy ở đâu?

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, theo bộ sách xưa về đoán mộng, trong giấc mộng lành này, hạ thần suy đoán rằng: “Bậc đại- thiện-trí ấy đã tái-sinh đầu thai làm người hoặc mới sinh ra đời trong đất nước của Bệ-hạ.”

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ ghi nhớ lời suy đoán của vị quân-sư Senaka bắt đầu từ hôm ấy.

    Đất nước Videharaṭṭha có bốn vùng ở bốn cửa kinh- thành Mithilā là:

    1- Dakkhiṇayavamajjhaka: Xóm nhà vùng lúa mạch hướng Nam cửa kinh-thành Mithilā.

    2- Pacchimayavamajjhaka: Xóm nhà vùng lúa mạch hướng Tây cửa kinh-thành Mithilā.

    3- Uttarayavamajjhaka: Xóm nhà vùng lúa mạch hướng Bắc cửa kinh-thành Mithilā.

    4- Pācīnayavamajjhaka: Xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông cửa kinh-thành Mithilā.

    Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama chuyển kiếp (cuṭi: chết) từ cõi trời Tam-thập-tam-thiên, đại- thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau (paṭisandhi) đầu thai vào lòng bà Sumanādevī, phu-nhân của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka tại xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông của kinh-thành Mithilā. Cùng lúc ấy, 1.000 thiên-nam là bạn của Đức-Bồ-tát cũng đồng thời chuyển kiếp (cuṭi), đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau (paṭisandhi) đầu thai vào lòng 1.000 bà phu-nhân của các phú hộ lớn nhỏ trong vùng ông phú hộ Sirivaḍḍhaka sinh sống.

    Khi bà Sumanādevī mang thai tròn đúng 10 tháng, ngay khi Đức-Bồ-tát sinh ra đời, Đức-vua trời Sakka từ cõi trời Tam-thập-tam-thiên hiện xuống cõi người, không một ai thấy được, đặt thỏi thiên dược trong tay Đức-Bồ-tát, để Đức-Bồ-tát dùng làm phương thuốc chữa bệnh cho chúng-sinh khỏi các thứ bệnh như phương thuốc thần dược, sẽ làm cho danh thơm tiếng tốt của Đức-Bồ-tát được nhiều người biết đến.

    Bà Sumanādevī sinh hạ Đức-Bồ-tát ra một cách dễ dàng, không hề đau đớn chút nào. Nhìn thấy có một vật trong tay Đức-Bồ-tát, bà Sumanādevī liền hỏi rằng:

    - Tāta kim te laddhaṃ?

    Này con yêu quý, con đang cầm vật gì vậy?

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát liền thưa với mẹ rằng:

    - Osadhaṃ amma!

    Kính thưa mẫu thân, con cầm thỏi thiên dược.

    Rồi trao thỏi thiên dược ấy cho mẹ, thưa rằng:

    - Amma! Idaṃ osadhaṃ yena kenaci ābādhena ābādhikānaṃ detha.

    Kính thưa mẫu thân, xin mẫu thân ban cho bệnh nhân một chút thiên dược này chữa bất cứ thứ bệnh gì cũng khỏi.

    Nghe đứa con vừa mới sinh nói chuyện được, bà Sumanādevī cảm thấy vô cùng hoan hỷ, cho người báo tin cho ông phú hộ Sirivaḍḍhaka biết chuyện như vậy.

    Ông phú hộ vốn đã mắc bệnh nhức đầu suốt bảy năm qua mà chưa có thứ thuốc nào chữa trị cho khỏi được. Nay nghe phu nhân báo cho biết rằng:

    “Đứa con trai vừa mới sinh ra đời, có cầm theo một thỏi thiên dược và nói chuyện với mẹ được.”

    Ông vô cùng hoan hỷ đến thăm, nhìn thấy đứa con trai, ông phú hộ nghĩ:

    “Đứa con trai này là bậc đại-phước và thỏi thuốc này chắc chắn là thiên dược.”

    Thật vậy, ông phú hộ đem thỏi thuốc mài trên tấm đá rồi thoa trên đầu. Thật phi thường thay! Bệnh nhức đầu của ông phú hộ biến mất ngay tức thì như giọt nước rơi trên lá sen. Ông phú hộ vô cùng hoan hỷ thốt lên rằng:

    - Món thiên dược thật là hay tuyệt vời!

    Từ đó, tin lành món thiên dược này được lan truyền khắp mọi nơi gần xa, những bệnh nhân, dù mắc chứng bệnh gì, chỉ cần thoa nước thuốc thiên dược một lần là chứng bệnh kia khỏi hẳn không bao giờ tái phát lại nữa. Cho nên, mọi bệnh nhân đều tán dương ca tụng món thiên dược của Đức-Bồ-tát thật là hay tuyệt vời, chữa trị các thứ bệnh của họ đều khỏi hẳn.

    Lễ Đặt Tên

    Ngày lễ đặt tên cho Đức-Bồ-tát, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka nghĩ rằng: “Đứa con trai của ta là bậc đại-phước. Khi sinh ra, con của ta cầm thỏi thiên dược (osadha), vậy, ta nên đặt tên con ta là “Osadha” thay vì lấy tên theo dòng họ.”

    Vì vậy, tên của Đức-Bồ-tát là Mahosadhakumāra (má-hô-xá-thá-cú-ma-rá): Công-tử Osadha cao thượng.

    Ông phú hộ Sirivaḍḍhaka nghĩ tiếp rằng:

    “Mahosadhakumāra: Công-tử Osadha cao thượng, con của ta là bậc đại-phước không thể sinh ra một mình, chắc chắn có nhiều bạn thân cùng sinh ra với con của ta. Vậy, ta nên cho gia nhân đi hỏi thăm trong vùng này có đứa trẻ nào sinh cùng ngày với con ta hay không?”

    Ông được biết trong vùng ấy có 1.000 đứa trẻ, con của những gia đình phú hộ lớn nhỏ, sinh cùng đêm với Đức-Bồ-tát Mahosadha. Ông ban 1.000 bộ đồ trang sức quý giá và 1.000 bà vú nuôi cho 1.000 đứa trẻ ấy.

    Khi 1.000 đứa trẻ đi, đứng, chạy chơi được, đều được đem đến làm bạn với Đức-Bồ-tát Mahosadhakumāra.

    Khi lên bảy tuổi, thân hình của Đức-Bồ-tát Mahosadha có các tướng tốt của bậc đại-nhân, nước da như màu vàng ròng nổi bật trong đám trẻ.

    Một hôm, Đức-Bồ-tát Mahosadha cùng với 1.000 bạn trẻ đang vui chơi ở giữa sân thì trời sấm sét, mây kéo đến đen nghịt, chuyển mưa, Đức-Bồ-tát có sức mạnh phi thường, chạy nhanh vào trú mưa trong căn nhà lớn, còn 1.000 bạn trẻ lũ lượt chạy theo, bị té, đạp lên nhau, bị thương nhẹ.

    Nhìn thấy các bạn trẻ bị thương như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadha nghĩ rằng:

    “Ta nên xây dựng một dãy nhà lớn có đầy đủ tiện nghi, có sân chơi thì chúng ta không phải bị khổ vì nắng, mưa, ... như thế này.”

    Sau khi nghĩ xong, Đức-Bồ-tát Mahosadha kêu gọi các bạn trẻ, mỗi bạn đóng góp một đồng Kahāpana, có được 1.000 đồng Kahāpana, phần còn lại Đức-Bồ-tát bao chót. Cho người gọi thợ đến, Đức-Bồ-tát nhờ họ xây dựng một tòa nhà đầy đủ tiền nghi cho mọi người, theo đồ án thiết kế của Đức-Bồ-tát.

    Xây Dựng Tòa Nhà Rộng Lớn

    Những người thợ xây xem qua bản đồ án thiết kế xây dựng, không một ai có khả năng xây dựng tòa nhà như vậy. Do đó, Đức-Bồ-tát Mahosadha phải đứng ra điều hành công việc xây dựng, điều khiển các nhóm thợ làm theo kiểu mẫu của Đức-Bồ-tát.

    Tòa nhà rộng lớn gồm các phòng lớn như sau:

    *Phòng nghỉ dành cho các Sa-môn, Bà-la-môn khách.

    * Phòng nghỉ dành cho các khách lữ hành từ xa đến.

    * Phòng nghỉ dành cho các lái buôn khách.

    * Phòng kho cất giữ hàng hóa của các nhà lái buôn.

    * Phòng nghỉ dành cho những người đàn bà sinh con.

    * Một hội trường lớn, làm giảng đường thuyết pháp.

    * Một tòa án để phán xét công minh những vụ tranh chấp xảy ra.

    * Một trại lớn để làm phước-thiện bố-thí, cúng-dường đến chư Sa-môn, Bà-la-môn, những khách lữ hành, những người nghèo khổ, v.v...

    * Một sân chơi rộng lớn có mái che nắng, mưa to, gió lớn, v.v...

    Theo sự hướng dẫn của Đức-Bồ-tát Mahosadha, những người thợ thi công xây dựng tòa nhà rộng lớn, theo đồ án thiết kế của Đức-Bồ-tát, trải qua một thời gian không lâu đã được hoàn thành.

    Một tòa nhà rất tiện nghi cho mọi người. Đức-Bồ-tát Mahosadha gọi các họa sĩ nổi tiếng đến vẽ những bức tranh đẹp treo trong các phòng lớn, để cho khách đến xem giải trí, giúp cho tinh thần được thoải mái.

    Bên ngoài tòa nhà rộng lớn, Đức-Bồ-tát Mahosadha cho thợ đào hồ nước rộng lớn, trong hồ cho trồng các loại hoa sen, hoa súng đủ màu xinh đẹp, để cho mọi người khách đến tắm mát, xem hoa.

    Cho thợ làm một khu vườn rộng lớn có trồng các loại hoa đẹp, các loài cây ăn quả, đặc biệt các loại cây lớn để về sau trở thành những cây cổ thụ có bóng mát cho những người khách, các loài chim, các loài thú rừng đến nương nhờ.

    Cảnh vật xung quanh rất xinh đẹp và tòa nhà rộng lớn nguy nga tráng lệ này đã được hoàn thiện giống như cảnh trên cõi trời dục-giới, do trí-tuệ siêu việt của Đức Bồ Tát Mahosadha, mới lên bảy tuổi.

    Nơi này trở thành danh lam thắng cảnh, nên mọi người gần xa đến tham quan để giải trí, những người khách lữ hành đến nghỉ chân, v.v...

    Đức-Bồ-tát Mahosadha lập ra trại lớn làm phước- thiện bố-thí đến những người khách lữ hành gần xa đến, đặc biệt làm phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư Sa- môn, Bà-la-môn thực-hành pháp-hạnh cao thượng.

    Những người khách đi đến tham quan rất đông, Đức- Bồ-tát Mahosadha cho người mời vào giảng đường lớn, Đức-Bồ-tát thuyết pháp giảng dạy mọi người hiểu biết về mọi thiện-nghiệp, mọi ác-nghiệp, chánh-kiến, tà-kiến. Đức-Bồ-tát khuyên dạy mọi người nên tránh xa mọi ác- nghiệp, nên cố gắng tinh tấn tạo mọi thiện-nghiệp tùy theo khả năng của mình; khuyên dạy mọi người nên từ bỏ mọi tà-kiến, thấy sai chấp lầm, nên có trí-tuệ hiểu biết đúng theo chánh-kiến, ...

    Như vậy, trong kiếp sống hiện tại hưởng được mọi sự an-lạc, và những kiếp vị-lai cũng hưởng được mọi sự an- lạc hơn nữa.

    Ngoài ra, Đức-Bồ-tát Mahosadha còn đóng vai quan tòa phán xét những vụ tranh chấp, những vụ tranh cãi nhau một cách rất công minh, mà hai bên đều khâm phục chấp thuận, không bên nào phiền hà điều gì cả, họ biết cải tà theo chánh, cải ác làm thiện.

    Đức-Vua Vedeha

    Một hôm, Đức-vua Vedeha ngự tại kinh-thành Mithilā, nhớ lại lời của vị quân-sư Senaka đoán mộng năm trước rằng: “Bậc đại-thiện-trí thứ năm sẽ xuất hiện, có trí-tuệ siêu việt, khống chế bốn vị quân-sư... đến nay đã trải qua bảy năm rồi. Vậy, bậc thiện-trí thứ năm ấy ở nơi nào?”

    Đức-vua Vedeha truyền bảo bốn vị quan cận thần rằng:

    - Này các khanh! Mỗi khanh dẫn đầu một đoàn lính đi ra mỗi cửa kinh-thành, đến mỗi xóm nhà vùng lúa mạch mỗi hướng, để tìm bậc đại-thiện-trí thứ năm hiện ở nơi nào? Rồi sai sứ giả trở về trình tâu cho Trẫm rõ.

    Ba vị quan đến tìm ba xóm nhà vùng lúa mạch hướng Nam, hướng Tây và hướng Bắc không nghe dân chúng trong 3 vùng ấy cho biết tin gì đặc biệt cả.

    Riêng vị quan đến xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông (Pācīnavayamajjhaka) kinh-thành Mithilā, dừng chân tham quan tòa nhà rộng lớn, nguy nga tráng lệ, ngồi nghỉ trong phòng khách xinh đẹp, có trang trí những bức tranh đẹp tuyệt vời, nhìn xem không biết chán, tinh thần cảm thấy thoải mái. Vị quan ấy nghĩ rằng:

    “Người vẽ đồ án thiết kế xây dựng tòa nhà này chắc chắn phải là người có trí-tuệ siêu-việt.”

    Vị quan hỏi những người trông coi tòa nhà ấy rằng:

    - Này quý vị! Tòa nhà này thật là to lớn, đồ sộ, nguy nga tráng lệ chưa từng thấy. Vậy, ai là người vẽ đồ án thiết kế xây dựng tòa nhà này. Xin quý vị cho tôi biết được không?

    Những người có phận sự trong tòa nhà ấy thưa rằng:

    - Kính thưa đại-nhân, tòa nhà này và taàn cảnh vật xung quanh tòa nhà được thiết kế và thi công xây dựng do công-tử Mahosadhapaṇḍita của ông phú hộ Siri- vaḍḍhaka tại vùng này.

    - Này quý vị! Công-tử Mahosadhapaṇḍita năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

    - Kính thưa đại-nhân, công-tử Mahosadhapaṇḍita năm nay tròn đúng 7 tuổi.

    Nghe những người ấy thưa như vậy, vị quan nhẩm tính kể từ năm mà Đức-vua Vedeha nằm mộng, trùng với tuổi của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, nên ông tin chắc bậc đại-thiện-trí thứ năm có trí-tuệ siêu-việt, đích thực chính là công-tử Mahosadhapaṇḍita này, chắc chắn không phải một ai khác nữa! Vị quan ra lệnh cho sứ giả trở về tâu trình lên Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, chúng thần đã phát hiện công-tử Maho- sadhapaṇḍita của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka tại xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông (Pācīnavayamajjhaka) cửa kinh-thành Mithilā. Công-tử Mahosadhapaṇḍita năm nay tròn đúng 7 tuổi (đúng với thời gian mà Bệ-hạ nằm mộng), có trí-tuệ siêu-việt, đã thiết kế và thi công xây dựng một tòa nhà rộng lớn, đồ sộ, nguy nga, tráng lệ, (như trong cung trời dục-giới), chưa từng thấy và cảnh vật xung quanh tòa nhà ấy thật là một kỳ quan, như hồ nước rộng lớn, có nhiều loài hoa sen, hoa súng đủ màu sắc; vườn hoa có đủ các loài hoa thơm, cỏ lạ, vườn cây ăn quả nhiều loại đặc biệt, có các loại cây lớn về sau sẽ trở thành cổ thụ, có khu giải trí, vui chơi, v.v...

    - Tâu Bệ-hạ, Bệ-hạ truyền lệnh kẻ hạ thần mời bậc đại-thiện-trí Mahosadhapaṇḍita về cung điện chầu Bệ- hạ được hay chưa?

    Nghe sứ giả tâu chuyện về Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền mời vị quân-sư Senaka đến chầu.

    Đức-vua truyền thuật lại chuyện về Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita như vậy, rồi truyền hỏi vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, Trẫm nên chuẩn tấu cho mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung điện diện kiến Trẫm được chưa?

    Vị quân-sư Senaka vốn là người có tính hay ganh tỵ, không muốn ai hơn mình, cho nên, khi nghe Đức-vua truyền hỏi về việc mời Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita như vậy, vị quân-sư Senaka khuyên can rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, người xây dựng một tòa nhà và quang cảnh như vậy, chưa có thể gọi là bậc đại-thiện-trí. Một công trình kiến trúc như vậy, vẫn còn là việc nhỏ, xin Bệ-hạ chưa nên truyền mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung sớm.

    Nghe lời khuyên can của vị quân-sư Senaka, Đức-vua nghĩ rằng: “Chắc chắn còn có những sự việc trọng đại khác”, nên Đức-vua làm thinh, rồi truyền bảo sứ giả rằng:

    - Này các khanh! Các khanh nên ở lại nơi ấy tiếp tục theo dõi, xem xét những tài đức của công-tử Maho- sadhapaṇḍita rồi tâu trình cho Trẫm rõ.

    Vâng lệnh Đức-vua, các quan tiếp tục theo dõi, xem xét những tài đức của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Chuyện Miếng Thịt

    Một hôm, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang chơi ngoài sân cùng với nhóm bạn trẻ, nhìn thấy con diều tha miếng thịt bay trên hư không. Một nhóm bạn trẻ chạy đuổi theo, buộc nó phải thả bỏ miếng thịt, mải nhìn theo con diều nên chúng nó bị vấp té, bị thương mà không đạt được mong muốn. Nhìn thấy vậy, Đức-Bồ-tát liền nói với nhóm bạn trẻ ấy rằng:

    - Ta sẽ buộc con diều thả bỏ lại miếng thịt cho xem!

    Nhóm bạn trẻ nói rằng:

    - Xin mời bạn thử tài!

    Nhìn theo bóng con diều trên mặt đất, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chạy thật nhanh, đuổi kịp bóng nó, rồi vỗ tay la lớn. Con diều hoảng sợ, thả bỏ rơi miếng thịt, Đức-Bồ-tát nhảy lên bắt miếng thịt từ trên hư không, không để rơi xuống mặt đất.

    Nhìn thấy tài trí phi thường như vậy, mọi người reo hò, ca tụng Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Biết chuyện như vậy, vị quan ra lệnh sứ giả trở về tâu trình lên Đức-vua rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, con diều tha miếng thịt, bay trên hư không, công-tử Mahosadhapaṇḍita nhìn bóng của nó trên mặt đất, rồi chạy đuổi theo kịp, vỗ tay la lớn. Con diều hoảng sợ, thả bỏ rơi miếng thịt, công-tử nhảy lên bắt miếng thịt rơi từ trên hư không, không để rơi xuống đất như vậy. Hạ thần kính xin tâu trình lên Bệ-hạ rõ.

    Nghe sứ giả tâu trình tài trí phi thường của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita như vậy, Đức-vua truyền hỏi vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, Trẫm nên truyền mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, diện kiến Trẫm được chưa?

    Quân-sư Senaka nghĩ rằng: “Nếu công-tử Mahosadha- paṇḍita là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ siêu-việt, có mưu sâu, kế hay vào cung điện thì bốn vị quân-sư chúng ta chắc chắn sẽ trở thành người vô dụng.”

    Bởi vì tính ganh tỵ ấy nên quân-sư Senaka tâu lời khuyên can rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, việc làm như vậy, chưa có thể gọi là bậc đại-thiện-trí. Chuyện như vậy, ai cũng làm được.

    - Tâu Bệ-hạ! Đó vẫn còn là việc nhỏ, xin Bệ-hạ chưa vội truyền mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung.

    Nghe lời khuyên can của vị quân-sư Senaka như vậy, Đức-vua làm thinh, rồi truyền bảo người lính trở lại bảo sứ giả ấy rằng:

    - Này các khanh! Các khanh nên ở lại nơi ấy tiếp tục theo dõi, xem xét những tài trí của công-tử Maho- sadhapaṇḍita rồi tâu trình cho Trẫm rõ.

    Chuyện Con Bò

    Một người dân trong xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông đi sang làng bên, mua được một con bò đem về để cày bừa. Một buổi sáng, dắt nó ra đồng cho ăn cỏ, người ấy nằm ngủ dưới cội cây. Khi ấy, một kẻ trộm dắt con bò đi nơi khác. Khi tỉnh dậy, không nhìn thấy con bò, người dân ấy chạy theo dấu chân nó, nhìn thấy kẻ trộm dắt con bò của mình đi đằng trước, người ấy gọi lớn rằng:

    - Này người kia, ngươi dắt bò của ta đi đâu?

    Kẻ trộm trả lời rằng:

    - Ông nói gì vậy, tôi dắt bò của tôi về nhà!

    Hai người cãi nhau về con bò, trên đường đi ngang qua cửa tòa nhà của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Nghe thấy vậy, Đức-Bồ-tát cho gọi họ vào hỏi lý do cãi nhau. Nhìn qua hai người, mặc dù Đức-Bồ-tát biết người nào là kẻ trộm và người nào là chủ của con bò ấy, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn hỏi hai người cãi nhau về chuyện gì. Người chủ bò thưa rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi mua con bò ở làng bên kia, sáng nay dắt nó ra đồng cho ăn cỏ, tôi đang nằm ngủ dưới cội cây, thì kẻ trộm này dắt con bò của tôi đi chỗ khác. Khi tỉnh dậy, không thấy con bò, tôi chạy đuổi theo dấu chân nó nên kịp bắt gặp y.

    Tên trộm thưa rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, con bò này là của tôi, người kia vu cáo tôi dắt trộm con bò của y.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Ta sẽ phán xét một cách công minh. Vậy, hai người chịu nghe ta phán xét hay không?

    Hai người đều đồng ý nghe Đức-Bồ-tát phán xét. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hỏi mỗi người rằng:

    - Con bò của người ăn thứ gì? Uống thứ nước gì?

    Kẻ trộm trả lời rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, con bò của tôi ăn cháo, uống nước bột.

    Người chủ bò trả lời rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, con bò của tôi chỉ ăn cỏ, uống nước sông mà thôi.

    Khi nghe hai người trả lời như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo thuộc hạ thân tín lấy lá thuốc, giã nhỏ trộn vào nước, rồi vắt lấy nước cho con bò uống. Sau khi con bò uống xong, nó mửa ra chỉ có cỏ mà thôi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đưa cho mọi người xem, rồi nói với kẻ trộm rằng:

    - Ngươi là kẻ trộm đúng vậy không?

    Với chứng cớ rõ ràng, kẻ trộm buộc phải nhận tội, liền bị nhóm thuộc hạ của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita hành phạt. Đức-Bồ-tát giảng dạy kẻ trộm rằng:

    - Này ngươi! Ngươi đã thấy quả khổ của ác-nghiệp trộm cắp của người khác, không chỉ khổ trong kiếp hiện- tại này mà còn khổ những kiếp vị-lai nữa.

    Sau khi ngươi chết, nếu ác-nghiệp ấy có cơ hội sẽ cho quả tái-sinh trong 4 cõi ác-giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ- quỷ, súc-sinh, chịu quả khổ của ác-nghiệp trộm cắp ấy.

    Vậy, từ nay về sau, ngươi chớ nên tạo ác-nghiệp trộm cắp nữa.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hướng dẫn người ấy thọ trì ngũ-giới và giữ gìn ngũ-giới cho được trong sạch trọn vẹn suốt đời.

    Các quan ra lệnh cho người lính trở về tâu trình lên Đức-vua V edeha, về Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phán xét về chuyện con bò một cách công minh hợp pháp như vậy.

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka cũng khuyên can như các lần trước.

    Chuyện Xâu Chuỗi Hột

    Một cô gái nghèo cởi xâu chuỗi hột kết bằng chỉ đủ màu rất xinh đẹp để trên tấm áo, cô xuống tắm dưới hồ nước của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Một cô gái đi ngang qua hồ, nhìn thấy xâu chuỗi xinh đẹp, phát sinh tâm tham muốn, cúi xuống cầm xâu chuỗi lên khen rằng:

    - Xâu chuỗi đẹp quá! Xin phép cô cho tôi đeo thử. Cô gái nghèo nói rằng:

    - Này bạn gái! Bạn đeo thử vào cổ xem.

    Sau khi đeo vào cổ xong, cô gái ấy bỏ đi luôn, không trả lại xâu chuỗi. Nhìn thấy cô gái kia bỏ đi, cô gái nghèo vội vã lên bờ, chạy đuổi theo, nắm áo cô gái kia nói rằng:

    - Này bạn! Bạn đeo thử xâu chuỗi của tôi, sao không trả lại cho tôi?

    Cô gái trộm cắp trả lời rằng:

    - Này cô! Tôi không lấy xâu chuỗi của cô, xâu chuỗi này là của tôi.

    Hai cô gái đang cãi lộn với nhau về xâu chuỗi. Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang chơi với các bạn ở ngoài sân chơi, thì có người thưa với Đức-Bồ-tát về chuyện 2 cô gái kia. Đức-Bồ-tát cho người gọi hai cô gái đến hỏi rằng:

    - Hai cô cãi nhau về chuyện gì?

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, hai chúng tôi cãi nhau về xâu chuỗi.

    Nhìn hai cô gái, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết cô nào là kẻ trộm, cô nào là chủ của xâu chuỗi, nhưng Đức-Bồ-tát bảo rằng:

    - Ta sẽ phán xét một cách công minh. Vậy, hai người chịu nghe ta phán xét hay không?

    Hai cô đều đồng ý. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hỏi mỗi người rằng:

    - Này cô! Cô nhuộm xâu chuỗi này bằng thứ nước thơm gì?

    Cô gái trộm cắp trả lời rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi nhuộm xâu chuỗi này bằng các nước hoa thơm.

    Cô gái nghèo trả lời rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi nghèo nên không có đủ các thứ nước hoa thơm để nhuộm, tôi chỉ có nhuộm một thứ nước hoa Piyaṅgu mà thôi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo thuộc hạ thân tín đem cái thau đầy nước, bỏ xâu chuỗi vào ngâm trong nước, rồi chọn người biết ngửi nhận ra mùi thơm, người ấy ngửi mùi thơm tỏa ra từ trong nước thì chỉ ngửi thấy mùi thơm của hoa Piyaṅgu mà thôi, không có mùi thơm nào khác nữa.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chỉ về cô gái kia và phán xét cô là người trộm cắp xâu chuỗi, còn xác nhận cô gái nghèo là chủ của xâu chuỗi ấy.

    Các quan ra lệnh cho sứ giả về tâu trình lên Đức-vua Vedeha, về cách Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phán xét chuyện xâu chuỗi một cách công minh như vậy.

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka vẫn khuyên can như các lần trước.

    Cuộn Chỉ Vải

    Một người đàn bà giữ đám bông vải, lượm nhặt bông vải gom lại, kéo thành sợi nhỏ, lấy hột timbaru làm lõi bên trong để quấn thành cuộn chỉ vải, cất vào trong túi đem về nhà.

    Trên đường về đi ngang qua hồ nước của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bà muốn tắm, nên để cuộn chỉ vải trên tấm áo, rồi xuống hồ tắm.

    Khi ấy, một người đàn bà khác nhìn thấy cuộn chỉ vải ấy, phát sinh tâm tham muốn, nhặt cuộn chỉ vải lên và khen rằng: “Cuộn chỉ vải tốt đẹp quá!” Rồi lấy cuốn chỉ ấy đem đi.

    Nhìn thấy bà kia lấy cuộn chỉ vải đi, bà chủ cuốn chỉ đang tắm dưới hồ, vội vã lên bờ, mặc áo, chạy đuổi theo, nắm áo bà kia nói rằng:

    - Này bà! Sao bà dám lấy cuộn chỉ vải của tôi đi vậy?

    Bà trộm cuốn chỉ vải trả lời rằng:

    - Này bà chị nói gì vậy! Cuốn chỉ vải của bà chị đâu, đây là cuốn chỉ vải của tôi.

    Nghe hai người đàn bà cãi nhau về cuộn chỉ vải, Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bèn cho người gọi hai bà vào. Nhìn thấy hai bà, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết rõ bà nào là kẻ trộm, bà nào là chủ của cuộn chỉ vải, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn hỏi rằng:

    - Ta sẽ phán xét một cách công minh. Vậy hai người chịu nghe ta phán xét hay không?

    Hai bà đều đồng ý. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chỉ tay về bà cầm cuộn chỉ vải mà hỏi rằng:

    - Này bà! Khi quấn cuộn chỉ vải này, bà bỏ vật gì làm lõi bên trong?

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi bỏ trái bông vải (kappāsaphalaṭṭhi) làm lõi bên trong.

    Tiếp theo Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chỉ tay về bà hai tay không mà hỏi rằng:

    - Này bà! Khi bà quấn cuộn chỉ vải kia, bà bỏ vật gì làm lõi bên trong?

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi bỏ hột timbaru làm lõi bên trong.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gọi người thuộc hạ thân tín tháo cuộn chỉ vải ra thì thấy hột timbaru bên trong. Vì vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chỉ bà đang cầm cuộn chỉ vải truyền rằng:

    - Này bà! Bà là kẻ trộm cắp cuộn chỉ vải của bà kia phải không?

    Bà ta liền nhận tội trộm cắp, Đức-Bồ-tát khuyên dạy bà ta không nên tạo ác-nghiệp trộm cắp nữa mà nên giữ gìn ngũ-giới cho trong sạch trọn vẹn và nên thực-hành mọi thiện-pháp.

    Các quan ra lệnh sứ giả trở về tâu trình lên Đức-vua Vedeha về cách Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phán xét chuyện cuộn chỉ vải một cách công minh như vậy.

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka vẫn khuyên can như các lần trước.

    Chuyện Đứa Con

    Một người mẹ ẵm đứa con đi ngang hồ nước của Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bà ẵm đứa con xuống hồ tắm sạch sẽ rồi đặt ngồi trên tấm áo của mình, sau đó bà xuống hồ rửa mặt.

    Khi ấy, một nữ Dạ-xoa muốn ăn thịt đứa bé, nên hóa ra một người đàn bà đứng hỏi người mẹ đứa bé rằng:

    - Này bạn! Đứa bé này là con của bạn phải không? Nó rất xinh đẹp và dễ thương quá! Bạn cho phép tôi ẵm nó một chút được không?

    Người mẹ của đứa bé thành thật trả lời rằng:

    - Vâng, đứa bé là con của tôi, bạn muốn ẵm một chút cũng được.

    Được cho phép, bà Dạ-xoa ẵm đứa bé đi khỏi nơi đó. Nhìn thấy bà kia ẵm đứa con mình đi, bà mẹ đứa bé vội vàng lên bờ, chạy đuổi theo kịp, níu áo lôi lại, nói rằng:

    - Bà ẵm đứa con của tôi đi đâu? Dạ-xoa bảo rằng:

    - Con của bà ở đâu? Đây là con của tôi.

    Hai người đàn bà cãi lộn, tranh giành đứa bé đến trước cửa tòa nhà của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Nghe tiếng hai bà cãi lộn, tranh giành đứa bé, Đức-Bồ- tát cho người gọi họ vào.

    Nhìn thấy hai bà, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết bà đang ẵm đứa bé là nữ Dạ-xoa vì đôi mắt của bà màu đỏ, không nháy, không có bóng, và bà kia là mẹ của đứa bé. Tuy biết rõ như vậy, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn hỏi họ rằng:

    - Ta sẽ phán xét một cách công minh. Vậy hai người chịu nghe ta phán xét hay không?

    Hai bà đều đồng ý. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gạch một đường trên nền nhà, bảo mỗi bà ngồi mỗi bên đường vạch sẵn ấy, rồi sai đặt đứa bé nằm giữa đường ranh, đầu đứa bé thuộc bên phần ranh của nữ Dạ-xoa và hai chân đứa bé thuộc bên phần ranh của người mẹ. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Mỗi bà hãy lôi đứa bé về bên ranh của mình.

    Khi hai bà lôi đứa bé thì đứa bé bị đau nên khóc thét lên, người mẹ cảm thấy đau lòng nên buông hai chân đứa con ra, đứng khóc than thảm thiết.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hỏi ý kiến mọi người rằng:

    - Này quý bà con! Khi nghe tiếng khóc của đứa bé thì tâm của người mẹ cảm thấy đau lòng hay tâm của người không phải là mẹ cảm thấy đau lòng?

    Mọi người đều trả lời rằng:

    - Khi nghe tiếng khóc của đứa bé thì tâm của người mẹ cảm thấy đau lòng vì thương con, còn tâm của người không phải là mẹ thì không cảm thấy đau lòng, tâm vẫn thản nhiên được.

    - Này quý bà con! Nếu như vậy thì trong hai người đàn bà này, bà nào là người mẹ thật sự của đứa bé này?

    Mọi người thưa rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, trong hai người đàn bà này, bà đứng khóc than thảm thiết kia chính là người mẹ thật sự của đứa bé này, còn bà đang ẵm đứa bé chắc chắn không phải là mẹ của đứa bé này.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita khẳng định rằng:

    - Đúng vậy, bà đang ẵm đứa bé không phải là người mẹ, bà vốn là nữ Dạ-xoa muốn bắt đứa bé để ăn thịt.

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, có cách nào biết được bà ấy là nữ Dạ-xoa?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dạy rằng:

    - Tôi đã biết rõ bà ấy là nữ Dạ-xoa, không có nghi ngờ gì cả, bởi vì, bà ấy có đôi mắt màu đỏ, không nháy mắt, có hình mà không có bóng. Vả lại, bà ấy không có tâm bi, thương xót đứa bé, bà muốn ăn thịt nó.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hỏi bà ấy rằng:

    - Này bà kia, bà là loài chúng-sinh gì?

    - Thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi là nữ Dạ-xoa.

    - Này nữ Dạ-xoa, người bắt đứa bé để làm gì?

    - Thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, tôi bắt đứa bé này để ăn thịt.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita khuyên dạy nữ Dạ-xoa rằng:

    - Này nữ Dạ-xoa! Ngươi hãy mau trả đứa bé lại cho mẹ của nó. Kiếp trước ngươi đã tạo ác-nghiệp nên kiếp này ngươi làm kiếp nữ Dạ-xoa, nếu kiếp hiện-tại này, ngươi tạo ác-nghiệp nữa thì ngươi sau khi chết, ác- nghiệp có cơ hội sẽ cho quả tái-sinh trong bốn cõi ác- giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy nữa.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hướng dẫn nữ Dạ-xoa thọ trì ngũ-giới, rồi khuyên dạy nữ Dạ-xoa hãy cố gắng giữ gìn ngũ-giới cho được trong sạch trọn vẹn suốt đời.

    Người mẹ của đứa bé tán dương ca tụng ân đức trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, rồi ẵm đứa con về nhà, đồng thời mọi người cũng tán dương ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát.

    Các quan ra lệnh sứ giả trở về tâu trình lên Đức-vua Vedeha về cách Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phán xét chuyện đứa con một cách công minh như vậy.

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka vẫn khuyên can như các lần trước.

    Chuyện Người Lùn Tên Gotakāḷa

    Một người đàn ông lùn và đen tên là Gotakāḷa làm việc suốt bảy năm bên nhà cha mẹ của cô gái tên là Dīghatālā, sau đó mới cưới cô gái ấy về làm vợ. Một hôm, Gotakāḷa gọi người vợ bảo rằng:

    - Này Dīghatālā! Em hãy làm bánh, đồ ăn đi đường, vợ chồng chúng ta sẽ đi thăm viếng cha mẹ của anh.

    Vâng lời chồng làm đồ ăn đi đường xong, tuy người vợ không muốn đi, nhưng phải đi theo chồng. Ông Gotakāḷa mang vật thực đồ dùng cùng với vợ lên đường đi đến con sông cạn, nước chảy, nhưng cả hai vợ chồng đều là người có tính sợ nước sâu, nên không dám lội qua sông, đứng chờ có người lội qua thì đi theo sau.

    Khi ấy, một người đàn ông bất lương, có thân hình cao tên là Dīghapiṭṭhi đến sau, hai vợ chồng thấy ông ta mới hỏi rằng:

    - Này anh! Con sông này sâu hay cạn?

    Tên Dīghapiṭṭhi xem xét biết hai vợ chồng này có tính sợ nước sâu nên trả lời rằng:

    - Con sông này sâu lắm, lại có nhiều cá sấu ăn thịt người nữa!

    - Vậy anh sẽ qua sông bằng cách nào?

    - Tôi đã thường qua lại con sông này, quen với các con cá sấu này, nên chúng không hại tôi được.

    Hai vợ chồng đề nghị rằng:

    - Này anh! Nhờ anh đưa vợ chồng tôi sang bên kia sông, chúng tôi sẽ đền ơn anh.

    Nghe nói vậy, ông Dīghapiṭṭhi nhận lời ngay. Hai vợ chồng đem đồ ăn đồ uống mời ông ta ăn uống no đủ xong ông hỏi rằng:

    - Này anh chị! Tôi sẽ đưa người nào sang trước?

    Ông Gotakāḷa bảo rằng:

    - Tôi nhờ anh đưa vợ tôi sang bên kia sông trước, rồi anh trở lại đưa tôi sau.

    Ông Dīghapiṭṭhi ngồi xuống để cô Dīghatālā leo lên ngồi trên vai của mình và đem các đồ ăn uống, đồ dùng theo nữa, vì ông ta có mưu đồ xấu xa. Ông ta lội xuống sông một quãng rồi co hai chân lại, để đi giống như chỗ nước sâu.

    Ông Gotakāḷa nhìn thấy như vậy, nên nghĩ: “Con sông sâu thật! Người cao như anh ấy mà còn vậy, đối với ta chắc bị chết chìm dưới con sông này mất.”

    Ra giữa dòng sông, ông Dīghapiṭṭhi giở trò tán tỉnh cô Dīghatālā rằng:

    - Này cô em xinh đẹp đáng yêu! Nếu em làm vợ anh thì em sẽ có được những đồ trang sức quý giá, có tớ gái phục vụ, em sẽ sống an-lạc hạnh phúc bên anh.

    Em xinh đẹp như thế này mà có người chồng vừa lùn vừa đen, không xứng đáng với em chút nào, chắc chắn em không được an-lạc hạnh phúc. Xin em hãy ưng thuận làm vợ của anh nhé!

    Cô Dīghatālā vốn không thương yêu ông Gotakāḷa, nay nghe lời tán tỉnh ngọt ngào của ông Dīghapiṭṭhi, nên làm cho cô xiêu lòng, chịu theo tên lừa đảo Dīghapiṭṭhi, bỏ người chồng cũ Gotakāḷa, cô nói rằng:

    - Nếu anh thương yêu em, không bỏ em thì em sẽ đi theo anh.

    Ông Dīghapiṭṭhi nói dối rằng:

    - Anh xin hứa với em, anh sẽ sống chung thủy với em suốt đời.

    Khi qua đến bờ bên kia, ông Dīghapiṭṭhi và cô Dīgha- tālā biểu lộ cử chỉ âu yếm với nhau, rồi dẫn nhau đi.

    Nhìn thấy vợ mình với tên lừa đảo kia âu yếm nhau, rồi dắt nhau đi, ông Gotakāḷa nổi cơn ghen tức, mắng nhiếc rằng:

    - Này tên lừa đảo! Mày dắt vợ ta đi đâu?

    Ban đầu ông Gotakāḷa còn sợ nước sâu, nhưng vì tức giận quá không còn biết sợ chết nữa, nên ông đánh liều chạy nhào xuống sông, biết nước cạn, không có nguy hiểm gì, ông băng qua sông, lên bờ, chạy đuổi theo kịp tên lừa đảo Dīghapiṭṭhi, mắng rằng:

    - Này tên lừa đảo! Mày dắt vợ ta đi đâu?

    Tên lưu manh Dīghapiṭṭhi mắng rằng:

    - Này tên lùn da đen kia! Ai là vợ của mày?

    Tên lưu manh Dīghapiṭṭhi xô ông Gotakāḷa ngã xuống đất, rồi nắm tay cô Dīghatālā dắt đi.

    Ông Gotakāḷa chạy theo gọi rằng:

    - Hãy để vợ của ta lại! Ta đã làm việc suốt bảy năm nhà cha mẹ vợ, mới cưới được người vợ ấy. Tại sao mày dắt vợ ta đi?

    Khi ấy, nghe tiếng la hét bên ngoài cổng tòa nhà, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cho người gọi ba người vào trong tòa nhà, đến phòng phán xét.

    Nhìn thấy ba người, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết rõ hành vi, tâm tính của mỗi người, nhưng Đức-Bồ- tát vẫn hỏi rằng:

    - Chuyện gì mà các người la hét om sòm vậy?

    Mỗi người thưa trình cho Đức-Bồ-tát Mahosatha- paṇḍita nghe xong, Đức-Bồ-tát truyền bảo rằng:

    - Ta sẽ phán xét một cách công minh. Vậy, các người chịu nghe ta phán xét hay không?

    Ba người đều đồng ý nghe Đức-Bồ-tát phán xét. Trong phòng phán xét có đông người tham dự, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita xét hỏi từng người một.

    Trước hết, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita xét hỏi ông Dīghapiṭṭhi, còn cho hai người kia ra bên ngoài phòng, mỗi người đều ngồi cách xa nhau.

    ĐBt: - Ngươi tên gì?

    Ông Dī: - Thưa Ngài, tôi tên Dīghapiṭṭhi.

    ĐBt: - Cha mẹ của ngươi tên gì?

    Ông Dī: ... (Khai tên thật của cha mẹ của mình).

    ĐBt: - Vợ của ngươi tên gì?

    Ông Dī: ... (Mới gặp nhau, chưa biết nên khai tên giả).

    ĐBt: - Cha mẹ vợ của ngươi tên gì?

    Ông Dī: ... (Vì chưa biết nên khai tên giả).

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo y đi ra ngoài phòng, tiếp theo gọi ông Gotakāḷa vào xét hỏi.

    ĐBt: - Ngươi tên gì?

    Ông Go: - Thưa Ngài, con tên Gotakāḷa.

    ĐBt: - Cha mẹ của ngươi tên gì?

    Ông Go: ... (Khai tên thật của cha mẹ của mình).

    ĐBT: - Vợ của ngươi tên gì?

    Ông Go: - Vợ của con tên là Dīghatālā.

    ĐBT: - Cha mẹ vợ của ngươi tên gì?

    Ông Go: ... (Khai tên thật cha mẹ vợ của mình).

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo ông đi ra ngoài phòng, tiếp theo gọi cô Dīghatālā vào xét hỏi.

    ĐBt: - Ngươi tên gì?

    Cô Dī: - Thưa Ngài, tôi tên Dīghatālā.

    ĐBT: - Cha mẹ của ngươi tên gì?

    Cô Dī: ... (Khai tên thật của cha mẹ của mình).

    ĐBt: - Chồng của ngươi tên gì?

    Cô Dī: ... (Vì chưa biết tên, nên khai tên giả).

    ĐBT: - Cha mẹ chồng của ngươi tên gì?

    Cô Dī: ... (Vì chưa biết tên nên khai tên giả).

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cho truyền gọi lại ông Dīghapiṭṭhi và ông Gotakāḷa vào, cả ba người đều ở trong phòng xét xử. Đức-Bồ-tát hỏi mọi người tham dự trong phòng xét xử rằng:

    - Này quý vị! Như vậy, lời khai của cô Dīghatālā đúng theo lời khai của ông Dīghapiṭṭhi hay đúng theo lời khai của ông Gotakāḷa?

    Mọi người đều trả lời rằng:

    - Thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, lời khai của cô Dīghatālā là đúng theo lời khai của ông Gotakāḷa.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Như vậy, ông Gotakāḷa là chồng của cô Dīghatālā, còn ông Dīghapiṭṭhi là người lừa đảo, muốn chiếm vợ của ông Gotakāḷa.

    Ông Gotakāḷa được người vợ trở lại, tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, đồng thời mọi người cũng tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát, vì đã phán xét một cách công minh, hợp pháp.

    Đức-Bồ-tát khuyên dạy ông Dīghapiṭṭhi từ nay về sau chớ nên làm điều bất-thiện, tội lỗi nữa.

    Các quan ra lệnh cho sứ giả trở về tâu trình lên Đức- vua Vedeha về cách Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phán xét chuyện ông Gotakāḷa một cách công minh như vậy.

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka vẫn khuyên can như các lần trước.

    Chuyện Chiếc Xe

    Một người đánh chiếc xe ra khỏi nhà, lo công việc. Khi ấy, Đức-vua Sakka cõi trời Tam-thập-tam-thiên nghĩ:

    “Ta sẽ làm cho nhiều người biết đến trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, tiền-kiếp của Đức-Phật trong thời vị-lai.”

    Nghĩ xong, Đức-vua trời Sakka biến hóa ra thành một người đàn ông đi theo sau chiếc xe. Người chủ xe hỏi:

    - Này người kia! Ngươi đi theo sau xe của tôi để làm gì?

    - Thưa ông chủ, tôi đi theo sau để giúp ông.

    - Cám ơn ông, tốt lắm!

    Dừng chiếc xe lại bên bờ hồ của Đức-Bồ-tát Maho-sadhapaṇḍita, người chủ bước xuống xe, đi đến hồ rửa mặt, thì người đàn ông ấy bước lên xe, rồi đánh chiếc xe đi. Nhìn thấy người đàn ông kia đánh chiếc xe của mình đi, người chủ xe vội vã chạy đuổi theo, kêu la lớn rằng:

    - Hãy dừng chiếc xe lại! Ngươi đánh chiếc xe của ta đi đâu?

    Người đàn ông ngồi trên xe trả lời rằng:

    - Chiếc xe này là của tôi, còn xe của ông là chiếc nào?

    Đứng trước cổng tòa nhà của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita, hai người tranh giành nhau về chiếc xe, người nào cũng nói là chiếc xe đó là của mình.

    Nghe hai người cãi lộn tranh giành nhau, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cho người mời hai người ấy vào.

    Nhìn thấy hai người đàn ông, Đức-Bồ-tát biết rõ một người là Đức-vua trời Sakka, bởi vì ông có vẻ ung dung tự tại, có đôi mắt không nháy, và một người là chủ xe.

    Mặc dù biết rõ như vậy, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn hỏi cho biết nguyên nhân nào hai người cãi lộn, tranh chấp nhau về chiếc xe. Hai người trình bày nguyên nhân tranh chấp nhau, Đức-Bồ-tát hỏi rằng:

    - Ta sẽ phán xét một cách công minh. Vậy hai người chịu nghe ta phán xét hay không?

    Hai người đều đồng ý. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita truyền bảo rằng:

    - Tôi sẽ cho người đánh chiếc xe chạy, rồi hai người nắm phía sau xe chạy theo, người chủ xe sẽ không buông bỏ chiếc xe của mình.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gọi người thân tín của mình đánh chiếc xe chạy, hai người nắm phía sau xe chạy theo chiếc xe.

    Người chủ xe chạy theo được một đoạn đường, cảm thấy mệt nhừ đành phải buông bỏ chiếc xe rồi đứng lại, còn người đàn ông kia vẫn nắm phía sau xe chạy theo.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo chiếc xe chạy trở lại rồi tuyên bố cho mọi người biết rằng:

    - Trong hai người đàn ông này, người chạy theo phía sau chiếc xe một quãng đường ngắn, cảm thấy mệt nhừ đành phải buông bỏ chiếc xe rồi đứng lại. Còn người đàn ông kia dù chạy theo phía sau chiếc xe suốt quãng đường dài mà vẫn không thấy mệt, không có một giọt mồ hôi, hơi thở ra, hơi thở vào vẫn như thường, đặc biệt đôi mắt không nháy.

    Vậy, người đàn ông kia chính là Đức-vua trời Sakka.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bèn tâu rằng:

    - Tâu Ngài, Ngài là Đức-vua trời Sakka phải không?

    Người đàn ông kia trả lời rằng:

    - Thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, phải, tôi là Đức-vua trời Sakka. Rồi hóa trở lại Đức-vua trời Sakka của mình.

    - Tâu Đức-vua trời Sakka, Đức-vua ngự xuống đây với mục đích gì?

    - Thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, Trẫm ngự xuống đây để tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đức-vua trời, nếu như vậy, thì xin Đức-vua không nên làm như vậy nữa.

    Khi ấy, Đức-vua trời Sakka dùng oai lực của mình hiện lên đứng trên hư không, tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu-việt! Ngài đã phán xét rất công minh và hợp pháp.

    Đức-vua trời Sakka xin phép ngự trở về cõi trời Tam- thập-tam-thiên của mình.

    Các quan tự mình trở về chầu Đức-vua Vedeha, thuật rõ lại chuyện chiếc xe, nên tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, sau khi bậc đại-thiện-trí Mahosadha- paṇḍita phán xét chuyện chiếc xe như vậy, Đức-vua trời Sakka đã tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của bậc đại-thiện-trí Mahosadhapaṇḍita.

    Sao Bệ-hạ còn chần chờ gì nữa, mà chưa truyền lệnh mời bậc đại-thiện-trí Mahosadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu- việt vào cung điện diện kiến Bệ-hạ.

    Nghe các quan tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, Trẫm nên truyền mời bậc đại-thiện- trí Mahosadhapaṇḍita vào cung điện diện kiến Trẫm được chưa?

    Vị quân-sư Senaka vốn có tính ganh tỵ nên tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, một người phán xét chuyện chiếc xe như vậy, chưa có thể gọi là bậc đại-thiện-trí. Xin Bệ-hạ chờ đợi để thử tài trí của Mahosadhapaṇḍita để biết có thật là bậc đại-thiện-trí hay không?

    Nghe quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha làm thinh.

    Thử Tài Trí Của Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita

    * Câu Hỏi Về Đoạn Gỗ Ngắn

    Một hôm, muốn thử tài trí của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Vedeha truyền các quan lấy một đoạn gỗ (Khadiradaṇḍa) ngắn khoảng một gang, đem cho thợ mộc bào thân tròn hai đầu bằng nhau, gửi đến dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông kinh-thành Mithilā với lệnh truyền rằng:

    “Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông hãy cho biết đúng đoạn gỗ Khadiradaṇḍa này “đầu nào là gốc, đầu nào là ngọn”. Nếu không ai biết đúng thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.”

    Dân chúng trong vùng hội họp lại, bàn luận, nhưng không một người nào biết được đoạn gỗ này, đầu nào là gốc, đầu nào là ngọn. Họ thưa với ông phú hộ Siri- vaḍḍhaka rằng:

    - Thưa ông phú hộ, dân chúng trong vùng của chúng ta, không người nào biết được đầu gốc, đầu ngọn của đoạn gỗ này.

    Vậy, nhờ ông hỏi thử xem công-tử Mahosadhapaṇḍita có biết hay không?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang chơi với các bạn trẻ ở ngoài sân, ông phú hộ cho người gọi Đức-Bồ-tát vào, ông phú hộ bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita con yêu quý! Đức-vua Vedeha gửi đến dân chúng vùng chúng ta một đoạn gỗ thân tròn với lệnh truyền rằng:

    “Hãy cho biết đúng đoạn gỗ này, đầu nào là gốc, đầu nào là ngọn.”

    Mọi người trong vùng không người nào biết được. Vậy, con có khả năng biết được hay không?

    Nghe phụ thân trình bày như vậy, Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    Đức-vua Vedeha không phải muốn biết đoạn gỗ này đầu nào là gốc, đầu nào là ngọn, mà thật sự, Đức-vua Vedeha gửi đoạn gỗ này chỉ để thử tài trí của ta mà thôi.

    Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát thưa rằng:

    - Kính thưa phụ thân, xin phụ thân cho người đem đoạn gỗ ấy đến đây, chắc chắn con sẽ giải đáp đúng câu hỏi này được.

    Ông phú hộ Sirivaḍḍhaka cho người đem đoạn gỗ ấy đến trao cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Đức-Bồ-tát đưa tay nhận đoạn gỗ ấy liền biết ngay đầu nào là gốc, đầu nào là ngọn. Tuy biết đúng như vậy, nhưng để chứng minh cho mọi người thấy rõ, biết rõ, nên bảo gia nhân khiêng đến một chậu lớn đầy nước. Đức-Bồ-tát lấy sợi dây cột ngay ở giữa đoạn gỗ ấy, cầm đầu dây, thả đoạn gỗ ấy vào trong chậu nước đầy, đầu gốc chìm chúc xuống vì nặng và đầu ngọn nổi lên vì nhẹ. Đức-Bồ-tát hỏi dân chúng rằng:

    - Này quý vị! Thông thường khúc gỗ có đầu gốc nặng hay đầu ngọn nặng?

    Dân chúng đều trả lời rằng:

    - Thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, thông thường khúc gỗ có đầu gốc nặng.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Này quý vị! Như vậy, đầu nặng của đoạn gỗ này là đầu gốc, còn đầu nhẹ kia là đầu ngọn. Xin quý vị đánh dấu xong đem đến trình lên Đức-vua Vedeha.

    Dân chúng đem đoạn gỗ ấy đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, đoạn gỗ này, đầu này là gốc, đầu này là ngọn.

    Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Đúng sự thật. Vậy, ai là người biết đúng như vậy? Biết bằng cách nào?

    Dân chúng tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, là người biết đúng như vậy, biết bằng cách cột sợi dây ở giữa đoạn gỗ này rồi thả vào trong ảng nước đầy, đầu gốc nặng chìm xuống, và đầu ngọn nhẹ nổi lên.

    Nghe dân chúng tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka có trí-tuệ thật là siêu-việt!

    Đức-vua Vedeha truyền hỏi quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, Trẫm truyền mời công-tử Mahosatha- paṇḍita vào cung yết kiến Trẫm được chưa?

    Quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ chờ đợi để thử tài trí của Mahosadhapaṇḍita bằng cách khác nữa.

    Câu Hỏi Về hai Cái Sọ Người

    Một hôm, muốn thử tài trí của Đức-Bồ-tát Mahosatha- paṇḍita, Đức-vua Vedeha truyền các quan đem hai cái sọ người đến trao dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông kinh-thành Mithilā với lệnh truyền rằng:

    - Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông hãy cho biết trong hai cái sọ người này, cái sọ nào là sọ người đàn bà, cái sọ nào là sọ người đàn ông. Nếu không có người nào cho biết đúng thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông không một ai biết rõ cả, nên họ đem hai cái sọ người ấy đến hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Nhìn thấy hai cái sọ người, Đức-Bồ-tát Mahosatha- paṇḍita biết rõ ngay cái sọ nào là sọ người đàn ông, cái sọ nào là sọ người đàn bà, bởi vì xương sọ của người đàn ông có tính chất đặc biệt khác với xương sọ của người đàn bà. Đức-Bồ-tát chỉ sọ của người đàn ông và sọ của người đàn bà, bảo dân chúng đánh dấu, ghi nhớ rõ sọ người đàn ông, sọ người đàn bà, rồi đem đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, cái sọ này là sọ người đàn ông, cái sọ này là sọ người đàn bà.

    Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Đúng sự thật. Vậy, ai là người biết đúng như vậy?

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka là người biết đúng như vậy.

    Nghe dân chúng tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka có trí-tuệ thật là siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua chờ đợi, để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Câu Hỏi Về Con Rắn

    Một hôm, Đức-vua Vedeha truyền các quan đem một con rắn đực và một con rắn cái đến dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông kinh-thành Mithilā với lệnh truyền rằng:

    - Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông hãy phân biệt cho biết trong hai con rắn này, con nào là rắn đực, con nào là rắn cái. Nếu không có người nào biết đúng thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông không một ai biết rõ cả, nên họ đem hai con rắn đến hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Nhìn thấy hai con rắn, Đức-Bồ-tát biết rõ ngay con rắn đực và con rắn cái, do phân biệt rằng:

    - Cái đầu con rắn đực to, cái đầu con rắn cái nhỏ thon. - Cái đuôi con rắn đực to, cái đuôi con rắn cái nhỏ thon. - Con mắt con rắn đực lớn, con mắt con rắn cái nhỏ.

    Đức-Bồ-tát bảo dân chúng rằng:

    - Con rắn có đầu to, đuôi to, đôi mắt lớn là con rắn đực.

    - Con rắn có đầu nhỏ thon, đuôi nhỏ thon, đôi mắt nhỏ là con rắn cái.

    Dân chúng đem hai con rắn đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, con rắn này là con rắn đực và con rắn kia là con rắn cái.

    Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Đúng sự thật. Vậy, ai là người biết đúng như vậy?

    Biết bằng cách nào?

    Dân chúng tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka là người biết đúng như vậy, bằng cách phân biệt như sau:

    - Con rắn có đầu to, đuôi to, đôi mắt lớn là con rắn đực.

    - Con rắn có đầu nhỏ thon, đuôi nhỏ thon, đôi mắt nhỏ là con rắn cái.

    Nghe dân chúng tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka có trí-tuệ thật là siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Mahosatha- paṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua chờ đợi để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Câu Hỏi Về Con Gà Trống

    Một hôm, Đức-vua Vedeha truyền lệnh cho dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông rằng:

    - Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông hãy đem nạp cho Trẫm con vật quý toàn màu trắng, có hai sừng ở dưới hai chân, có miếng thịt dư trên đầu, kêu đúng ba thời. Nếu không nạp đúng con vật ấy thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng trong vùng không một ai biết phải nạp con gì lên Đức-vua Vedeha, nên họ đến hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua truyền lệnh dân chúng trong vùng đem nạp lên Đức-vua một con vật quý toàn màu trắng, có hai sừng ở dưới hai chân, có miếng thịt dư trên đầu, kêu đúng ba thời.

    Kính thưa Ngài, đó là con vật gì vậy? Thưa Ngài.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Này quý vị, Đức-vua Vedeha truyền đem nạp con gà trống toàn màu trắng có hai sừng ở dưới hai chân nghĩa là hai cái cựa gà ở hai chân, có miếng thịt dư trên đầu nghĩa là cái mào của con gà, kêu đúng ba thời nghĩa là gà gáy đúng ba thời.

    Dân chúng đem con gà trống toàn màu trắng đến chầu Đức-vua Vedeha, rồi kính dâng con gà trống ấy, Đức- vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền bảo rằng:

    - Này chư khanh! Sự thật đúng là con vật mà Trẫm cần. Vậy, ai là người biết đúng ý của Trẫm?

    Dân chúng tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka là người biết đúng ý của Đại-vương.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka có trí-tuệ thật là siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua chờ đợi để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Chuyện Về Viên Ngọc Maṇi

    Trong thời quá khứ, Đức-vua trời Sakka ban một viên ngọc maṇi đến cho Đức-vua Bồ-tát Kusa, trong lỗ xâu sợi chỉ xuyên qua viên ngọc maṇi có tám khúc cong, sợi chỉ cũ đã bị đứt bên trong.

    Từ lâu, không có một ai có khả năng lấy sợi chỉ cũ ra, xâu sợi chỉ mới xuyên viên ngọc maṇi này được.

    Một hôm, Đức-vua Vedeha truyền lệnh cho dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông rằng:

    - Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông hãy lấy sợi chỉ cũ dính trong viên ngọc maṇi này ra, và xâu sợi chỉ mới vào, rồi đem dâng trở lại cho Trẫm. Nếu không ai làm được thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng không một ai có khả năng lấy sợi chỉ cũ trong viên ngọc maṇi ra và xâu sợi chỉ mới vào, nên đến cầu cứu xin Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giúp đỡ cho. Đức-Bồ-tát truyền bảo rằng:

    - Này quý vị, chớ nên lo sợ, hãy an tâm, quý vị hãy đem nước ngọt đến đây.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nhỏ nước ngọt vào lỗ viên ngọc maṇi cho thấm ướt sợi chỉ cũ, lấy một sợi chỉ rất nhỏ bỏ một đầu vào lỗ viên ngọc maṇi, rồi nhỏ nước ngọt thấm vào đầu của sợi chỉ mới, đặt viên ngọc maṇi ấy ở chỗ ổ kiến lửa. Đàn kiến lửa đánh mùi nước ngọt kéo đến chui vào lỗ bên này của viên ngọc maṇi ăn lần vào sợi chỉ cũ, đồng thời kéo sợi chỉ mới theo sau đi ra cửa lỗ bên kia.

    Khi đã biết sợi chỉ cũ trong viên ngọc maṇi bị kiến ăn tiêu mất, và sợi chỉ mới đã xâu vào bên trong từ đầu lỗ bên này qua đầu lỗ bên kia, Đức-Bồ-tát đem trao viên ngọc maṇi mà sợi chỉ cũ không còn nữa, sợi chỉ mới đã được xâu xong cho dân chúng rồi bảo rằng:

    - Quý vị hãy đem viên ngọc maṇi này đến chầu Đức Vua Vedeha rồi tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, chúng tiện dân vùng lúa mạch hướng Đông kính dâng trở lại Đại-vương viên ngọc maṇi đã được lấy sợi chỉ cũ ra và được xâu lại sợi chỉ mới vào.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền hỏi rằng:

    - Người nào có khả năng làm được công việc này? Bằng cách nào?

    Dân chúng tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka đã làm được việc ấy, bằng cách nhỏ nước ngọt vào lỗ viên ngọc maṇi cho thấm ướt sợi chỉ cũ, lấy một sợi chỉ rất nhỏ bỏ một đầu vào lỗ viên ngọc, rồi nhỏ nước ngọt thấm vào đầu của sợi chỉ mới, rồi đặt viên ngọc maṇi ấy ở chỗ ổ kiến lửa. Đàn kiến lửa đánh mùi nước ngọt kéo đến chui vào lỗ bên này của viên ngọc maṇi ăn lần vào sợi chỉ cũ, đồng thời kéo sợi chỉ mới theo sau đi ra cửa lỗ bên kia.

    Nghe dân chúng tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka có trí-tuệ thật là siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Mahosatha- paṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua chờ đợi để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Chuyện Con Bò Đực Sinh Con

    Một hôm, Đức-vua Vedeha truyền quân lính cho con bò đực báu ăn bánh thật nhiều làm cho bụng con bò đực to lên. Sau đó, Đức-vua truyền cho lính thoa dầu, lấy nước nghệ tắm con bò đực rồi dắt đến dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông kinh-thành Mithilā với lệnh truyền rằng:

    - Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông các ngươi là người có tài trí, con bò đực của Trẫm đã có thai, Trẫm nhờ các ngươi giúp cho con bò đực này sinh con được an toàn rồi dắt trả lại cho Trẫm cả con bò đực lẫn con của nó. Nếu các ngươi không dắt đủ hai con về lại cho Trẫm thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng hội họp lại bàn bạc, họ không thể nào làm theo lệnh của Đức-vua được, nên họ dẫn nhau đến nhờ Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Vấn đề này cần phải đặt ngược lại”, Đức-Bồ-tát nghĩ xong, truyền bảo rằng:

    - Này quý vị! Quý vị có thể tìm một người đàn ông dũng cảm, có khả năng tâu với Đức-vua được không?

    - Kính thưa Ngài Mahosadhapaṇḍita, chúng tôi có thể tìm người đàn ông như vậy được.

    - Quý vị hãy dẫn người ấy lại gặp tôi.

    Dân chúng dẫn người đàn ông ấy đến gặp Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, Đức-Bồ-tát dạy người ấy rằng:

    - Nhà ngươi hãy xả tóc ra sau, rồi khóc lóc than vãn đi đến trước cửa cung điện của Đức-vua Vedeha, ai hỏi gì cũng không trả lời, cứ khóc lóc than vãn chỉ xin bệ kiến Đức-vua mà thôi.

    Khi Đức-vua truyền hỏi rằng: “Do nguyên nhân nào mà ngươi khóc than vãn như vậy?”

    Nhà ngươi hãy tâu rằng:

    “Muôn tâu Đại-vương, cha của tiện dân không thể sinh con được, đến hôm nay là ngày thứ bảy, Đại-vương là nơi nương nhờ của tiện dân, cầu xin Đại-vương chỉ dạy cách sinh con cho cha của tiện dân.”

    Đức-vua sẽ truyền rằng: “Ngươi cầu xin điều mà không thể thực hiện được. Từ xưa đến nay, người đàn ông có bao giờ sinh con được đâu!”

    Khi ấy, ngươi hãy tâu: “Muôn tâu Đại-vương, nếu điều đó không thể có được thì dân chúng xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông làm sao giúp cho con bò đực báu của Đại-vương sinh con được!”

    Người đàn ông ấy nhận lời, làm đúng theo lời dạy của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita như vậy. Mọi sự việc xảy ra đúng như Đức-Bồ-tát dự đoán.

    Khi nghe lời tâu của người đàn ông vùng lúa mạch hướng Đông ấy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền hỏi rằng:

    - Người nào nghĩ ra, đặt vấn đề ngược lại như thế này?

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, là người nghĩ ra, rồi dạy cho kẻ tiện dân này đến bệ kiến Đại-vương, tâu đúng theo lời dạy của công-tử như vậy.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, có trí-tuệ thật là siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua chờ đợi để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Chuyện Nấu Cơm

    Một hôm, Đức-vua nghĩ cách thử tài trí của Maho- sadhapaṇḍita nên truyền lệnh rằng:

    - Trẫm nghe nói dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông là người có tài trí thông minh, hãy nấu cơm chua (ambilodana) hợp đủ tám điều, rồi đem đến dâng lên Trẫm. Tám điều đó là:

    1- Không được nấu bằng gạo.

    2- Không được nấu bằng nước.

    3- Không được nấu trong nồi.

    4- Không được nấu trên lò.

    5- Không được nấu bằng lửa thường.

    6- Không được nấu bằng củi.

    7- Không cho phép đàn ông hay đàn bà đến dâng.

    8- Không được đem đi theo đường lớn.

    Nếu dân chúng không đem dâng món cơm chua ấy thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng hội họp lại bàn bạc nhưng không người nào biết nấu món cơm đầy đủ tám điều như vậy, họ dẫn nhau đến gặp Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita để Đức- Bồ-tát chỉ dạy rằng:

    - Xin quý vị chớ nên lo sợ, hãy an tâm, quý vị hãy nghe tôi chỉ dẫn như sau:

    1- Lấy tấm nấu cơm chua, nghĩa là không nấu bằng gạo.

    2- Nấu bằng hạt sương, nghĩa là không nấu bằng nước.

    3- Nấu trong đồ vật bằng đất mới, nghĩa là không nấu trong nồi.

    4- Lấy 3 gốc cây chụm lại, đặt đồ bằng đất mới lên nấu, nghĩa là không nấu trên lò.

    5- Lấy 2 cây khô cọ vào nhau, phát ra lửa nấu cơm, nghĩa là không nấu bằng lửa thường.

    6- Nấu cơm bằng lá cây khô, nghĩa là không nấu bằng củi.

    7- Chọn người ái nam ái nữ đem cơm chua đến dâng Đức-vua, nghĩa là không phải đàn ông, cũng không phải đàn bà.

    8- Đem cơm chua đi theo đường nhỏ mới tự tạo, nghĩa là không đi theo đường lớn cũ.

    Dân chúng nấu cơm chua đúng theo lời dạy của Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Sau đó, người ái-nam ái-nữ đem món cơm chua đến chầu, kính dâng lên Đức-vua Vedeha, tâu cách nấu hợp đủ tám điều mà Đức-vua truyền lệnh.

    Nghe người ái-nam ái-nữ tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền hỏi rằng:

    - Này ngươi! Người nào chỉ dạy cách nấu món cơm chua này?

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, chỉ dạy cách nấu món cơm chua đúng theo lệnh của Đại-vương.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, có trí-tuệ thật là siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua chờ đợi để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Chuyện Về Sợi Dây Bằng Cát

    Muốn thử tài trí thông minh của Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita, Đức-vua Vedeha truyền lệnh dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông rằng:

    - Trẫm muốn chơi đánh đu mà sợi dây cũ trong cung điện đã bị đứt. Vậy, dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông hãy làm hai sợi dây mới bằng cát đem dâng đến Trẫm. Nếu không ai làm được hai sợi dây mới bằng cát, rồi đem dâng đến Trẫm thì sẽ bị phạt 1.000 Kahāpana.

    Dân chúng hội họp lại bàn bạc, nhưng không có ai biết làm cách nào được, họ dẫn nhau đến thưa với Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita về lệnh của Đức-vua như vậy. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Sự việc này cần phải đặt ngược lại vấn đề.”

    Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát an ủi dân chúng rằng:

    - Này quý vị! Xin quý vị hãy an tâm, quý vị hãy tìm 2- 3 người đàn ông dũng cảm, thông minh, tâu với Đức-vua được, dẫn đến đây gặp tôi.

    Dân chúng dẫn hai người đàn ông dũng cảm, thông minh đến gặp Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Đức-Bồ- tát truyền dạy họ rằng:

    - Này hai người! Khi hai người đến chầu Đức-vua Vedeha và tâu rằng: “Muôn tâu Đại-vương! Dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông không biết Đại-vương cần hai sợi dây bằng cát cỡ lớn hoặc nhỏ chừng nào.

    Kính xin Đại-vương ban cho sợi dây bằng cát cũ khoảng một gang tay hay bốn lóng tay làm mẫu, để dân chúng làm giống theo mẫu của Đại-vương.

    Đức-vua Vedeha sẽ truyền bảo với quý vị rằng: “Sợi dây làm bằng cát trong cung điện chưa từng có bao giờ”, thì quý vị nên tâu:

    “Muôn tâu Đại-vương! Nếu không có sợi dây bằng cát cũ làm mẫu thì dân chúng vùng lúa mạch hướng Đông làm sao có thể làm dây cát mới được?”

    Hai người đàn ông dũng cảm, thông minh ghi nhớ lời dạy của Đức-Bồ-tát Mahosadha đến xin bệ kiến Đức-vua Vedeha, tâu đúng như lời truyền dạy của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Mọi sự việc xảy ra đúng như Đức- Bồ-tát dự đoán.

    Nghe hai người dân tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền hỏi rằng:

    - Này các ngươi! Người nào nghĩ ra cách đặt sự việc ngược lại vấn đề như thế này?

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, là người nghĩ ra cách đặt sự việc ngược lại vấn đề như vậy, rồi truyền dạy cho kẻ tiện dân này đến bệ kiến Đại-vương, tâu đúng theo lời dạy của công-tử Mahosadhapaṇḍita như vậy.

    Đức-vua vô cùng hoan hỷ tán dương rằng:

    Công-tử Mahosadhapaṇḍita, con của phú hộ Siri-vaḍḍhaka có trí-tuệ thật siêu việt!

    Đức-vua Vedeha muốn truyền mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào cung điện, nhưng vị quân-sư Senaka xin Đức-vua nên chờ đợi để thử tài trí của công-tử bằng cách khác nữa.

    Đức-Vua Ngự Đi Mời Công-Tử Mahosadhapaṇḍita

    Đức-vua Vedeha suy xét: “Ta đã thử tài trí thông minh của công-tử Mahosadhapaṇḍita bằng nhiều cách khác nhau, có những cách thuận, có những cách nghịch, cách nào cũng khó khăn, sâu sắc mà công-tử đã giải đáp một cách rất phi thường, khiến cho ta vô cùng cảm phục trí-tuệ siêu-việt của công-tử. Ta muốn mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung điện để giúp ta, nhưng vị quân-sư Senaka khuyên can ta nên chờ đợi và tiếp tục thử tài trí thông minh của công-tử nữa.

    Bây giờ, ta không muốn chờ đợi nữa mà chính ta thân hành ngự đi mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung để giúp ta.”

    Sau khi suy xét xong, Đức-vua Vedeha thân hành ngự đi cùng với đoàn hộ giá đông đảo, Đức-vua cỡi con ngựa báu ngự đi được một quãng đường xấu, vó của con ngựa bị hư, nên đành phải hồi cung, trở về kinh-thành Mithilā, chờ cơ hội khác.

    Khi ấy, quân-sư Senaka vào chầu Đức-vua, tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, Bệ-hạ thân hành ngự đi đến xóm nhà lúa mạch hướng Đông phải không?

    Đức-vua Vedeha thuật lại là ngự đi một quãng đường xấu, vó của con ngựa bị hư nên chưa đến nơi, đành phải hồi cung. Vị quân-sư tâu:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, hạ thần đã khuyên can Bệ-hạ nên chờ đợi để thử tài trí của Mahosadhapaṇḍita bằng cách khác nữa.

    Nghe lời khuyên can của vị quân-sư Senaka như vậy, nhưng Đức-vua Vedeha không muốn chờ đợi lâu nữa, chỉ muốn truyền mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung điện sớm mà thôi, nên Đức-vua nói với vị quân-sư Senaka rằng:

    - Này quân-sư, Trẫm muốn truyền mời công-tử Mahosadhapaṇḍita vào cung điện. Vậy, quân-sư có cách nào giúp Trẫm.

    Vị quân-sư Senaka biết không thể nào khuyên can được nữa nên tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, Bệ-hạ không nên thân hành ngự đến mời công-tử Mahosadhapaṇḍita mà chỉ cần truyền gửi vị quan đến gặp công-tử với lời truyền lệnh rằng:

    “Hôm trước, Trẫm thân hành ngự đi đến gặp công-tử, nhưng giữa đường vó ngựa báu của Trẫm bị hư, nên Trẫm phải hồi cung.

    Nay, Trẫm muốn chính công-tử và phụ thân của công- tử, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, đem một con ngựa báu (assatara) hoặc con tuấn mã cao quý hơn ngựa thường dâng lên Trẫm.”

    - Tâu Bệ-hạ, như vậy, nguyện vọng mời công-tử Mahosadhapaṇḍita của Bệ-hạ sẽ được thành tựu như ý.

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha chuẩn tấu ngay, truyền lệnh các quan thi hành.

    Vị quan đến gặp công-tử Mahosadhapaṇḍita, trao tận tay lệnh truyền của Đức-vua Vedeha. Đọc xong lệnh của Đức-vua Vedeha, Đức-Bồ-tát nghĩ rằng:

    “Đức-vua Vedeha muốn gặp ta và phụ thân của ta.”

    Chuyện Con Lừa Đực Với Con Ngựa Báu

    Ngay khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến hầu phụ thân, thưa rằng:

    - Kính thưa phụ thân, Đức-vua Vedeha muốn gặp phụ thân và con. Con xin phụ thân cùng đi với đoàn tuỳ tùng 1.000 phú hộ lớn nhỏ thuộc hạ, và phụ thân nhớ mang theo hộp trầm và bơ lỏng dâng lên Đức-vua Vedeha.

    Khi chầu Đức-vua, phụ thân nói lời chúc tụng Đức- vua xong, Đức-vua sẽ truyền bảo phụ thân ngồi nơi hợp lẽ. Khi con đến, Đức-vua truyền hỏi con xong sẽ truyền bảo con ngồi nơi hợp lẽ.

    Khi ấy, con sẽ đưa mắt nhìn phụ thân thì phụ thân hãy đứng dậy, rồi bảo con rằng:

    “- Này Mahosadhapaṇḍita con yêu quý! Con hãy đến ngồi chỗ của phụ thân, phụ thân sẽ ngồi chỗ khác.”

    Như vậy, mọi vấn đề sẽ được sáng tỏ ngay hôm ấy.”

    Ông Phú hộ Sirivaḍḍhaka hứa sẽ làm theo sự yêu cầu của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, con của ông.

    Ông phú hộ đi cùng với phái đoàn tùy tùng gồm 1.000 phú hộ lớn nhỏ đến chầu Đức-vua Vedeha.

    Khi Đức-vua cho phép, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka cùng với 1.000 phú hộ lớn nhỏ đến bệ kiến Đức-vua, tán dương, ca tụng Đức-vua, dâng phẩm vật lên Đức-vua xong, đứng một nơi hợp lẽ. Đức-vua truyền hỏi:

    - Này phú hộ Sirivaḍḍhaka! Mahosadhapaṇḍita con của ngươi đâu?

    - Muôn tâu Đại-vương, Mahosadhapaṇḍita, con của tiện dân đến sau. Tâu Đại-vương.

    Nghe phú hộ tâu như vậy, Đức-vua vô cùng hoan hỷ, truyền bảo rằng:

    - Này phú hộ Sirivaḍḍhaka, ngươi nên ngồi nơi hợp lẽ. Nghe Đức-vua truyền bảo, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka ngồi một nơi hợp lẽ.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita (mới lên bảy tuổi) mặc trang phục sang trọng, trang sức những viên ngọc quý giá, ngồi trên chiếc xe lộng lẫy cùng với đoàn hộ tống 1.000 bạn trẻ cỡi ngựa và xe đi theo sau. Đức-Bồ-tát có đem theo một con lừa đực (Gadrabha), được bịt miệng và bỏ trong bao đặt trên xe.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng đoàn hộ tống đông đảo đi vào kinh-thành Mithilā, dân chúng trong kinh-thành ra đứng đón rước Đức-Bồ-tát.

    Nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có những tướng tốt của bậc đại-nhân, họ đều tán dương ca tụng Đức-Bồ-tát một cách tôn kính.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến trước cung điện, lính vào tâu trình Đức-vua Vedeha.

    Nghe lính tâu trình công-tử Mahosadhapaṇḍita đến, Đức-vua Vedeha truyền lệnh mời công-tử Maho- sadhapaṇḍita vào chầu.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng 1.000 bạn trẻ vào cung điện, bước lên lâu đài, đảnh lễ Đức-vua Vedeha, tán dương ca tụng Đức-vua xong, đứng một nơi hợp lẽ.

    Nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua vô cùng hoan hỷ truyền bảo với lời thương yêu rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, con yêu quý! Con nên ngồi chỗ ngồi hợp lẽ của con.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đưa mắt nhìn phụ thân, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka đứng dậy, nhường chỗ ngồi cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita với lời lẽ thương yêu rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, con yêu quý của cha! Con hãy nên ngồi chỗ của cha đây!

    Nói xong, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka nhường chỗ, sang ngồi chỗ khác. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bước đến ngồi chỗ của cha.

    Khi ấy, bốn vị quân-sư Senaka, Pukkusa, Kāminda và Devinda cùng nhau vỗ tay cười khinh mạn, có số quan trong triều a dua cười theo. Các vị quân-sư nói lời chế nhạo rằng:

    - Đứa con của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka vô lễ như thế mà người ta gọi là bậc đại-thiện-trí (paṇḍita) được!

    Con mà leo lên ngồi chỗ của cha mình, còn người cha nhường chỗ sang ngồi chỗ khác. Thế mà gọi là bậc đại- thiện-trí “paṇḍita” được hay sao?

    Thật là đáng mỉa mai gọi là “Bậc đại-thiện-trí.”

    Nghe bốn vị quân-sư và các quan chê trách, khi nhìn thấy hành vi cử chỉ của công-tử Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Vedeha có vẻ thất vọng.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu hỏi rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương có vẻ thất vọng về thảo dân phải không?

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Phải, Trẫm thất vọng về ngươi. Từ trước nghe nói ngươi là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ siêu-việt, đã từng giải đáp những sự việc xảy ra khó khăn một cách rất phi thường, nên Trẫm đã đặt ra vấn đề khó giải để thử tài trí thông minh của ngươi, mà ngươi đã giải đáp thông suốt, khiến cho Trẫm vô cùng cảm phục.

    Cho nên, Trẫm rất kỳ vọng nhiều nơi ngươi, nhưng nay, nhìn thấy hành vi cử chỉ của ngươi đối với cha, ngươi leo lên ngồi chỗ của cha, còn cha nhường chỗ, ngồi nơi khác.

    Đó là điều làm cho Trẫm thất vọng về ngươi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương nghĩ rằng: “Cha lúc nào cũng cao quý hơn con, phải vậy không?”

    Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Phải, cha lúc nào cũng cao quý hơn con.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương đã truyền lệnh rằng: “Nay, Trẫm muốn chính công-tử và phụ thân của công-tử, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka đem một con ngựa báu (assatara) hoặc con tuấn mã cao quý hơn ngựa thường đến dâng lên Trẫm.”

    Sau khi nhắc lại lệnh truyền của Đức-vua, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, bảo nhóm tuỳ tùng, thuộc hạ, đem con lừa đực đến đặt nằm dưới đôi bàn chân của Đức-vua Vedeha rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, con lừa đực này có đáng giá bao nhiêu?

    Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Nếu con lừa đực này còn làm việc được thì nó có đáng giá 8 đồng Kahāpana.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, nếu con ngựa báu (assatara) nương nhờ con lừa đực này là cha, sinh ra từ bụng con ngựa cái thường hoặc con lừa cái, trở thành con ngựa báu thì đáng giá bao nhiêu?

    Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Nếu là con ngựa báu thì trở thành vô giá.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, sao Đại-vương truyền bảo như vậy. Vừa rồi Đại-vương truyền bảo rằng: “Cha lúc nào cũng cao quý hơn con”.

    Nếu Đại-vương truyền bảo sự thật như vậy thì con lừa đực này cao quý hơn con ngựa báu.

    Vậy, kính xin Đại-vương nhận con lừa đực này.

    Nếu con ngựa báu cao quý hơn con lừa đực này thì con cao quý hơn cha không phải là vấn đề khó hiểu.

    - Muôn tâu Đại-vương, vấn đề đơn giản, tầm thường đến như vậy, thế mà bốn vị quân-sư có trí-tuệ của Đại- vương cũng không hiểu nổi được, mà lại a dua theo với nhau vỗ tay, cười khinh mạn, chế nhạo kẻ thảo dân này.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita coi thường bốn vị quân-sư của Đức-vua Vedeha rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương nghĩ rằng: Nếu cha lúc nào cũng cao quý hơn con thì con lừa đực (cha) này cao quý hơn con ngựa báu (assatara), bởi vì con lừa đực là cha của con ngựa báu ấy.

    - Muôn tâu Đại-vương, nếu sự thật cha lúc nào cũng cao quý hơn con, thì Đại-vương nhận cha của kẻ thảo dân ở lại trong cung điện.

    Nếu con cao quý hơn cha thì xin Đại-vương nhận kẻ thảo dân này ở lại trong cung điện, để phụng sự Đại-vương đem lại sự lợi ích, sự phát triển cho đất nước.

    Nghe lời giảng giải của Đức-Bồ-tát Mahosadha, Đức- vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Công-tử Mahosadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu-việt đã giảng giải chuyện con lừa đực với con ngựa báu (assatara) đầy đủ ý nghĩa đúng theo sự thật, sâu sắc tuyệt vời quá!

    Và các quan trong triều đình cũng đều tán dương, ca tụng trí-tuệ sâu sắc siêu việt của Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita, đều vỗ tay, vẫy khăn vui mừng.

    Bốn vị quân-sư Senaka, Pukkusa, Kāminda và Devinda là những người lớn tuổi cảm thấy xấu hổ, cúi gầm mặt, không dám nhìn ai.

    Vấn: Trong đời này, Đức-Bồ-tát là người con có lòng tôn kính và biết ơn cha mẹ không có người con nào sánh được. Vậy, tại sao Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có hành vi cử chỉ đối với phụ thân của Ngài như vậy?

    Đáp: Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có hành vi cử chỉ đối với phú hộ Sirivaḍḍhaka, phụ thân của Đức-Bồ- tát như vậy, không phải không tôn kính phụ thân của Đức-Bồ-tát, nhưng đó chỉ là cách dụng kế để giảng giải chuyện con lừa đực với con ngựa báu assatara mà thôi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đem con lừa đực, cha của con ngựa báu assatara dâng lên Đức-vua Vedeha, để giảng giải cho Đức-vua Vedeha và các quan trong triều biết rằng: “Con lừa đực là cha của con ngựa báu assatara, và con ngựa báu assatara là con của con lừa đực. Con ngựa báu assatara là cao quý hơn con lừa đực.”

    Nhân chuyện ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chứng tỏ cho Đức-vua Vedeha và mọi người biết đến Đức-Bồ-tát là người có trí-tuệ siêu-việt, đồng thời cũng làm cho bốn vị quân-sư Senaka, Pukkusa, Kāminda và Devinda không nên coi thường Đức-Bồ-tát.

    Công-tử Mahosadhapaṇḍita Trở Thành Hoàng-tử

    Nghe công-tử Mahosadhapaṇḍita giảng giải về chuyện con lừa đực là cha của con ngựa báu assatara, và con ngựa báu assatara là con của con lừa đực với đầy ý nghĩa sâu sắc, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương, ca tụng trí-tuệ sâu sắc, siêu việt của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha truyền gọi ông phú hộ Sirivaḍḍhaka đến, rồi lấy bình vàng đựng đầy nước thơm rót lên trên đôi bàn tay của ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, ban thưởng ân huệ và ban cho ông chức quyền lớn trong xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông (Pācīnayava- majjhaka), kinh-thành Mithilā và gửi những đồ trang sức quý giá ban cho bà phu nhân Sumanādevī, mẫu thân của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Đức-vua Vedeha truyền bảo ông phú hộ Sirivaḍḍhaka rằng:

    - Này phú hộ Sirivaḍḍhaka! Nhà ngươi hãy cho công- tử Mahosadhapaṇḍita trở thành hoàng-tử của Trẫm.

    Nghe Đức-vua truyền bảo như vậy, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, công-tử Mahosadhapaṇḍita còn thơ ấu, miệng còn hôi sữa, chờ công-tử trưởng thành mới nên vào phụng sự Đại-vương.

    - Này phú hộ Sirivaḍḍhaka! Kể từ bây giờ, nhà ngươi chớ nên bận tâm, lo cho công-tử Mahosathapaṇḍita nữa. Trẫm sẽ nuôi dưỡng công-tử của nhà ngươi như là hoàng-tử của Trẫm.

    Khi nghe Đức-vua Vedeha truyền bảo như vậy, ông phú hộ Sirivaḍḍhaka không dám tâu gì nữa, ôm công-tử Mahosadhapaṇḍita vào lòng, hôn trên đầu và khuyên rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita yêu quý của cha! Con là trái tim, là đôi mắt của cha, là nơi nương nhờ của cha mẹ. Con ở lại cung điện phụng sự Đức-vua, con chớ nên dể duôi nghe con!

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đảnh lễ dưới đôi bàn chân của phụ thân rồi thưa rằng:

    - Kính thưa phụ thân, kính xin phụ thân chớ nên bận tâm về con, xin phụ thân giữ gìn thân tâm được an-lạc, cho con kính lời đảnh lễ mẫu thân Sumanā của con, cầu mong mẫu thân luôn luôn thân tâm an-lạc.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tiễn đưa phụ thân của Đức-Bồ-tát trở về xóm nhà vùng lúa mạch hướng Đông.

    Đức-vua Vedeha truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita rằng:

    - Này hoàng-nhi! Con muốn ở trong nội cung hay ngoại cung?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ: “Ta có đám bạn trẻ đông đảo, nên ở ngoại cung là thuận lợi hơn”, nên tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, con có nhóm bạn trẻ đông. Vậy, kính xin Đức Phụ-vương cho chúng con ở ngoại cung thuận lợi hơn.

    Đức-vua Vedeha truyền ban cho các chỗ ở sang trọng, có đầy đủ tiện nghi cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng với 1.000 bạn trẻ, thuộc hạ của Đức-Bồ-tát.

    Từ đó, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng đám bạn trẻ hết lòng lo phụng sự Đức-vua Vedeha.

    Đức-vua Vedeha thử tài trí thông minh của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita:

    Chuyện Viên Ngọc Maṇi

    Một viên ngọc maṇi được đặt trong tổ con quạ trên một cây thốt nốt bên bờ hồ gần cửa hướng Nam kinh- thành Mithilā, bóng của viên ngọc maṇi hiện xuống hồ nước. Dân chúng tâu lên Đức-vua rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, một viên ngọc maṇi hiện rõ trong hồ nước.

    Đức-vua mời vị quân-sư Senaka đến truyền bảo rằng:

    - Này quân-sư, nghe dân chúng tâu rằng: “Viên ngọc maṇi hiện rõ trong hồ nước.”

    Vậy, làm thế nào lấy viên ngọc ấy cho Trẫm?

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, múc hết nước trong hồ ra, rồi lấy viên ngọc ấy.

    - Này quân-sư, Trẫm giao phận sự ấy cho khanh đảm trách.

    Vị quân-sư Senaka huy động số đông người múc nước hồ ra, làm cho khô cạn, rồi đào xuống sâu cũng không gặp viên ngọc maṇi. Đến khi nước hồ đầy, bóng viên ngọc maṇi lại hiện ra như trước.

    Vị quân-sư Senaka lại huy động số đông người múc nước hồ như lần trước, cũng không tìm thấy viên ngọc maṇi. Đến khi nước hồ đầy, bóng viên ngọc maṇi lại hiện ra như trước.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, hoàng-nhi yêu quý! Con có khả năng lấy viên ngọc maṇi ấy được không?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, điều ấy không khó đối với con. Kính thỉnh Đức Phụ-vương ngự đến nơi ấy, con sẽ lấy viên ngọc maṇi ấy, rồi kính dâng lên Đức Phụ-vương.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua vô cùng hoan hỷ nghĩ rằng:

    “Hôm nay, ta sẽ thấy rõ trí-tuệ siêu-việt của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita.”

    Đức-vua ngự cùng với bốn vị quân-sư, các quan trong triều đến hồ nước gần cửa hướng Nam kinh-thành Mithilā.

    Dân chúng tụ hội đông đảo xem tài trí Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Đức-Bồ-tát đứng trên bờ hồ, nhìn thấy bóng viên ngọc maṇi, nên biết rõ viên ngọc maṇi này không ở dưới hồ nước mà nó ở trên cây thốt nốt.

    Vì vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, viên ngọc không ở dưới hồ nước này.

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Vậy, viên ngọc maṇi mà nhìn thấy trong hồ nước này là thế nào?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cho người lấy một cái thau lớn đầy nước đem đến, rồi thỉnh Đức-vua nhìn vào thau nước ấy rồi tâu rằng:

    -Muôn tâu Đức Phụ-vương, viên ngọc maṇi ấy bây giờ không ở dưới hồ nước mà nó hiện ở trong thau nước này.

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Vậy, sự thật, viên ngọc maṇi ấy ở đâu?

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, bóng viên ngọc maṇi hiện ra dưới hồ nước cũng có, hiện ra trong thau nước cũng có. Vậy, viên ngọc maṇi ấy không có ở dưới nước mà sự thật viên ngọc maṇi ấy ở trên cây thốt nốt kia.

    Kính xin Đức Phụ-vương truyền cho lính leo lên cây thốt nốt kia đem viên ngọc maṇi xuống.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh cho lính leo lên cây thốt nốt kia đem viên ngọc maṇi xuống trao cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Nhận viên ngọc maṇi xong, Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita đem đến kính dâng trên tay Đức-vua Vedeha.

    Khi ấy, các quan, dân chúng cùng tán dương, ca tụng Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita và chê trách vị quân-sư Senaka là người si-mê rằng:

    “Viên ngọc maṇi ở trên cây thốt nốt. Vậy mà vị quân- sư Senaka si-mê huy động số đông người múc khô nước hồ, đào sâu trong hồ để tìm viên ngọc maṇi.”

    Đức-vua Vedeha ban thưởng cho hoàng-tử Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita vòng ngọc quý và ban 1.000 vòng ngọc khác cho 1.000 bạn trẻ của Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh hoàng-tử Mahosadha cùng 1.000 bạn trẻ của Đức-Bồ-tát nhận chức vụ trong triều đình của Đức-vua Vedeha.

    Chuyện Về Con Cắc Kè

    Một hôm, Đức-vua Vedeha ngự đi du lãm trong vườn thượng uyển cùng với hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita. Khi ấy, một con cắc kè ở trên cây, nhìn thấy Đức-vua ngự đến, nó bò xuống đất, cúi đầu tôn kính Đức-vua.

    Nhìn thấy con cắc kè có cử chỉ tôn kính lạ thường, nên Đức-vua bèn hỏi hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Con cắc kè này làm gì vậy?

    - Tâu Đức Phụ-vương, con cắc kè cúi đầu, tỏ vẻ tôn kính Đức Phụ-vương.

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Trẫm nên ban thưởng gì cho nó?

    - Tâu Đức Phụ-vương, kính xin Đức Phụ-vương chỉ cần ban vật thực cho nó hằng ngày.

    Đức-vua truyền lệnh gọi người chăm sóc vườn thượng uyển đến, truyền bảo rằng:

    - Này ngươi! Mỗi ngày, ngươi chi số tiền nửa māsaka (tiền), mua thịt ban cho con cắc kè này.

    Tuân lệnh của Đức-vua, mỗi ngày người chăm sóc vườn thượng uyển đem nửa māsaka mua thịt đem về cho con cắc kè ăn.

    Một hôm, nhằm vào ngày bát giới uposathasīla, người ta không sát sinh, người chăm sóc vườn thượng uyển không mua thịt được, nên đem nửa māsaka ấy xỏ dây đeo vào cổ nó như đeo đồ trang sức.

    Từ đó, do nương nhờ nửa māsaka ấy, con cắc kè phát sinh tâm ngã mạn rằng:

    “Ta đây cũng có của cải như ai vậy!”

    Một hôm, Đức-vua Vedeha ngự đi du lãm trong vườn thượng uyển cùng với hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita.

    Nhìn thấy Đức-vua Vedeha ngự đến, có đeo các đồ trang sức bằng những viên ngọc quý, con cắc kè tự thấy mình cũng có đeo đồ trang sức bằng nửa māsaka, nó phát sinh tâm ngã mạn, tự cho mình cũng có đồ trang sức như Đức-vua Vedeha vậy. Vì vậy, nó nằm trên cây nhìn xuống, không chịu bò xuống đất cúi đầu tôn kính Đức-vua như lần trước.

    Nhìn thấy cử chỉ con cắc kè như vậy, Đức-vua bèn truyền hỏi hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Hôm nay con cắc kè không bò xuống đất cúi đầu tôn kính Trẫm như các lần trước. Vậy do nguyên nhân nào mà con cắc kè có cử chỉ như vậy?

    Nhìn thấy con cắc kè có đeo trên cổ nửa māsaka, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết chắc rằng:

    “Trong ngày bát giới uposathasīla, người ta không sát sinh, nên người chăm sóc vườn thượng uyển không mua thịt được, nên đem nửa māsaka đeo trên cổ con cắc kè ấy.”

    Biết chắc như vậy, nên Đức-Bồ-tát tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, con cắc kè có đeo trên cổ đồ trang sức bằng nửa māsaka mà nó chưa từng có được, nên nó phát sinh tâm ngã mạn, tự cho mình cũng có đồ trang sức bằng nửa māsaka như Đức-vua Vedeha đeo các đồ trang sức bằng những viên ngọc quý, nên nó nằm trên cây, không chịu bò xuống đất cúi đầu tôn kính Đức Phụ-vương.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha cho gọi người chăm sóc vườn thượng uyển rồi truyền hỏi.

    Người chăm sóc vườn thượng uyển tâu trình lên Đức- vua đúng sự thật như Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đã tâu với Đức-vua.

    Đức-vua vô cùng hoan hỷ tán dương ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, không cần hỏi ai mà biết được tính khí của con cắc kè như vậy, nên Đức-vua Vedeha ban cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phần thưởng quý giá.

    Đức-vua Vedeha muốn truyền phạt con cắc kè, nhưng Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita khuyên can, bởi vì thông thường các loài súc-sinh không có trí-tuệ, nên Đức-Bồ- tát xin Đức Phụ-vương tha tội cho con cắc kè ấy.

    Người Thiểu Phước Với Người Đại Phước

    Cậu Piṅguttara là người dân kinh-thành Mithilā, đi học nghề tại kinh-thành Takkasilā, cậu là người học trò lớn của thầy. Sau khi tốt nghiệp xong, cậu Piṅguttara được thầy gả đứa con gái xinh đẹp như thiên-nữ cho cậu.

    Cậu Piṅguttara vốn là người thiểu phước vô duyên, còn người con gái của thầy là người đại phước. Tuy cậu Piṅguttara không hợp với con gái xinh đẹp của thầy, nhưng cậu không dám cãi lời dạy của thầy, nên đành phải chấp thuận lấy cô làm vợ.

    Khi còn ở trong nhà thầy, cậu Piṅguttara và vợ ở chung trong một phòng, nhưng không ai nói chuyện với ai lời nào, mỗi người nằm mỗi nơi, cô gái nằm ngủ trên giường, còn cậu Piṅguttara nằm ngủ dưới nền nhà.

    Một tuần sau, cậu Piṅguttara đảnh lễ thầy xin phép rời khỏi kinh-thành Takkasilā, dẫn theo vợ trở về kinh-thành Mithilā. Trên đường đi, cậu Piṅguttara đi trước, còn vợ đi theo sau, hai người không nói chuyện với nhau.

    Đến gần kinh-thành Mithilā, cậu Piṅguttara nhìn thấy cây sung đầy quả chín, đang đói bụng, cậu leo lên cây hái quả sung chín ăn, còn vợ ở dưới gốc cây sung cũng đang đói bụng, bèn nói rằng:

    - Này anh! Anh hái quả sung bỏ xuống cho em ăn với.

    Cậu Piṅguttara trả lời rằng:

    - Cô cũng có tay chân, hãy leo lên tự hái quả sung mà ăn vậy.

    Cô gái đành phải leo lên cây sung. Thấy cô leo lên cây, cậu Piṅguttara vội leo xuống gốc, đi tìm cây gai đem lại bao quanh gốc cây sung, rồi bỏ trốn, miệng nói lẩm bẩm rằng:

    - Ta đã thoát ra khỏi tay người đàn bà xui xẻo (kālakaṇṇī) rồi!

    Không thể leo xuống được, nên cô gái đành phải ngồi trên cây như vậy. Hôm ấy, Đức-vua Vedeha ngự đi du lãm vườn thượng uyển. Vào buổi chiều, Đức-vua ngự trên cổ voi báu trên đường ngự hồi cung, nhìn thấy cô gái xinh đẹp như thiên-nữ đang ngồi trên cây sung, Đức- vua đem lòng thương yêu cô gái ấy.

    Đức-vua truyền bảo vị quan cận thần đến hỏi thăm cô gái ấy đã có ai là chủ của cô chưa?

    Tuân lệnh Đức-vua, vị quan đến hỏi thăm cô gái xong rồi đến tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, cô gái cho biết rằng cô đã có chồng, nhưng người chồng bảo cô leo lên cây hái quả sung để ăn. Khi cô leo lên cây sung, thì y vội leo xuống cây, đi tìm cây gai đem lại bao quanh gốc cây sung, rồi bỏ trốn đi. Cô leo xuống không được, nên đành phải ngồi lại trên cây vậy.

    Nghe vị quan cận thần tâu như vậy, Đức-vua Vedeha nghĩ rằng:

    “Cô gái này không có chủ, ta nên rước về cung.”

    Đức-vua truyền lệnh các quan dọn dẹp cây gai ở gốc cây sung, để cô gái leo xuống cây. Đức-vua đón rước cô gái, đặt ngồi trên voi báu, ngự về cung điện và làm lễ tấn phong cô gái lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu, đặt tên Udumbaradevī (Cô gái từ cây sung, udumbara: cây sung)

    Một hôm, dân chúng gần cửa thành đang sửa sang con đường để Đức-vua ngự ra khỏi kinh-thành. Cậu Piṅguttara là một trong số dân chúng được thuê làm công, cậu đang cặm cụi, vất vả làm việc sửa sang con đường ấy chưa xong thì Đức-vua Vedeha cùng Chánh- cung Hoàng-hậu Udumbaradevī ngồi trên cỗ long xa, ngự ra khỏi kinh-thành.

    Khi ấy, nhìn thấy cậu Piṅguttara mặc tấm choàng, tay cầm cuốc san đất cho bằng mặt đường, Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī mỉm cười.

    Đức-vua nổi cơn thịnh nộ bèn truyền hỏi rằng:

    - Tại sao Ái-khanh mỉm cười?

    Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, người đang làm đường kia là người chồng cũ của thần thiếp. Khi ấy, thần thiếp leo lên cây sung, thì y vội leo xuống cây, đi tìm cây gai đem lại bao quanh gốc cây sung, rồi bỏ trốn đi. Bây giờ nhìn thấy y, thần thiếp nghĩ rằng:

    “Người thiểu phước, vô duyên không thể kết duyên với người đại phước.” Vì vậy, thần thiếp mỉm cười.

    Đức-vua Vedeha truyền rằng:

    - Ái-khanh nói dối! Ái-khanh thấy ai khác, rồi mỉm cười, Trẫm sẽ giết Ái-khanh.

    Truyền xong, Đức-vua rút thanh bảo kiếm ra, Chánh- cung Hoàng-hậu hoảng sợ nên tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, xin Hoàng-thượng hỏi những bậc thiện-trí trước.

    Đức-vua Vedeha bèn truyền hỏi vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư có tin lời Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī tâu như vậy không?

    - Muôn tâu Bệ-hạ, hạ thần không tin. Chẳng có người đàn ông nào có thể bỏ một người vợ xinh đẹp như thiên-nữ như vậy được.

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Chánh-cung Hoàng-hậu càng hoảng sợ hơn nữa.

    Đức-vua Vedeha nghĩ rằng: “Ta nên hỏi hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita nghĩ thế nào”, nên truyền hỏi hoàng- tử Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Trong đời này có người đàn ông bỏ người vợ xinh đẹp như thiên-nữ. Con có tin đó là sự thật hay không?

    - Tâu Đức Phụ-vương, con tin đó cũng là sự thật có thể xảy ra trong đời này. Bởi vì, đối với người đàn ông là người thiểu phước, vô duyên thì không bao giờ kết duyên với người đàn bà đại phước được.

    Cũng như bờ đại dương bên này không bao giờ dính liền với bờ đại dương bên kia được.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giải thích như vậy, Đức-vua Vedeha bớt cơn thịnh nộ, phát sinh tâm hoan hỷ, truyền bảo rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Nếu không có con hôm nay thì Phụ-vương đã giết Chánh-cung Hoàng- hậu Udumbaradevī quý báu của Phụ-vương rồi.

    Lời lẽ của vị quân-sư Senaka là lời lẽ của người si- mê, ngu muội, nếu Phụ-vương tin theo lời của vị quân-sư thì Phụ-vương đã giết chết Chánh-cung Hoàng-hậu rồi. Nay, Phụ-vương còn Chánh-cung Hoàng-hậu là do nhờ trí-tuệ siêu-việt của con.

    Vậy, Phụ-vương ban thưởng cho con 1.000 đồng Kahāpana.

    Khi ấy, Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī đảnh lễ Đức-vua Vedeha rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, thần thiếp còn sống đây là nhờ hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita. Vậy, kính xin Hoàng- thượng ban cho thần thiếp một ân huệ: Hoàng-thượng cho phép thần thiếp nhận hoàng-tử làm đứa em trai của thần thiếp.

    Đức-vua Vedeha ban ân huệ cho Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī rằng:

    - Này Ái-khanh Udumbaradevī! Lành thay! Trẫm ban ân huệ ấy cho Ái-khanh.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī tâu tiếp rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, kể từ nay về sau, thần thiếp dùng món vật thực nào ngon, kính xin Hoàng- thượng cho phép thần thiếp gửi đến cho hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita, em trai của thần thiếp món vật thực ấy. Vì vậy, thần thiếp được lệnh mở cửa cả trong lúc hợp thời và trong lúc phi thời, để gửi món đồ ăn ngon ấy đến cho hoàng-tử, người em trai của thần thiếp.

    Kính xin Hoàng-thượng ban cho thần thiếp ân huệ này nữa.

    Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Này ái-khanh Udumbaradevī! Trẫm ban ân huệ ấy cho á-khanh, ái-khanh hãy nhận ân huệ ấy.

    Con Dê Và Con Chó Làm Bạn Với Nhau

    Một hôm, Đức-vua Vedeha dùng điểm tâm xong, ngự đi lại trên hành lang trong lâu đài. Khi Đức-vua đứng tại cửa sổ nhìn xuống dưới thấy một con dê với một con chó làm bạn thân thiết với nhau. Chuyện xảy ra rằng:

    * Một hôm, có con dê đến ăn cỏ tại chuồng voi, người nài voi cầm gậy đuổi theo con dê, đánh nhằm trên lưng con dê, làm cho nó đau lưng, chạy đến nằm bên vách nhà lớn.

    * Một con chó thường đến ăn xương tại nhà bếp của người đầu bếp của Đức-vua. Một ngày nọ, người đầu bếp làm đồ ăn xong, đi ra ngoài nhà bếp mà quên đóng cửa, con chó đánh mùi thịt, lén vào nhà bếp làm đổ món đồ ăn rơi ra ngoài, rồi con chó ăn món thịt ấy.

    Nghe tiếng đồ rơi, người đầu bếp đi vào nhà bếp, nhìn thấy con chó đang ăn thịt, người đầu bếp tức giận đánh con chó, nó chạy ra ngoài được, người đầu bếp ném cây gậy trúng lưng con chó, nó đau đớn chạy trốn nơi vách nhà lớn, nó gặp con dê đang nằm tại nơi ấy, con dê hỏi nó rằng:

    - Này bạn! Tại sao bạn bị đau lưng như vậy?

    - Thưa bạn! Tôi bị đánh làm đau lưng, còn bạn tại sao lại nằm ở đây?

    Con dê kể lại chuyện đã xảy ra đối với mình cho con chó nghe, và con chó cũng kể lại chuyện đã xảy ra đối với mình cho con dê nghe.

    Con dê hỏi con chó rằng:

    - Này bạn! Bạn còn dám vào nhà bếp nữa không?

    - Này bạn ơi! Tôi không dám vào nhà bếp nữa đâu! Nếu tôi còn vào nơi đó thì chắc chắn người đầu bếp sẽ đánh tôi chết mất. Còn bạn có dám đến chuồng voi nữa không?

    - Này bạn ơi! Tôi không dám đến chuồng voi nữa đâu! Nếu tôi còn đến nơi đó thì chắc chắn người nài voi sẽ đánh tôi chết thôi!

    Hai con vật bàn tính với nhau rằng:

    - Bây giờ hai chúng ta sống bằng cách nào đây?

    Con dê đề nghị với con chó rằng:

    - Bây giờ hai chúng ta phải nương nhờ lẫn nhau thì có thể sống được, bằng cách này:

    - Này bạn! Từ nay, bạn vào chuồng voi, người nài voi sẽ không nghi ngờ bạn, vì bạn là loài chó không ăn cỏ được, bạn lén gặm cỏ đem về đây cho tôi. Còn tôi sẽ đến nhà bếp, người đầu bếp sẽ không nghi ngờ tôi, vì tôi là loài dê không ăn thịt được, tôi sẽ lén gặm xương, thịt đem về đây cho bạn.”

    Hai con vật dê và chó đồng tâm nhất trí theo phương cách ấy. Từ đó về sau, con chó đến chuồng voi gặm cỏ đem về để bên vách nhà lớn cho con dê, và con dê đến nhà bếp gặm xương, thịt đem về để bên vách nhà lớn cho con chó. Con dê ăn cỏ, còn con chó ăn xương, thịt. Hai con vật trở thành đôi bạn thân thiết, nương nhờ lẫn nhau, thương yêu nhau, sống với nhau bên vách nhà lớn.

    Nhìn thấy con dê và con chó, đôi bạn thân thiết sống chung với nhau ở vách nhà lớn như vậy, Đức-vua Vedeha nghĩ rằng: “Sự việc này ta chưa từng thấy, hôm nay ta đã nhìn thấy.

    Trước kia, hai con vật này là kẻ thù của nhau, nay chúng nó là đôi bạn thân thiết, sống chung với nhau.

    Ta sẽ đem sự việc này đặt thành câu hỏi để hỏi các bậc thiện-trí. Nếu bậc thiện-trí nào giải đáp đúng câu hỏi này thì ta sẽ ban thưởng bậc thiện-trí ấy. Nhưng bậc thiện-trí nào không giải đáp đúng câu hỏi này thì ta sẽ mời ra khỏi đất nước của ta.”

    Sáng ngày hôm ấy, bốn vị quân-sư thiện-trí và Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến chầu Đức-vua theo lệ thường. Khi ấy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Này các vị quân-sư! Trong đời này, có hai loại chúng-sinh chưa bao giờ là bạn của nhau, không đi chung đường với nhau được bảy bước.

    Trước kia, hai loại chúng-sinh ấy vốn không thân với nhau, nay hai loại chúng-sinh ấy trở thành đôi bạn thân thiết với nhau, nương nhờ lẫn nhau, giúp đỡ nuôi dưỡng lẫn nhau.

    - Này các bậc thiện-trí, quý vị có biết hai loại chúng- sinh ấy là loại chúng-sinh nào? Tại sao vậy?

    Sáng hôm nay, nếu bậc thiện-trí nào giải đáp đúng câu hỏi này thì Trẫm sẽ ban thưởng bậc thiện-trí ấy, nhưng nếu bậc thiện-trí nào không giải đáp đúng thì Trẫm sẽ mời ra khỏi đất nước Videha của Trẫm, bởi vì Trẫm không cần dùng người si mê, người ngu dốt.

    Trong buổi hội triều này, vị quân-sư Senaka ngồi đầu kế đến vị quân-sư Pukkusa, vị quân-sư Kāminda, vị quân- sư Devinda, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ngồi vị trí cuối cùng, nghe Đức-vua Vedeha truyền hỏi câu hỏi ấy.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Chắc chắn Đức-vua đã nhìn thấy một sự việc gì xảy ra, ta nên tìm hiểu mới giải đáp được”.

    Vị quân-sư Senaka hoàn toàn không hiểu biết gì cả, tối tăm, mù mịt, và ba vị quân-sư kia thì như người ở trong hang tối. Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, câu hỏi này hơi khó, rất sâu sắc, chúng thần mỗi người phải ở nơi thanh vắng để suy xét kỹ mới có thể giải đáp được.

    - Muôn tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ ban cho chúng thần cơ hội suy xét về câu hỏi này, sáng ngày mai, chúng thần sẽ tâu giải đáp câu hỏi lên Bệ-hạ.

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha hài lòng truyền bảo rằng:

    - Này các quân-sư! Quý vị nên suy xét kỹ, ngày mai các khanh hãy tâu cho Trẫm rõ. Nếu vị nào không giải đáp đúng thì Trẫm sẽ mời ra khỏi đất nước Videha này.

    Các vị quân-sư đảnh lễ Đức-vua Vedeha xin phép ra về. Vị quân-sư Senaka bảo với ba vị quân-sư khác rằng:

    - Này quý vị! Đức-vua đặt câu hỏi rất khó và sâu sắc, nếu chúng ta không giải đáp được câu hỏi, thì tai họa sẽ xảy đến với chúng ta.

    Vậy, quý vị hãy cố gắng suy xét, tìm câu giải đáp cho câu hỏi của Đức-vua vào sáng ngày mai.

    Sau đó, các vị quân-sư trở về tư dinh của mình. Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đi đến gặp Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī, tâu rằng:

    - Tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, hôm qua Đức-vua ngự đi đến nơi nào trong thời gian lâu?

    Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita em yêu quý! Hôm qua, Đức- vua ngự đi lại trên hành lang cung điện, rồi đứng chỗ cửa sổ nhìn xuống phía dưới thời gian khá lâu.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Chắc Đức- vua đã nhìn thấy sự việc gì xảy ra phía dưới ấy?”

    Nghĩ xong Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đi đến nơi đó nhìn thấy con dê và con chó là đôi bạn thân thiết với nhau. Đức-Bồ-tát nghĩ tiếp rằng: “Đức-vua Vedeha đã nhìn thấy hai con vật này mới đặt ra câu hỏi.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tìm hiểu về hành vi cử chỉ của hai con vật ấy: “Con chó đem cỏ về cho con dê ăn, còn con dê đem xương, thịt về cho con chó ăn. Hai con vật nương nhờ lẫn nhau, nuôi dưỡng lẫn nhau.” Biết như vậy, Đức-Bồ-tát trở về dinh thự của mình.

    Ba vị quân-sư: Pukkusa, Kāminda và Devinha suy nghĩ mãi mà vẫn không hiểu biết được gì, ba vị quân-sư dẫn nhau đến gặp vị quân-sư Senaka. Nhìn thấy ba vị quân-sư đến, vị quân-sư Senaka hỏi rằng:

    - Này quý vị! Quý vị đã tìm ra được câu giải đáp cho câu hỏi của Đức-vua chưa?

    Ba vị quân-sư đều trả lời không hiểu rõ câu hỏi ấy. Vị quân-sư Senaka bảo rằng:

    - Nếu quý vị không giải đáp được câu hỏi ấy thì Đức- vua sẽ mời quý vị ra khỏi đất nước Videha này.

    Ba vị quân-sư hỏi vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, Ngài đã tìm được câu giải đáp của câu hỏi rồi phải không?

    - Này quý vị! Tôi cũng chưa hiểu rõ câu hỏi thì làm sao ta tìm câu giải đáp được.

    - Thưa quân-sư, không phải sáng hôm nay, Ngài đã tâu với Đức-vua rằng: “Sáng ngày mai chúng thần sẽ tâu giải đáp câu hỏi ấy lên Bệ-hạ rõ.”

    Vị quân-sư Senaka nói với ba vị quân-sư rằng:

    - Chúng ta không hiểu rõ câu hỏi này nhưng chắc chắn Mahosadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu-việt có khả năng giải đáp câu hỏi ấy được.

    Vậy, chúng ta nên tìm đến Mahosadhapaṇḍita để biết.

    Bốn vị quân-sư đến tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, chào xã giao, rồi ngồi một nơi hợp lẽ, bèn hỏi rằng:

    - Thưa Mahosadhapaṇḍita, Ngài đã nghĩ ra câu giải đáp cho câu hỏi của Đức-vua được rồi phải không?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trả lời rằng:

    - Thưa bốn vị quân-sư, câu hỏi ấy tôi đã biết rồi.

    Bốn vị quân-sư thưa rằng:

    - Thưa Mahosadhapaṇḍita, xin Ngài nói cho chúng tôi biết với có được không?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Nếu ta không chịu chỉ dạy cho bốn vị quân-sư này thì bốn vị quân-sư không tâu giải đáp câu hỏi ấy được, Đức-vua sẽ nổi cơn thịnh nộ mời bốn vị quân-sư này ra khỏi đất nước Videha này. Ta không thể để cho bốn vị quân-sư này bị thiệt hại.”

    Nghĩ vậy, nên thưa rằng:

    - Thưa bốn vị quân-sư, Tôi sẽ chỉ dạy cho bốn vị, mỗi vị bằng một bài kệ. Vậy, xin mời bốn vị quân-sư xuống ngồi chỗ thấp.

    Khi bốn vị quân-sư ngồi chỗ thấp nơi hợp lẽ xong, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ngồi chỗ cao truyền dạy mỗi vị quân-sư học thuộc lòng một bài kệ mà hoàn toàn không ai hiểu ý nghĩa câu chuyện trong bài kệ ấy. Đức- Bồ-tát thưa rằng:

    - Thưa bốn vị quân-sư, khi Đức-vua truyền hỏi, xin mỗi vị quân-sư tâu đúng theo bài kệ mà tôi đã dạy mỗi vị.

    Bốn vị quân-sư vô cùng hoan hỷ cám ơn Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, rồi xin từ giã ra về tư dinh của mình.

    Sáng ngày hôm sau, các quân-sư đến chầu Đức-vua tại cung điện, ngồi chỗ ngồi của mình. Khi ấy, Đức-vua Vedeha truyền bảo vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư có khả năng giải đáp câu hỏi của Trẫm rồi phải không?

    * Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, nếu hạ thần không có khả năng thì còn có người nào nữa.

    Vị quân-sư Senaka tâu bằng bài kệ đã học thuộc rằng:

    “Uggaputtarājaputtiyānaṃ, ...”

    Ý nghĩa là:

    Thịt dê là thứ thịt mà các hoàng-tử, công-tử của các quan ưa thích nhất, những vị ấy không dùng thịt chó.

    Vì vậy, tình thân hữu giữa con dê với con chó gắn bó lẫn nhau.

    Vị quân-sư Senaka đọc được bài kệ, nhưng hoàn toàn không hiểu biết rõ tình thân hữu giữa con dê với con chó gắn bó với nhau như thế nào.

    Nghe vị quân-sư Senaka đọc bài kệ ấy, trong đó có con dê và con chó, Đức-vua Vedeha tưởng rằng: “Quân- sư Senaka cũng biết được chuyện ấy.”

    * Tiếp đến, Đức-vua Vedeha truyền hỏi đến vị quân- sư Pukkusa. Quân-sư tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, hạ thần cũng là bậc thiện-trí giải đáp được câu hỏi của Bệ-hạ.

    Vị quân-sư Pukkusa tâu bài kệ đã học thuộc lòng rằng:

    “Cammaṃ vihananti eḷakassa, ...”

    Ý nghĩa là:

    Mọi người sử dụng da dê lót trên lưng ngựa cho êm, không dùng da chó lót trên lưng ngựa.

    Vì vậy, tình thân hữu giữa con dê với con chó gắn bó lẫn nhau.

    Vị quân-sư Pukkusa đọc được bài kệ, nhưng cũng hoàn tòan không biết rõ tình thân hữu giữa con dê với con chó gắn bó với nhau như thế nào.

    Nghe vị quân-sư Pukkusa đọc bài kệ ấy trong đó có con dê và con chó, Đức-vua Vedeha tưởng rằng: “Quân- sư Pukkusa cũng biết được chuyện ấy.”

    * Tiếp đến, Đức-vua Vedeha truyền hỏi đến vị quân- sư Kāminda. Quân-sư tâu bài kệ đã học thuộc lòng rằng:

    “Āvellitasiṅgiko hi meṇḍo, ...”

    Ý nghĩa là:

    Con dê có sừng cong, con chó không có sừng. Con dê ăn cỏ, con chó ăn thịt.

    Vì vậy, tình thân hữu giữa con dê với con chó gắn bó lẫn nhau.

    Vị quân-sư Kāminda đọc được bài kệ, nhưng cũng hoàn toàn không biết rõ câu chuyện trong bài kệ ấy.

    Nghe vị quân-sư Kāminda đọc bài kệ ấy trong đó có con dê và con chó, Đức-vua Vedeha tưởng rằng: “Quân- sư Kāminda cũng biết được chuyện ấy.”

    * Tiếp đến, Đức-vua Vedeha truyền hỏi đến vị quân-sư Devinda. Quân-sư tâu bài kệ đã học thuộc lòng rằng:

    “Tiṇamāsi palāsamāsi meṇḍo, ...”

    Ý nghĩa là:

    Con dê ăn cỏ, lá cây, con chó không ăn cỏ, không ăn lá cây. Con chó bắt con thỏ ăn thịt.

    Vì vậy, tình thân hữu giữa con dê với con chó gắn bó lẫn nhau.

    Vị quân-sư Devinda đọc được bài kệ, nhưng cũng hoàn tòan không biết rõ câu chuyện trong bài kệ ấy.

    Nghe vị quân-sư Devinda đọc bài kệ ấy trong đó có con dê và con chó, Đức-vua Vedeha tưởng rằng: “Quân- sư Devinda cũng biết được chuyện giữa dê và chó.”

    * Tiếp đến, Đức-vua Vedeha truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Đức-Bồ-tát dõng dạc tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, từ cõi địa-ngục Avīci cho đến cõi trời Phạm-thiên tột đỉnh, chuyện gì xảy ra, hạ thần đều biết cả. Kính xin Đại-vương nghe hạ thần tâu:

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đọc hai bài kệ rằng:

    “Aṭṭhaḍḍhapado catuppadassa, ...”

    Ý nghĩa là:

    Con dê có bốn chân, con chó đem cỏ về cho con dê ấy, con dê đem xương, thịt về cho con chó ấy. Đức-vua Vedeha đất nước Videha nhìn thấy hai con vật đem vật thực về trao đổi nhau ăn, và thấy tình bạn thân thiết giữa con dê và con chó gắn bó với nhau.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu hai bài kệ giải đáp rõ ràng như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ, tán dương ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát.

    Đức-vua không biết bốn vị quân-sư kia đọc mỗi người một bài kệ do Đức-Bồ-tát Mahosadha chỉ dạy. Nên, Đức-vua nghĩ rằng: “Ta thật diễm phúc có được năm bậc thiện-trí đều có trí-tuệ hiểu biết sâu sắc, hiểu rõ được câu hỏi khó và vi-tế của ta.”

    Đức-vua Vedeha ban thưởng mỗi bậc thiện-trí một chiếc xe với con ngựa báu Assatara, và được phép thâu thuế một xóm nhà dân cư phồn thịnh.

    Sau khi nghe tin Đức-vua Vedeha ban thưởng bốn vị quân-sư và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phần thưởng bằng nhau, Chánh-cung Hoàng-hậu ngự đến chầu Đức- vua bèn tâu rằng:

    - Tâu Hoàng-thượng, bậc thiện-trí nào tâu giải đáp đúng câu hỏi của Hoàng-thượng?

    - Này Ái-khanh Udumbaradevī! Bốn vị quân-sư và hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita đều giải đáp đúng câu hỏi của Trẫm.

    - Tâu Hoàng-thượng, Bốn vị quân-sư được gọi là bậc thiện-trí ấy hoàn toàn không hiểu biết gì về câu hỏi của Hoàng-thượng cả, nên họ đã đến cầu cứu hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita giúp đỡ để họ khỏi bị mời ra khỏi đất nước Videharaṭṭha này.

    Hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita có tâm đại-bi cứu giúp bốn vị quân-sư si-mê này được thoát khỏi tai họa, nên hoàng-tử chỉ dạy mỗi vị quân-sư một bài kệ rồi học thuộc lòng mà hoàn toàn không hiểu rõ ý nghĩa câu chuyện trong bài kệ, chỉ cốt để đọc tâu lên Hoàng- thượng mà thôi. Thế mà Hoàng-thượng lại ban thưởng cho họ và hoàng-tử mỗi vị một phần thưởng bằng nhau.

    Như vậy, Hoàng-thượng ban thưởng không công bằng theo trí-tuệ của mỗi vị.

    Nghe Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī tâu như vậy, Đức-vua Vedeha mới biết rằng mỗi bài kệ của mỗi vị quân-sư tâu đều được học từ hoàng-tử Mahosadha- paṇḍita. Nay sự việc đã qua rồi, ta sẽ đặt ra một câu hỏi có hai phương pháp giải đáp, để so tài trí giữa bốn vị quân-sư với hoàng-tử.

    Bậc Đại Trí-Tuệ Với Người Có Của Cải

    Một buổi hội triều, Đức-vua Vedeha chủ trì gồm các quan đầy đủ trong triều đình, có bốn vị quân-sư và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Khi ấy, Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Này các khanh! Các khanh đều là bậc thiện-trí có trí-tuệ, Trẫm đặt một câu hỏi so sánh có hai vế, các khanh hãy giải đáp.

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ đặt câu hỏi ấy.

    Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Thưa quân-sư, trong đời này, có hai hạng người:

    * Một hạng là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải.

    * Một hạng là người thiểu trí không có trí-tuệ mà có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải.

    Vậy, bậc thiện-trí tán dương, ca tụng hạng người nào gọi là người cao thượng trong đời?

    Câu hỏi này là câu hỏi đúng sở trường của dòng họ quân- sư Senaka, nên quân-sư Senaka nhanh nhạy tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, trong đời này, người có trí-tuệ, người không có trí-tuệ; người có tài-nghệ, người không tài- nghệ; dù người thuộc dòng họ cao, thấp cũng đều là người phục vụ cho người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải.

    Nhận thức rõ trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha không truyền hỏi ba vị quân-sư khác mà truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Bậc có trí-tuệ siêu-việt thấy rõ các pháp, Trẫm hỏi khanh rằng:

    “Người thiểu trí, không có trí-tuệ, mà có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải với bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, mà không có chức trọng quyền cao, không có của cải.

    Trong hai hạng người này, bậc thiện-trí tán dương, ca tụng hạng người nào gọi là người cao thượng trong đời?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, người thiểu trí, không có trí- tuệ, mà có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, tự cho mình là người có chức quyền, tạo ác-nghiệp. Người thiểu trí ấy chỉ biết kiếp hiện-tại mà không biết những kiếp vị-lai, nên người thiểu trí ấy sau khi chết, ác-nghiệp cho quả tái sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy.

    Như vậy, người thiểu trí ấy chịu quả khổ của ác- nghiệp trong kiếp hiện-tại và những kiếp vị-lai.

    Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ hiểu biết chỉ tạo mọi đại- thiện-nghiệp, nên kiếp hiện-tại, bậc đại-thiện-trí sống được an-lạc. Sau khi bậc đại-thiện-trí chết, đại-thiện- nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi thiện giới, hưởng quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy nữa.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được. Còn Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức- vua Vedeha nhìn qua vị quân-sư Senaka, truyền bảo rằng:

    - Thưa quân-sư, Mahosadhapaṇḍita tán dương ca tụng bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng.

    Vậy, quân-sư đối đáp thế nào?

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, Mahosadhapaṇḍita còn trẻ con quá, miệng còn hôi sữa, có biết gì đâu!

    - Muôn tâu Bệ-hạ, ông đại phú hộ Goravinda có nhiều của cải lớn, có thân hình xấu xí, không có tài nghệ, không có con cái. Khi ông nói, nước miếng chảy ra hai bên mép, có hai cô gái xinh đẹp như thiên-nữ chờ lau nước miếng cho ông, có nhiều người đến phục vụ ông đại phú hộ ấy. Ông đại phú hộ hưởng được mọi sự an- lạc trong đời.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe vị quân-sư Senaka dẫn chứng ông đại phú hộ Goravinda như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, con đối đáp thế nào?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, quân-sư Senaka chẳng biết gì khác, chỉ thấy của cải và nhóm người phục vụ mà thôi, không thấy cái búa lớn sẽ rơi xuống đầu của mình, ví như con quạ thấy chỗ đống cơm đổ.

    - Muôn tâu Đại-vương, người thiểu trí hưởng sự an- lạc rồi say mê, phát sinh tâm dể duôi, dám tạo ác- nghiệp. Nếu khi gặp quả khổ thân, khổ tâm thì phát sinh tâm sầu não, như con cá bị bắt lên khỏi nước, ném vào chỗ nóng thì vùng vẫy.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy Đức-vua Vedeha truyền hỏi quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đối đáp thế nào? Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, Mahosathapaṇḍita có biết gì đâu! Không nói đến loài người, các bầy chim từ mọi nơi đều bay đến sống nhờ cây có nhiều quả ở trong rừng như thế nào, phần đông nhiều người đến gần gũi thân cận với người có nhiều của cải, bởi vì họ nương nhờ người ấy để mong được của cải cũng như thế ấy.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, con đối đáp thế nào?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, người thiểu trí dùng sức mạnh tạo ác-nghiệp làm khổ chúng-sinh, để được của cải. Sau khi người thiểu trí ấy chết, ác-nghiệp cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, phải chịu quả khổ của ác-nghiệp của mình đã tạo trong tiền-kiếp.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đối đáp thế nào?

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, nước các con sông nhỏ, lớn nào chảy ra đến con sông Gaṅgā đều bỏ tên riêng và nơi chốn của mình, trở thành nước sông Gaṅgā. Nước sông Gaṅgā chảy ra biển đại dương, trở thành nước biển đại dương như thế nào, những bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ nhiều khi đến phục vụ cho người có chức trọng quyền cao, thì tên tuổi của những bậc đại-thiện-trí không còn nữa cũng như thế ấy.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, con đối đáp thế nào?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, nước các con sông lớn nhỏ chảy ra đến biển đại dương, dù biển đại dương có sức mạnh phi thường, có sóng to gió lớn vỗ vào bờ nước cũng không thể nào tràn qua khỏi bờ được. Lời lẽ của người thiểu trí không thể vượt qua bậc đại-thiện-trí có nhiều trí-tuệ được.

    Muốn biết điều lợi, điều bất lợi; điều thiện, điều bất- thiện; muốn diệt sự hoài-nghi, người thiểu trí dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải cũng phải tìm đến học hỏi với bậc đại-thiện-trí.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, vị quan tòa có chức trọng quyền cao, tuy là người không có giới chủ trì phiên tòa xét xử bị cáo một cách thiên vị, không công minh, nhưng lời phán xử sai trái của vị quan tòa ấy vẫn có hiệu lực, bắt buộc bị cáo phải tuân theo, còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ nói lời hợp pháp đúng đắn mà không có quyền lực, thì không có ai tuân theo.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có chức trọng quyền cao, không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, quân-sư Senaka là người si mê, chỉ thấy trong kiếp hiện-tại mà không biết những kiếp vị-lai trong các cõi khác.

    - Tâu Đại-vương, người thiểu trí có chức trọng quyền cao là người không có giới, có tâm thiên vị, không công minh, nói lời sai trái, nói dối. Người thiểu trí ấy trong kiếp hiện-tại bị mọi người chê trách. Sau khi người thiểu trí ấy chết, ác-nghiệp nói dối cho quả tái-sinh kiếp sau trong bốn cõi ác giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc- sinh chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy nữa.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, dù bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ rộng lớn như mặt đất mà không có nhiều của cải, là người nghèo khổ, thì lời nói hay của bậc đại-thiện-trí ấy cũng không có giá trị giữa bà con thân quyến của họ và mọi người. Cho nên, bậc đại-thiện-trí ấy không được tôn trọng.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có chức trọng quyền cao, không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, quân-sư Senaka chỉ thấy kiếp hiện-tại mà không thấy những kiếp vị-lai.

    - Tâu Đại-vương, bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ rộng lớn như mặt đất, không bao giờ nói dối, để có lợi cho mình hoặc cho người thân của mình. Bậc đại-thiện-trí có trí- tuệ ấy nói lời chân thật, nên được nhiều người tôn kính, lễ bái cúng dường giữa nơi hội chúng đông đảo. Sau khi bậc đại-thiện-trí chết, đại-thiện-nghiệp ấy cho quả tái- sinh kiếp sau trong các cõi thiện-giới, cõi người, cõi trời dục-giới hưởng được mọi sự an lạc.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, voi báu, ngựa báu, bò báu, ngọc maṇi, ngọc kuṇḍala, phụ nữ báu đều phát sinh trong gia đình giàu sang phú quý, cho người có đại phước, có chức trọng quyền cao sử dụng, và các người khác cũng đến phục vụ cho người có chức trọng quyền cao ấy.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có chức trọng quyền cao, không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, người thiểu trí có chức trọng quyền cao, mà không biết làm tròn phận sự của mình, thì bị mất chức, có nhiều của cải mà không biết khuếch trương công việc thì của cải bị tiêu hao dần đối với người thiểu trí ấy.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đối đáp thế nào? Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, Mahosathapaṇḍita còn thơ dại quá, chưa biết gì nhiều.

    Khi ấy, vị quân-sư Senaka nghĩ rằng: “Ta sẽ đưa ra chiêu thức quyết định này chắc chắn Mahosathapaṇḍita sẽ vô phương đối đáp, cùng đường, bí lối.”

    Nghĩ xong ông bèn tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, cầu mong Bệ-hạ sống lâu, chúng thần có năm người là bậc có trí-tuệ, đem hết lòng phụng sự Bệ-hạ, bởi vì Bệ-hạ là Chúa-thượng ngự trị trên chúng thần và toàn thể thần dân thiên hạ, như Đức-vua trời Sakka ngự trị trên toàn thể chư thiên trong cõi trời Tam-thập-tam-thiên.

    Biết trong đời này như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mà không có của cải là người thấp hèn, còn người có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, dù là người thiểu trí, không có trí-tuệ vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha nghĩ rằng: “Quân-sư Senaka đưa ra chiêu thức này rất hay, không biết hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita của ta có pháp môn kỳ diệu nào để đối đáp, đè bẹp được chiêu thức này của quân-sư Senaka không?”

    Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, con đối đáp thế nào?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, quân-sư Senaka là người si-mê, chỉ thấy chức trọng quyền cao, có nhiều của cải mà thôi, không biết được tính chất kỳ diệu của trí-tuệ siêu-việt.

    - Tâu Đại-vương, khi gặp sự việc khó khăn xảy ra, người thiểu trí dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải cũng phải đến nương nhờ, cầu cứu bậc đại-thiện-trí có nhiều trí-tuệ, để giúp đỡ, giải cứu họ thoát khỏi sự khó khăn ấy.

    - Tâu Đại-vương, khi gặp điều khó khăn, bậc đại- thiện-trí có nhiều trí-tuệ sáng suốt giải quyết mọi sự khó khăn một cách phi thường, còn người thiểu trí dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, vì có tâm si-mê tối tăm nên không tìm ra lối thoát khỏi sự khó khăn ấy.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ, dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải, cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ, dù không có chức trọng quyền cao, không có nhiều của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe lời lẽ đanh thép, sắc bén với trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita như vậy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đối đáp thế nào?

    Vị quân-sư Senaka chỉ có vốn kiến thức hiểu biết chừng ấy mà thôi, nên không còn biết gì để đối đáp nữa, cúi mặt, hổ thẹn, làm thinh.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, trí-tuệ là thiện-pháp mà chư bậc đại-thiện-trí tán dương ca tụng. Chư bậc đại-thiện- trí đều tán dương ca tụng rằng: “Trí-tuệ là thiện-pháp cao thượng thật sự, người có trí-tuệ là bậc đại-thiện-trí cao thượng trong đời”. Chức trọng quyền cao, của cải là đối tượng mà những người thiểu trí tham muốn.

    Những người thiểu trí cầu mong chức trọng quyền cao, mong muốn có nhiều của cải. Khi tham muốn được thành tựu như ý, rồi say mê, chấp thủ trong chức trọng quyền cao, trong của cải ấy, làm cho tâm càng si mê tăm tối, không thể hiểu biết rõ được sự thật chân-lý các pháp của chư bậc đại-thiện-trí trong đời.

    Trí-tuệ sáng suốt thấy rõ, biết rõ sự thật chân-lý các pháp của chư bậc đại-thiện-trí, nên chắc chắn không có báu vật quý giá nào trong đời có thể sánh với trí-tuệ được. Cho nên, người thiểu trí không có trí-tuệ dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải bao nhiêu đi nữa cũng không bao giờ cao thượng được cả. Chỉ có bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ mới thật sự cao thượng mà thôi.

    Biết rõ sự thật như vậy, nên hạ thần xin tâu rằng:

    “Người thiểu trí không có trí-tuệ dù có chức trọng quyền cao, có nhiều của cải cũng chẳng bao giờ cao thượng được cả. Còn bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ dù không có chức trọng quyền cao, không có của cải, thật sự vẫn là người cao thượng trong đời.”

    Nghe lời lẽ khẳng định đanh thép, sắc bén với trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền bảo rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Con xứng đáng là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ siêu-việt thấy rõ các pháp, con đã đối đáp được những câu hỏi làm cho Phụ-vương vô cùng hoan hỷ. Phụ-vương ban thưởng cho con 100 con bò quý, một con voi báu cùng với đồ trang sức của nó, 10 chiếc xe ngựa báu ājañña, 16 xóm nhà để thâu thuế.

    Cung kính nhận những ân huệ ban thưởng của Đức Vua Vedeha, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita lạy tạ Đức Phụ-vương ra về. Từ đó về sau, Đức-Bồ-tát hết lòng lo phụng sự Đức Phụ-vương, làm cho triều đình phát triển, giúp xây dựng đất nước Videha được phồn vinh.

    Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita Chọn Bạn Đời

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trưởng thành có chức trọng quyền cao trong triều đình của Đức-vua Vedeha. Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī theo dõi những việc làm phi thường của Đức-Bồ-tát, nên phát sinh đức tin trong sạch và khâm phục trí-tuệ siêu-việt của Đức- Bồ-tát, nên Bà nghĩ rằng: “Mahosadhapaṇḍita, người em trai của ta đã trưởng thành, lên 16 tuổi, có chức trọng quyền cao trong triều đình. Vậy, ta nên chọn người con gái xứng đáng để làm lễ thành hôn cho em của ta.”

    Nghĩ xong, Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu điều suy nghĩ ấy lên Đức- vua. Đức-vua chuẩn y theo lời tâu của Bà.

    Chánh-cung Hoàng-hậu liền truyền gọi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến, Bà truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita em yêu quý! Chị đã tâu lên Hoàng-thượng, đã được Hoàng-thượng chuẩn y cho phép chị chọn một người con gái xứng đáng để làm lễ thành hôn với em. Vậy, em có đồng ý hay không?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đồng ý nhận lời Chánh- cung Hoàng-hậu Udumbaradevī, nhưng Đức-Bồ-tát nghĩ rằng: “Người con gái mà Chánh-cung Hoàng-hậu tìm cho ta, biết đâu không thích hợp với ta. Vậy, tốt hơn, ta nên đi tìm người con gái mà ta hài lòng yêu thích.”

    Nghĩ xong Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu với Chánh-cung Hoàng-hậu rằng:

    - Tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, chị kính yêu! Xin chị cho phép em đi tìm người con gái mà em hài lòng yêu thích. Kính xin chị chờ đợi em đôi ba ngày nữa.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī đồng ý cho phép. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đảnh lễ Bà, rồi xin phép trở về tư dinh của mình, báo tin cho các bạn hữu biết sẽ vắng mặt đôi ba ngày.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến chầu Đức-vua Vedeha, xin phép đi tìm người bạn đời đem về trình Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī. Đức-vua Vedeha cho phép, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đảnh lễ Đức Phụ-vương, xin bái biệt đôi ba ngày.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cải trang thành người thợ may vá, một mình ra khỏi cửa thành hướng Bắc, đi đến xóm nhà cánh đồng lúa mạch hướng Bắc (uttarayavamajjhakagāma).

    Trong xóm nhà ấy có một gia đình ngày xưa là phú hộ, có một cô con gái tên Amarā rất xinh đẹp, thùy mị, đoan trang, đầy đủ đức tính tốt. Cô là người có trí-tuệ, có phước lớn.

    Sáng hôm ấy, cô Amarā đem cháo cho cha đang cày ruộng ngoài đồng, cô từ nhà đi theo con đường xóm nhà ra đồng ruộng.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang đi trên con đường vào xóm nhà, gặp cô đang đi đến. Đức-Bồ-tát thoáng nhìn thấy cô đi liền nghĩ rằng: “Cô gái này có đầy đủ mọi tướng tốt, nếu cô chưa có chồng thì thật là diễm phúc đối với ta biết dường nào! Ta sẽ chọn cô gái này làm vợ.”

    Còn cô Amarā, khi vừa nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadha liền nghĩ rằng: “Nếu ta được chàng trai trẻ này làm chồng thì thật là diễm phúc đối với ta biết dường nào!”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ tiếp rằng: “Để biết cô gái này đã có chồng hay chưa, ta nên hỏi bằng cách ra dấu tay, nếu cô là người có trí-tuệ thông minh thì sẽ hiểu được ý nghĩa câu hỏi của ta.”

    Nghĩ xong, đứng lại cách một khoảng, Đức-Bồ-tát nắm bàn tay phải đưa lên.

    Nhìn thấy như vậy, Cô Amarā hiểu ý nghĩa rằng: “Chàng trai trẻ này muốn hỏi ta có chồng hay chưa.”

    Cô đứng lại, ngửa bàn tay ra. 

    Đã hiểu rõ ý của 2 người với nhau, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến gần cô bèn hỏi rằng:

    Maho: - Này tiểu thư! Tên tiểu thư gọi là gì?

    Ama: - Thưa công-tử, pháp nào không có quá-khứ, vị-lai, hiện-tại, pháp ấy là tên của tiện nữ.

    Maho: - Này tiểu thư! Chỉ có pháp bất tử mới không có quá-khứ, vị-lai, hiện-tại mà thôi. Vậy, tên tiểu thư gọi là Amarā đúng không?

    Ama: - Thưa công-tử, đúng như vậy, tên của tiện nữ gọi là Amarā.

    Maho: - Này tiểu thư Amarā! Tiểu thư đem cháo cho ai vậy?

    Ama: - Thưa công-tử, tiện nữ đem cháo cho vị chư thiên đầu tiên (pubbadevatā) của tiện nữ.

    Maho: - Này tiểu thư! Cha mẹ gọi là vị chư thiên đầu tiên. Vậy, tiểu thư đem cháo cho phụ-thân của tiểu thư.

    Ama: - Thưa công-tử, đúng như vậy, tiện nữ đem cháo cho phụ-thân của tiện nữ.

    Maho: - Này tiểu thư! Phụ-thân của tiểu thư làm gì?

    Ama: - Thưa công-tử, phụ-thân của tiện nữ làm một đường ra thành hai.

    Maho: - Này tiểu thư! Công việc cày đất là làm một đường ra thành hai. Vậy, phụ-thân của tiểu thư cày ruộng, đúng không?

    Ama: - Thưa công-tử, đúng như vậy, phụ-thân của tiện nữ cày ruộng.

    Maho: - Này tiểu thư! Phụ-thân của tiểu thư cày ruộng chỗ nào?

    Ama: - Thưa công-tử, phụ-thân của tiện nữ cày ruộng gần chỗ mà người ta đưa đến đó một lần không bao giờ trở về nữa.

    Maho: - Này tiểu thư! Nghĩa địa là chỗ mà người ta đưa người chết đến đó một lần không bao giờ trở về nữa. Vậy, phụ thân của tiểu thư cày ruộng gần nghĩa địa, đúng không?

    Ama: - Thưa công-tử, đúng như vậy, phụ-thân của tiện nữ cày ruộng gần nghĩa địa.

    Maho: - Này tiểu thư! Tiểu thư lúc nào trở về nhà?

    Ama: - Thưa công-tử, nếu nó lên thì tiện nữ chưa trở về nhà, nếu nó chưa lên thì tiện nữ trở về nhà.

    Maho: - Này tiểu thư! Phụ-thân của tiểu thư cày ruộng bên kia sông, nếu khi nước lên thì tiểu thư chưa trở về nhà, nếu nước sông chưa lên thì tiểu thư trở về nhà, có đúng không?

    Ama: - Thưa công-tử, đúng như vậy.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita với cô Amarā đàm thoại với nhau rất tâm đầu ý hợp, rồi cô mời Đức-Bồ-tát dùng cháo.

    Đức-Bồ-tát nghĩ rằng: “Nếu ta từ khước thì đó là điều không nên.” Nghĩ vậy xong, Đức-Bồ-tát nhận lời mời của cô.

    Cô Amarā đặt nồi cháo xuống đất, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Nếu cô ta không rửa bát, không dâng nước cho ta rửa tay, trước khi dùng cháo thì ta sẽ từ bỏ cô Amarā tại nơi đây.”

    Amarā là cô gái hiền thục, thông minh, đảm đang, khéo léo, cô rửa bát xong, lấy nước rửa tay dâng lên Đức-Bồ-tát. Cô chia phần cháo dành cho phụ thân, phần còn lại, cô múc ra bát, dâng đến Đức-Bồ-tát. Ăn cháo, xúc miệng, uống nước xong, Đức-Bồ-tát nói với cô rằng:

    - Này tiểu thư! Tôi muốn đến nhà tiểu thư. Vậy, xin cô chỉ đường cho tôi.

    Cô Amarā thưa rằng:

    - Lành thay! Thưa công-tử.

    Rồi cô đọc bài kệ với ý nghĩa rằng:

    - Thưa công-tử, công-tử theo con đường này vào trong xóm nhà, nhìn thấy tiệm bán gạo, qua tiệm bán gạo đến tiệm bán nước quýt (nước chua), trước tiệm nước có cây kovilāra trổ đầy hoa, đi qua cây kovilāra rồi rẽ qua con đường bên phải, bỏ con đường bên trái.

    Đó là con đường đi đến nhà của tiện nữ, có mẫu thân tiện nữ ở nhà trong xóm nhà vùng lúa mạch hướng Bắc.

    Sau khi chỉ đường xong, hôm ấy cô Amarā cảm thấy vô cùng hoan hỷ, rồi đem cháo đến cho thân-phụ đang cày ruộng bên kia sông gần nghĩa địa.

    Nghe cô Amarā chỉ dẫn đường đến nhà cô, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu-việt, thông minh, đi đúng đường đến nhà của cô. Mẹ cô Amarā đón tiếp Đức- Bồ-tát rất niềm nở thân thiện, mời ngồi một nơi hợp lẽ, rồi bà bảo rằng:

    - Này con! Mời con dùng cháo.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thưa rằng:

    - Thưa mẹ, tiểu thư Amarā đã đem cháo đãi con rồi.

    Mẹ của cô Amarā biết rằng: “Cậu con trai này muốn con gái Amarā của ta rồi.”

    Nhận xét thấy gia đình này hiện nay không khá giả, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thưa rằng:

    - Thưa mẹ, con là thợ may vá, nếu mẹ có vải thì đưa con may đồ mới, nếu có đồ y phục cũ rách thì đưa con vá lại.

    - Này con! Trong nhà có vải mới, có y phục cũ rách, nhưng không có tiền trả tiền công.

    - Thưa mẹ, con may vá không lấy tiền công đâu! Xin mẹ đem vải mới và các y phục cũ rách đưa con may, vá lại cho mẹ.

    Bà mẹ cô Amarā đem vải mới, các y phục cũ rách đưa cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita may, vá lại. Với thời gian không lâu, Đức-Bồ-tát đã làm xong tất cả do oai lực của mình. Đức-Bồ-tát thưa với bà rằng:

    - Thưa mẹ, con đã may, vá tất cả xong rồi. Xin mẹ thông báo đến những gia đình trong xóm, ai có vải mới hoặc y phục cũ rách đem đến đưa con may, vá lại.

    Bà mẹ cô Amarā đi thông báo những gia đình trong xóm, họ đem những tấm vải mới, những bộ y phục cũ rách đưa Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita may, vá lại cho họ, với thời gian không lâu, Đức-Bồ-tát đã làm xong tất cả do oai lực của mình.

    Chiều hôm ấy, cô Amarā đội một bó củi và rau trở về nhà trước, còn phụ-thân của cô trở về nhà sau.

    Mẫu thân của cô đã nấu cơm, đồ ăn đã sẵn sàng. Cô Amarā dọn bữa ăn chiều, mời cha mẹ và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dùng cơm xong, rồi cô mới dùng sau.

    Tối hôm ấy, cô Amarā đem nước lau chân cha mẹ cô xong, rồi đem nước đến lau chân của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Đức-Bồ-tát xin phép ở lại nhà cô Amarā 2-3 hôm, với mục đích để theo dõi, xem xét tính tình, tư cách của cô Amarā.

    Một hôm, để thử tài trí và đức tính của cô, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo cô rằng:

    - Này tiểu thư! Cô lấy nửa lít gạo, đem nấu cháo, nấu cơm và làm bánh cho tôi với nửa lít gạo ấy.

    Vâng lời Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, cô Amarā lấy phần gạo nguyên hột đem nấu cháo, lấy phần hột gạo gãy đem nấu cơm và phần gạo tấm đem làm bánh.

    Trước hết, cô Amarā đem cháo vào dâng đến Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Đức-Bồ-tát ngậm miếng cháo vào miệng, vị ngon của nó thấm vào các thần kinh xúc giác, có cảm giác ngon tuyệt vời, nhưng Đức-Bồ-tát thử quở trách cô rằng:

    - Tiểu thư không biết nấu cháo, làm hư phần gạo.

    Rồi Đức-Bồ-tát nhổ cháo cùng nước miếng xuống nền nhà. Cô Amarā vẫn tự nhiên, không phát sinh tâm sân, cũng không có buồn gì cả, rồi thưa rằng:

    - Thưa công-tử, nếu cháo không ngon miệng thì xin công-tử dùng bánh vậy.

    Cô Amarā đem bánh vào dâng Đức-Bồ-tát Maho-sadhapaṇḍita. Nhận bánh xong, mặc dù Đức-Bồ-tát dùng bánh thật ngon miệng, nhưng Đức-Bồ-tát thử quở trách như lần trước. Cô Amarā vẫn tự nhiên thưa rằng:

    - Thưa công-tử, nếu bánh không ngon miệng thì xin công-tử dùng cơm.

    Cô Amarā đem cơm vào dâng Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita. Nhận cơm xong, mặc dù Đức-Bồ-tát dùng cơm rất ngon miệng, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn thử quở trách như hai lần trước.

    Lần này, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita còn làm bộ nổi giận, lấy cháo, bánh và cơm trộn lẫn vào nhau đổ từ trên đầu xuống mình cô Amarā, rồi đuổi cô đi ra ngoài. Cô Amarā chắp hai tay, thưa rằng:

    - Tiện nữ kính xin công-tử tha lỗi, tiện nữ xin vâng lời công-tử.

    Cô Amarā chắp hai tay, xin phép đi ra ngoài, nhưng không dám đi ra xa mà đứng khuất ngoài cửa. Dù bị quở trách, bị đuổi ra ngoài, cô Amarā vẫn giữ thái độ tự nhiên, không hề phát sinh tâm sân, không tỏ ra giận hờn Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Cô Amarā có đức tính nhẫn nại cao thượng như vậy, khiến Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gọi cô vào.

    Chỉ mới nghe một tiếng đầu, cô Amarā chắp tay đi vào ngay, ngồi gần dưới đôi chân của Đức-Bồ-tát. Mahosadhapaṇḍita

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát lấy từ trong ruột tượng một bộ đồ sang trọng và tấm vải quý giá trao cho cô Amarā rồi bảo rằng:

    - Này tiểu thư! Cô nên đi tắm, rồi mặc bộ đồ này và choàng tấm vải này lên.

    Vâng lời Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, cô Amarā đi tắm xong, rồi mặc bộ đồ, choàng tấm vải đi đến hầu Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Đức-Bồ-tát dẫn cô đến hầu cha mẹ của cô, dâng lên cha mẹ cô hai tấm vải quý giá, các châu báu và một số tiền Kahāpana lớn gọi là làm sính lễ rước cô Amarā.

    Cha mẹ cô vô cùng hoan hỷ nhận sính lễ của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita, chấp thuận cho phép con gái là Amarā làm vợ Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Đức-Bồ-Tát Rước Cô Amarā Về Kinh-Thành

    Sau đó, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đảnh lễ cha mẹ cô Amarā, xin phép rước cô Amarā trở về kinh-thành Mithilā. Trên đường trở về kinh-thành, Đức-Bồ-tát trao cho cô một cây dù và một đôi dép, bảo rằng:

    - Này em Amarā yêu quý! Em hãy dùng cây dù này để che nắng và đôi dép mang đi đường.

    Cô Amarā nhận hai món đồ của Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita trao cho. Cô Amarā che dù khi đi vào dưới cây cao bóng mát, khi đi ra ngoài khoảng không gian trống trải, cô Amarā xếp dù lại. Và cô Amarā mang đôi dép khi lội xuống nước, khi lên bờ, cô Amarā cởi đôi dép cầm trên tay.

    Nhìn thấy cô Amarā hành động như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bèn hỏi rằng:

    - Này Amarā, em yêu quý! Tại sao đi ngoài trời nắng khoảng không gian trống trải, em không che dù, nhưng khi đi vào khu rừng có cây cao bóng mát, em lại che dù, như vậy nghĩa là gì?

    Cô Amarā thưa rằng:

    - Thưa đức phu-quân kính yêu, bởi vì đi ngoài trời nắng khoảng không gian trống trải, em không sợ nhánh cây khô hoặc vật gì rơi đụng đầu, nên em không cần che dù, còn khi đi vào khu rừng có cây cao, em cần phải che dù để ngăn ngừa các cành cây khô gãy rơi xuống đụng đầu em.

    Nghe lời giải thích của cô Amarā, Đức-Bồ-tát Maho-sadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Amarā có trí-tuệ thông minh, giải thích hợp lý”, rồi hỏi tiếp rằng:

    - Này Amarā em yêu quý! Tại sao khi đi trên đường, em không mang dép, khi lội xuống dưới nước, em lại mang dép, như vậy nghĩa là gì?

    - Thưa đức phu-quân kính yêu, bởi vì khi đi trên đường, mắt em nhìn thấy gai, gốc cây, v.v... để tránh được, nên em không cần mang dép, còn khi lội xuống dưới nước, mắt em không nhìn thấy gai, gốc cây, v.v... để tránh được, nên em cần phải mang dép để ngăn ngừa gai, gốc cây, v.v... không đụng dưới bàn chân em.

    Nghe lời giải thích của cô Amarā, Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita vô cùng hoan hỷ hài lòng với lời giải thích hợp lý của cô Amarā. Trên đường đi, hai người nhìn thấy một cây táo có nhiều quả táo chín trĩu cành. Cô Amarā thưa rằng:

    - Thưa phu-quân kính yêu, mời anh leo lên cây hái quả táo chín mà dùng, rồi cho em dùng với!

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Này Amarā em yêu quý! Anh cho phép em leo lên cây hái quả táo chín cho anh dùng với!

    Được Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cho phép, cô Amarā leo lên cây hái quả táo chín rồi nghĩ rằng: “Để xem đức phu-quân là người có trí-tuệ hay không”.

    Cô Amarā thưa rằng:

    - Thưa phu-quân kính yêu, anh muốn dùng quả táo nóng hay quả táo lạnh?

    Hiểu ý nghĩa câu hỏi của cô Amarā, nhưng Đức-Bồ- tát làm như không hiểu nên trả lời rằng:

    - Này Amarā em yêu quý! Anh muốn dùng quả táo nóng em à!

    Nghe Đức phu-quân trả lời như vậy, cô Amarā hái quả táo chín, ném xuống chỗ đất, rồi thưa rằng:

    - Kính mời anh dùng quả táo nóng nhé!

    Đi đến nhặt quả táo chín lên, Đức-Bồ-tát Maho-sadhapaṇḍita thổi bụi đất cho sạch, rồi dùng quả táo chín ấy. Dùng xong Đức-Bồ-tát lại bảo rằng:

    - Này Amarā em yêu quý! Bây giờ anh muốn dùng quả táo lạnh em à!

    Nghe đức phu-quân bảo như vậy, cô Amarā hái quả táo chín, ném xuống bụi cỏ, rồi thưa rằng:

    - Kính mời anh dùng quả táo lạnh nhé!

    Đi đến bụi cỏ nhặt quả táo chín, rồi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dùng quả táo chín ấy mà không cần phải thổi bụi. Đức-Bồ-tát rất hài lòng về cô Amarā, bởi vì cô là người có trí-tuệ, rồi bảo cô leo xuống.

    Vâng lời dạy của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, cô Amarā leo xuống, mang bình xuống sông lấy nước đem lên dâng Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita súc miệng, rửa mặt, uống nước rồi họ tiếp tục đi vào kinh-thành Mithilā.

    Thử Lòng Chung Thủy

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gửi cô Amarā ở trong nhà người gác cửa kinh-thành, nói riêng cho người vợ người gác cửa kinh-thành biết Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita muốn thử lòng chung thủy của cô vợ mới. Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trở về tư dinh của mình, gọi các bạn đến báo cho họ biết rằng:

    - Này các bạn thân mến! Tôi đã chọn được một cô gái đem về làm vợ, nhưng tôi đã gửi cô gái ấy ở tại nhà người gác cửa kinh-thành. Bạn đem số tiền 1.000 đồng Kahāpana đến thử dụ dỗ cô gái ấy với số tiền này.

    Vâng lời Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, một người bạn đến gặp cô Amarā, tán tỉnh, dụ dỗ với số tiền lớn ấy, nhưng không sao thuyết phục được cô Amarā, bởi vì cô Amarā có một tấm lòng son sắt, thuỷ chung, chờ đợi người chồng.

    Người bạn trở về báo cho Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita biết rõ lại mọi sự việc xảy ra như vậy. Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita bảo người bạn khác đến gặp cô Amarā lần thứ nhì, lần thứ ba, nhưng không sao dụ dỗ cô Amarā được. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Nếu như vậy thì các bạn dùng quyền lực, bắt cô Amarā dẫn đến đây.

    Cô Amarā bị bắt đến tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita trong trang phục một vị quan lớn, có chức trọng quyền cao, giàu sang phú quý mà cô không sao biết được người ấy chính là chồng của mình, cứ tưởng là một người nào khác. Nhìn thấy vị quan lớn ấy, cô cười, rồi cô khóc.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, vị quan lớn truyền hỏi rằng:

    - Này cô gái kia! Tại sao cô cười, rồi cô khóc? Cô Amarā thưa rằng:

    - Kính thưa quan lớn, bởi vì tôi nhìn thấy quan lớn có chức trọng quyền cao, là người giàu sang phú quý như thế này. Đó là quả của đại-thiện-nghiệp mà quan lớn đã từng tạo trong những kiếp quá-khứ. Vì vậy, tôi nghĩ rằng: “Quả của đại-thiện-nghiệp thật là phi thường!” Cho nên, tôi phát sinh đại-thiện-tâm vô cùng hoan hỷ, nên tôi đã cười.

    Và trong kiếp hiện-tại này, quan lớn có ý định tạo ác- nghiệp hành ác, xúc phạm đến người con gái đã có chồng. Nếu quan lớn tạo ác-nghiệp ấy thì sẽ không tránh khỏi tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ của ác- nghiệp ấy. Vì vậy, tôi phát sinh tâm bi muốn cứu quan lớn mà không được, nên phát sinh khổ tâm, tôi đã khóc.

    Nghe lời giải thích của cô Amarā như vậy, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita đã biết rõ cô là cô gái có đức hạnh tốt, có tấm lòng son sắt chung thủy đối với chồng của mình, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita truyền bảo các người bạn rằng:

    - Này các ngươi! Hãy tiễn đưa cô gái này về chỗ ở của cô ngay!

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cải trang trở lại là người thợ may vá đến gặp cô Amarā, ở lại với cô trong đêm hôm ấy.

    Sáng sớm hôm sau, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dẫn cô vào cung điện chầu Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī, tâu trình cho Bà biết rõ mọi việc về cô.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu lên Đức-vua biết rõ, để tổ chức lễ thành hôn cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita với cô tiểu thư Amarā tại tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita.

    Đức-vua Vedeha chuẩn tấu theo lời tâu trình của Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī. Bà truyền lệnh trang điểm cho cô Amarā với những đồ trang sức quý giá lộng lẫy như thiên-nữ, rồi Bà ngự dẫn đầu với đoàn hộ giá tiễn đưa tiểu thư Amarā đến tư dinh của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita.

    Lễ thành hôn của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita và tiểu thư Amarā được tổ chức rất trọng thể, có Đức-vua Vedeha và Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī chủ trì, các quan, quân trong triều đình, dân chúng trong kinh-thành Mithilā và dân chúng ngoài thành đến dự lễ thành hôn này.

    Đức-vua Vedeha ban cho số tiền 1.000 đồng Kahā- pana và các tặng phẩm quý giá gọi là quà trong dịp lễ thành hôn ấy. Các quan, quân trong triều đình, dân chúng trong kinh-thành Mithilā và dân chúng ngoài thành đều đem những tặng phẩm quý giá làm quà trong lễ thành hôn này. Cho nên, lễ thành hôn này có được rất nhiều quà tặng.

    Phu-nhân Amarā thưa với đức phu-quân Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đem tất cả các món quà ấy chia ra làm hai phần:

    - Một phần nhập vào kho của triều đình.

    - Một phần đem phân phát đến những người nghèo khổ trong kinh-thành và ngoài thành.

    Đôi vợ chồng, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita và tiểu thư Amarā, đều là bậc thiện-trí, có trí-tuệ, thông minh, sáng suốt, sống chung với nhau được an-lạc hạnh phúc.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita là một vị quan cận thần rất thân tín của Đức-vua Vedeha, là một vị quân-sư dâng những kế sách lên Đức-vua trị vì đất nước Videharaṭṭha được thái bình, phồn vinh, dân chúng được an cư lạc nghiệp.

    Bốn Vị Quân-Sư Âm Mưu Hại Đức-Bồ-Tát

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu-việt, tài giỏi phi thường, được Đức-vua Vedeha đem lòng ngưỡng mộ khâm phục, trọng dụng, nên những kế sách tấu trình của Đức-Bồ-tát thường đều được Đức-vua chuẩn tấu. Đức-vua ít quan tâm đến bốn vị quân-sư đã phụng sự lâu năm.

    Một hôm, ba vị quân-sư: Pukkusa, Kāminda, Devinda cùng nhau đến tư dinh của vị quân-sư Senaka. bốn vị quân-sư bàn bạc với nhau tìm ra mưu kế hại Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, vị quân-sư Senaka bảo rằng:

    - Này ba vị quân-sư! Chúng ta là bốn vị quân-sư kỳ cựu trong triều đình từ trước đến nay. Từ ngày Maho- sadhapaṇḍita, con trai của ông phú hộ xóm nhà hướng Đông vào cung điện, được Đức-vua nhận làm hoàng-tử, Mahosadhapaṇḍita ỷ lại mình là người có trí-tuệ, được Đức-vua tín cẩn đặc biệt. Mahosadhapaṇḍita thường tâu lên Đức-vua những kế sách hay, nên được Đức-vua ban thưởng, còn chúng ta không được Đức-vua ban thưởng. Vì vậy, chúng ta đã mất nhiều lợi lộc.

    Vậy, chúng ta làm cách nào để hại Mahosadha- paṇḍita này.

    Ba vị quân-sư thưa rằng:

    - Thưa quân-sư, ba chúng tôi không nghĩ ra mưu kế nào để hại Mahosadhapaṇḍita. Vậy, quân-sư có nghĩ ra mưu kế nào chưa?

    - Này quý vị! Tôi đã nghĩ ra mưu kế này, xin trình bày quý vị rõ. Bốn vị quân-sư chúng ta, mỗi vị thi hành một công việc:

    - Chính tôi sẽ là người lấy cắp viên ngọc Cūḷamaṇi của Đức-vua.

    - Vị quân-sư Pukkusa lấy cắp chuỗi vàng đeo cổ của Đức-vua.

    - Vị quân-sư Kāminda lấy cắp cái mền lông thú của Đức-vua.

    - Vị quân-sư Devinda lấy cắp đôi hia của Đức-vua.

    Khi mỗi người chúng ta lấy cắp được mỗi vật báu của Đức-vua đem về xong, mỗi người chúng ta tìm cách đưa mỗi báu vật ấy vào nhà của Mahosadhapaṇḍita cho được, đừng để ai nghi ngờ mỗi chúng ta.

    Ba vị quân-sư đều chấp nhận đó là mưu kế hay và hứa sẽ cùng nhau thực hiện. Khi bốn vị quân-sư vào chầu Đức-vua, mỗi người lẻn vào trong phòng lấy một báu vật theo sự phân công đem về tư dinh.

    * Vị quân-sư Senaka đem giấu viên ngọc Cūḷamaṇi của Đức-vua Vedeha trong nồi bơ, rồi gọi người tớ gái, bảo rằng:

    - Ngươi hãy đem cái nồi bơ này đi bán, nhưng không được bán cho nhà khác, chỉ bán cho người trong tư dinh của quan lớn Mahosadhapaṇḍita mà thôi.

    Thật ra, nếu người trong tư dinh của quan lớn Maho- sadhapaṇḍita chịu mua thì người xin kính biếu nồi bơ này, không cần lấy tiền.

    Vâng lời chủ, người tớ gái đem nồi bơ đi ngang qua tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rao lớn rằng:

    - Xin mời mua bơ ngon, ...

    Người tớ gái đội nồi bơ đi qua, đi lại trước mà rao mời như vậy, không đi nơi nào khác.

    Bà Amarādevī có trí-tuệ, thông minh, đứng trên tư dinh, nhìn qua cửa sổ, thấy hành vi, cử chỉ người bán bơ ấy khả nghi, nên nghĩ rằng: “Tại sao người bán bơ này không đi bán nơi khác mà cứ đi qua rồi đi lại trước tư dinh của ta, người ấy rao lớn: ‘Xin mời mua bơ ngon’ chắc chắn có điều gì nơi người ấy.”

    Nghĩ xong, bà truyền gia nhân gọi người bán bơ vào.

    Khi người bán bơ vào tư dinh, bà ra hiệu cho các gia nhân vào bên trong dinh. Bà hỏi người bán bơ rằng:

    - Này ngươi! Ngươi bán bơ có phải không?

    - Thưa bà, tiện nữ bán bơ. Kính mời bà mua giúp, bơ này ngon lắm.

    - Này ngươi! Ta sẽ mua nồi bơ này của ngươi.

    Nghe bà Amarādevī nói như vậy, người tớ gái tỏ vẻ vui mừng, nói rằng:

    - Con xin cám ơn Bà.

    Khi ấy, không có một gia nhân nào ở gần bà Amarādevī, cho nên bà nhờ người bán bơ rằng:

    - Này con! Ta nhờ con vào bên trong gọi giúp gia nhân của ta ra đây.

    Vâng lời bà Amarādevī, người bán bơ đi vào bên trong, nhân dịp ấy, bà đưa tay vào nồi bơ, gặp viên ngọc Cūḷamaṇi vô giá của triều đình. Bà Amarādevī để trở lại, rồi ngồi chờ người bán bơ gọi gia nhân trở ra. Bà Amarādevī truyền hỏi rằng:

    - Này con! Con bán nồi bơ này giá bao nhiêu?

    Người tớ gái hoàn tòan không hề biết trong nồi bơ có viên ngọc Cūḷamaṇi nên thưa rằng:

    - Thưa Bà, nồi bơ này giá tiền chỉ bằng 4 lít gạo mà thôi, nếu Bà muốn mua nồi bơ này, con kính biếu cho Bà nồi bơ này. Kính xin Bà nhận nồi bơ này cho con vui.

    - Này con! Ta xin nhận nồi bơ này của con, con đối xử với ta tốt quá!

    - Thưa Bà, con chân thành cảm ơn Bà.

    Khi ấy, Bà Amarādevī truyền hỏi rằng:

    - Này con! Con ở đâu vậy?

    - Thưa Bà, con là người tớ gái ở trong tư dinh của vị quân-sư Senaka.

    - Này con! Tên con gọi là gì?

    Người tớ gái nói tên thật của mình.

    - Này con! Cha mẹ con tên gì?

    Người tớ gái nói thật tên cha mẹ mình.

    Sau cuộc đàm thoại thân mật, người tớ gái của vị quân sư Senaka xin phép trở về.

    * Vị quân-sư Pukkusa thì đem giấu xâu chuỗi vàng đeo cổ của Đức-vua Vedeha trong cái hộp, bên trên đựng đầy hoa lài, ông gọi người tớ gái đến rồi bảo rằng:

    - Này ngươi! Ngươi hãy đem cái hộp hoa lài này đi bán, nhưng chỉ đem đến bán cho bà chủ tư dinh của vị quan Mahosadhapaṇḍita mà thôi.

    Bà Amarādevī cũng mua cái hộp ấy, rồi cũng hỏi rõ người bán tên gì, từ đâu đến và tên của cha mẹ nó.

    * Vị quân-sư Kāminda đem giấu cái mền lông thú của Đức-vua Vedeha trong cái giỏ chất đầy rau cải, ông gọi người tớ gái đến rồi bảo rằng:

    - Này ngươi! Ngươi hãy đem cái giỏ rau cải này đi bán, nhưng chỉ đem đến bán cho bà chủ tư dinh của vị quan Mahosadhapaṇḍita mà thôi.

    Bà Amarādevī cũng mua giỏ rau ấy, rồi hỏi rõ người bán tên gì, từ đâu đến và tên của cha mẹ nó.

    * Vị quân-sư Devinda thì đem giấu đôi hia vàng của Đức-vua Vedeha trong bao gạo, ông gọi người tớ gái đến rồi bảo rằng:

    - Này ngươi! Ngươi hãy đem cái bao gạo này đi bán, nhưng chỉ đem đến bán cho bà chủ tư dinh của vị quan Mahosadhapaṇḍita mà thôi.

    Bà Amarādevī cũng mua bao gạo ấy, rồi hỏi rõ người bán tên gì, từ đâu đến và tên của cha mẹ nó.

    Bà Amarādevī đã nhận mua được bốn báu vật của Đức-vua Vedeha, mỗi báu vật Bà đều ghi chép lại rõ trên tấm biển tên của vị quân-sư nào, bảo người tớ gái nào đem đến bán, tên mỗi người tớ gái và tên cha mẹ của họ. Bà thưa trình cho Đức-Phu-quân Mahosadhapaṇḍita biết rõ Bà đã mua được báu vật của Đức-vua Vedeha từ bốn người tớ gái của bốn vị quân-sư đem đến bán cho Bà, và Bà đã ghi rõ chi tiết của mỗi báu vật ấy rồi Bà đem cất giữ trong tư dinh.

    Một hôm, bốn vị quân-sư đến chầu Đức-vua Vedeha theo thường lệ, vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, lâu nay Bệ-hạ không trang sức viên ngọc Cūḷamaṇi?

    - Thưa quân-sư, khanh hãy đem viên ngọc Cūḷamaṇi ra cho Trẫm trang sức hôm nay.

    Bốn vị quân-sư làm bộ đi vào bên trong phòng cất các báu vật của Đức-vua Vedeha, trở ra tay không, rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, hạ thần không tìm thấy viên ngọc Cūḷamaṇi và cũng không tìm thấy ba báu vật khác là xâu chuỗi vàng, đôi hia vàng và chiếc mền bằng lông thú. Rồi tâu với lời lẽ khẳng định rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, bốn món báu vật của Bệ-hạ không còn trong cung điện của Bệ-hạ, chúng hạ thần biết chắc chắn bốn món báu vật ấy hiện có trong tư dinh của Mahosadhapaṇḍita.

    - Muôn tâu Bệ-hạ, Mahosadhapaṇḍita sử dụng bốn món báu vật này trước, rồi sau đó sẽ tính giết Bệ-hạ, để chiếm ngôi vua.

    Khi ấy, quan thân tín của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita đem chuyện này đến báo cho Đức-Bồ-tát biết. Nghe quan thân tín thưa báo như vậy, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Ta nên đến chầu Đức- vua Vedeha để biết thật hư như thế nào?”

    Nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita từ ngoài đi vào cung điện, Đức-vua nổi cơn thịnh nộ, không cho phép Đức-Bồ-tát vào, bởi vì tin theo lời bốn vị quân-sư đã tâu.

    Biết Đức-vua Vedeha đang nổi cơn thịnh nộ, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trở về lại tư dinh của mình.

    Không lâu sau đó, Đức-vua Vedeha truyền lệnh bắt giam Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita. Quan thân tín của Đức-Bồ-tát liền đến bẩm báo cho Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita lệnh truyền của Đức-vua Vedeha.

    Đức-Bồ-tát nghĩ rằng: “Ta nên trốn đi nơi khác.” Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gặp phu-nhân Amarā,

    báo cho Bà biết rằng:

    - Này Amarā, em yêu quý! Lệnh truyền của Đức-vua Vedeha như vậy. Ngay bây giờ hay nhất, anh nên trốn đi nơi khác lánh nạn một thời gian, em ở tại dinh thự này tuỳ cơ ứng phó.

    Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita Trốn Đi Lánh Nạn

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cải trang đi ra cửa thành hướng Nam kinh-thành Mithilā, đến xóm nhà vùng lúa mạch hướng Nam, xin vào chỗ làm đồ gốm, làm việc để nuôi mạng. Vị thầy nhận Đức-Bồ-tát làm học trò, rồi dạy làm đồ gốm.

    Dân chúng trong kinh-thành Mithilā xôn xao bàn tán về việc Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đã trốn đi ra khỏi kinh-thành Mithilā để lánh nạn.

    Nghe tin Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đã trốn đi ra khỏi kinh-thành Mithilā để lánh nạn, bốn vị quân-sư nói với dân chúng trong kinh-thành Mithilā rằng:

    - Bốn vị quân-sư chúng tôi cũng đều là bậc thiện-trí. Vậy, xin quý vị hãy an tâm.

    Biết chắc Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita không còn ở trong tư dinh, nên bốn vị quân-sư không ai nói cho ai biết, mỗi vị tự mình âm thầm lén lút đem những món quà quý giá đến biếu bà Amarā, phu-nhân của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita, để chiếm lấy tình cảm của bà Amarā, trong lúc Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita không có trong tư dinh.

    Bốn Vị Quân-Sư Bị Mắc Mưu Kế

    Bà Amarā vốn là người có trí-tuệ, mưu kế cao siêu, bà biết rõ bốn vị quân-sư này đã có âm mưu đê tiện, vu oan giá họa làm hại Đức phu-quân Mahosadhapaṇḍita của bà, họ là những kẻ trộm cắp bốn báu vật của Đức-vua.

    Đây là cơ hội tốt để bà minh oan cho Đức phu-quân. Bà hoan hỷ nhận đủ bốn món quà quý giá của bốn vị quân-sư đem đến biếu, rồi Bà Amarā kính mời bốn vị quân-sư cùng đến gặp Bà trong cùng một đêm, nhưng đặc biệt, Bà hẹn mỗi vị quân-sư đến khác giờ rằng:

    - Kính thưa quân-sư, tiện nữ kính mời quân-sư nhớ đến vào đúng đêm ấy và đúng vào giờ ấy. Kính xin quân-sư đến đúng hẹn.

    Bà Amarā nghĩ rằng: “Ta sẽ làm cho bốn vị quân-sư si mê này phải xấu hổ giữa triều đình.”

    Nghĩ xong, bà Amarā bảo những gia nhân đào một cái hầm sâu quá đầu người, đổ phẩn và nước tiểu vào hầm ấy, rồi đậy nắp hầm bằng một tấm ván, có chốt cài chặt.

    Khi mở chốt, nếu người nào bước lên tấm ván thì người ấy sẽ rơi xuống hầm phẩn và nước tiểu, rồi nắp hầm tự động đậy trở lại như trước. Trên nắp hầm, Bà lót một tấm thảm xinh đẹp để ngụy trang.

    Trong căn phòng được trang hoàng kết hoa rất xinh đẹp đáng hài lòng, mọi công việc đều được bí mật hoàn thành tốt đẹp.

    * Vào đêm hôm hẹn ấy, vị quân-sư Senaka ăn uống no say, trang phục nghiêm trang. Đúng theo giờ mà Bà Amarā đã hẹn, vị quân-sư Senaka đến đứng trước cửa tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bảo người lính gác cửa vào báo cho bà Amarā biết vị quân-sư Senaka đã đến.

    Biết vị quân-sư Senaka đến, bà Amarā cho mời vào, ông ta đi vào đứng gần bà. Bà Amarā niềm nở đón tiếp rồi thưa với vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, đêm nay tiện nữ sẽ thuộc về quân-sư rồi. Kính mời quân-sư vào phòng tắm nước hoa trước.

    Nghe lời mời ngon ngọt của bà Amarā, vị quân-sư Senaka ngoan ngoãn vâng lời vào phòng tắm, vừa bước vào phòng, ông ta vừa đạp lên tấm thảm xinh đẹp thì nắp hầm hạ xuống làm cho ông rơi xuống hầm phẩn và nước tiểu, rồi nắp hầm đậy trở lại như trước. Quân-sư Senaka đứng chịu trận dưới hầm phẩn và nước tiểu kín đáo tối tăm, chịu mồi hôi thối kinh khủng như thế.

    * Cũng vào đêm hôm hẹn ấy, đúng theo giờ mà bà Amarā đã hẹn, vị quân-sư Pukkusa đến đứng trước cửa tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bảo người lính gác cửa vào báo cho bà Amarā biết vị quân-sư Pukkusa đã đến.

    Biết vị quân-sư Pukkusa đến, bà Amarā cho mời vào, ông ta đi vào đứng gần bà. Bà Amarā niềm nở đón tiếp rồi thưa với ông giống như vị quân-sư Senaka.

    Nghe lời mời ngon ngọt của bà Amarā, vị quân-sư Pukkusa ngoan ngoãn vâng lời vào phòng tắm, đạp lên tấm thảm xinh đẹp thì nắp hầm hạ xuống làm cho ông ta rơi xuống hầm phẩn và nước tiểu, đụng phải cái đầu của vị quân-sư Senaka, ông hoảng hốt la lên rằng:

    - Ngươi là người hay hàng phi nhân, đáng kinh sợ quá!

    Vị quân-sư Senaka bảo rằng:

    - Ta là quân-sư Senaka đây! Còn ngươi là ai vậy?

    - Thưa quân-sư Senaka, tôi là quân-sư Pukkusa.

    Hai vị quân-sư đứng chịu trận dưới hầm phẩn và nước tiểu tối tăm, chịu ngửi mùi hôi thối kinh khủng như thế.

    * Cũng vào đêm hôm hẹn ấy, đúng theo giờ mà bà Amarā đã hẹn, vị quân-sư Kāminda đến đứng trước cửa tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bảo người lính gác cửa vào báo cho bà Amarā biết vị quân-sư Kāminda đã đến.

    Biết vị quân-sư Kāminda đến, bà Amarā cho mời vào, ông ta đi vào đứng gần bà. Bà Amarā niềm nở đón tiếp rồi thưa với ông giống như hai vị quân-sư trước.

    Nghe lời mời ngon ngọt của bà Amarā, vị quân-sư Kāminda ngoan ngoãn vâng lời vào phòng tắm, đạp lên tấm thảm xinh đẹp thì nắp hầm hạ xuống làm cho ông ta rơi xuống hầm phẩn và nước tiểu, đụng phải hai cái đầu của hai vị quân sư, ông hoảng hốt la lên rằng:

    - Các ngươi là người hay các hàng phi nhân, đáng kinh sợ quá!

    - Chúng ta là quân-sư Senaka và quân-sư Pukkusa đây, còn ngươi là ai vậy?

    - Thưa hai vị quân-sư, tôi là quân-sư Kāminda.

    Ba vị quân-sư đứng chịu trận dưới hầm phẩn và nước tiểu tối tăm, chịu ngửi mùi hôi thối kinh khủng như thế.

    * Cũng vào đêm hôm hẹn ấy, đúng theo giờ mà bà Amarā đã hẹn, vị quân-sư Devinda đến đứng trước cửa tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bảo người lính gác cửa vào báo cho bà Amarā biết vị quân-sư Devinda đã đến.

    Biết vị quân-sư Devinda đến, bà Amarā cho mời vào, ông ta đi vào đứng gần bà. Bà Amarā niềm nở đón tiếp rồi thưa với ông giống như ba vị quân-sư trước.

    Nghe lời mời ngon ngọt của bà Amarā, vị quân-sư Devinda ngoan ngoãn vâng lời vào phòng tắm, đạp lên tấm thảm xinh đẹp thì nắp hầm hạ xuống làm cho ông ta rơi xuống hầm phẩn và nước tiểu, đụng phải ba cái đầu của ba vi quân sư, ông hoảng hốt la lên rằng:

    - Các ngươi là người hay các hàng phi nhân, đáng kinh sợ quá!

    - Chúng ta là quân-sư Senaka, quân-sư Pukkusa và quân-sư Kāminda đây, còn ngươi là ai vậy?

    - Thưa ba vị quân-sư, tôi là quân-sư Devinda.

    Bốn vị quân-sư đứng chịu trận dưới hầm phẩn và nước tiểu tối tăm, nắp hầm kiên cố, chịu ngửi mùi hôi thối kinh khủng như vậy. Ba vị quân-sư thưa với vị quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, bây giờ chúng ta có cách nào để thoát ra khỏi hầm phẩn và nước tiểu hôi thối, tối tăm kinh khủng này không?

    Vị quân-sư Senaka bảo rằng:

    - Chúng ta đều là những hạng người khốn nạn, đê hèn, rồi còn phải chịu bao nỗi xấu hổ khác hơn thế nữa!

    Bốn vị quân-sư bị bà Amarā nhốt dưới hầm phẩn và nước tiểu tối tăm, ngột ngạt suốt đêm hôm ấy.

    Sáng ngày hôm sau, bà Amarā bảo những người gia nhân lôi cổ bốn vị quân-sư lên khỏi hầm, dội nước tắm cho họ, rồi lấy dao cạo trọc đầu và râu của họ, lấy viên gạch chà xát trên da đầu cho chảy máu, để hành hạ họ.

    Mỗi vị quân-sư được đặt nằm ngửa, trần truồng trên một tấm ván, trên ngực mỗi vị có một thứ báu vật mà chính họ đã ăn trộm của Đức-vua, và một tấm biển có ghi rõ tên người tớ gái, tên cha mẹ cô và tên người chủ đã sai cô đem bán cho bà Amarā là những vị quân-sư trên.

    Bà Amarā bảo những người gia nhân quấn quanh mỗi vị quân-sư bằng tấm vải tốt rất xinh đẹp bao quanh người, hai đầu cột lại. Bà đóng con dấu của quan lớn quân-sư Mahosadhapaṇḍita.

    Bà Amarā đến cung điện, xin vào chầu Đức-vua Vedeha giữa bá quan văn võ. Bà bảo những người gia nhân đem 4 món quà đến đặt dưới chân Đức-vua rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, tiện nữ kính xin dâng lên Hoàng-thượng bốn món quà này. Kính thỉnh Hoàng- thượng anh minh ngự lãm.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh cho lính mở ra từng gói. Đức-vua chứng kiến:

    * Gói thứ nhất: Vị quân-sư Senaka nằm trần truồng bị cạo trọc đầu và râu, trên ngực có viên ngọc Cūḷamaṇi và tấm biển ghi rõ nguồn gốc.

    * Gói thứ nhì: Vị quân-sư Pukkusa nằm trần truồng, bị cạo trọc đầu và râu, trên ngực có xâu chuỗi vàng và tấm kẽm ghi rõ nguồn gốc.

    * Gói thứ ba: Vị quân-sư Kāminda nằm trần truồng, bị cạo trọc đầu và râu, trên ngực có chiếc mền lông thú và tấm kẽm ghi rõ nguồn gốc..

    * Gói thứ tư: Vị quân-sư Devinda nằm trần truồng, bị cạo trọc đầu và râu, trên ngực có đôi hia vàng và tấm kẽm ghi rõ nguồn gốc.

    Nhìn thấy rõ bốn vị quân-sư nằm trần truồng, tóc râu không còn sợi nào, trên ngực mỗi vị có một món báu vật mà bốn vị quân-sư này đã tâu rằng bốn báu vật ấy chắc chắn Mahosadhapaṇḍita đã lấy trộm làm của riêng.

    Đức-vua Vedeha làm thinh, không truyền bảo lời nào cả. Bá quan văn võ trong triều đình vỗ tay reo hò rằng:

    - Ô! Xin quý vị hãy xem bốn con bạch vượn giả nhân chưa từng thấy bao giờ!

    Làm cho bốn vị quân-sư vô cùng xấu hổ. Khi ấy, bà Amarā, phu nhân của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu lên Đức-vua Vedeha rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, kính xin Hoàng-thượng anh minh, sáng suốt, xem xét lại sự việc rằng hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita phu-quân của tiện nữ, không phải là kẻ trộm cắp bốn báu vật của Hoàng-thượng, mà sự thật:

    * Quân-sư Senaka đã lấy trộm viên ngọc Cūḷamaṇi của Hoàng-thượng.

    * Quân-sư Pukkusa đã lấy trộm xâu chuỗi vàng của Hoàng-thượng.

    * Quân-sư Kāminda đã lấy trộm chiếc mền lông thú của Hoàng-thượng.

    * Quân-sư Devinda đã lấy trộm đôi hia vàng của Hoàng-thượng.

    - Muôn tâu Hoàng-thượng,

    * Quân-sư Senaka đã giấu viên ngọc Cūḷamaṇi trong nồi bơ đầy.

    * Quân-sư Pukkusa đã giấu xâu chuỗi vàng trong cái hộp, bên trên đựng đầy hoa lài.

    * Quân-sư Kāminda đã giấu chiếc mền lông thú được giấu trong cái giỏ chất đầy rau cải.

    * Quân-sư Devinda đã giấu đôi hia vàng được giấu trong bao gạo.

    Mỗi vị quân-sư sai bảo người tớ gái của mình đem đi bán, mà chỉ được phép bán cho tiện nữ mà thôi.

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, tiện nữ biết bốn báu vật ấy là của Hoàng-thượng, cho nên tiện nữ đã mua báu vật, rồi ghi rõ tên của người tớ gái, tên cha mẹ, tên chủ của tớ gái là bốn vị quân-sư.

    Nay, tiện nữ kính xin dâng lại bốn báu vật này lên Hoàng-thượng.

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, bốn vị quân-sư biết hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita, đức phu-quân của tiện nữ không có trong tư dinh, nên đêm hôm qua, mỗi vị quân- sư lén lút đến tư dinh ấy, theo giờ hẹn khác nhau, xâm nhập vào tư dinh có ác ý toan tính làm nhục (hại) tiện nữ. Vì vậy, tiện nữ đã cho họ rơi xuống hầm phẩn và nước tiểu, rồi nhốt suốt đêm qua.

    Sáng nay, tiện nữ sai bảo gia nhân lôi bốn vị quân-sư lên, cạo đầu, râu, trói đem đến tâu trình Hoàng-thượng xét xử tội bốn kẻ trộm cắp báu vật của Hoàng-thượng.

    Tiện nữ kính đảnh lễ Hoàng-thượng, xin phép trở về tư dinh.

    Nghe phu-nhân của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu rõ như vậy, Đức-vua Vedeha biết sự việc đã rõ ràng, nên chỉ còn biết truyền bảo các quân-sư của mình rằng:

    - Các ngươi hãy mau trở về tư dinh của mình, tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc tử tế!

    Chư Thiên Tâu Hỏi Bốn Câu Hỏi Với Đức-Vua Vedeha

    Từ khi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phải trốn đi khỏi kinh-thành Mithilā để lánh nạn, trong thời ấy, vị chư thiên ngự tại chiếc lọng trắng của Đức-vua Vedeha không được nghe pháp của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita nữa, nên vị ấy nghĩ rằng: “Ta tìm cách để cho Đức-vua Vedeha mời Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trở về kinh-thành Mithilā, để phụng sự Đức-vua như trước.”

    Đêm ấy, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra, tâu hỏi Đức-vua Vedeha bốn câu hỏi, Đức-vua Vedeha không hiểu được câu hỏi nào, nên truyền bảo rằng:

    - Này vị chư thiên! Trẫm không hiểu bốn câu hỏi ấy. Xin chư thiên chờ Trẫm hỏi bốn vị quân-sư thiện-trí của Trẫm, ngày mai Trẫm sẽ trả lời.

    Sáng hôm sau, Đức-vua Vedeha truyền mời bốn vị quân-sư vào chầu, họ tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, chúng thần đầu trọc, râu trụi, đi ra đường cảm thấy xấu hổ quá! Kính xin Bệ-hạ ban cho chúng thần cái khăn bịt đầu, bao cằm mới dám đi đến chầu Bệ-hạ được.

    Đức-vua Vedeha ban vải bịt đầu, bao cằm cho bốn vị quân-sư đi đến chầu Đức-vua Vedeha, bốn vị quân-sư ngồi một nơi hợp lẽ, Đức-vua truyền thưa rằng:

    - Này quân-sư Senaka, đêm hôm qua, vị chư thiên ngự tại chiếc lọng trắng trên ngai vàng của Trẫm hiện ra, tâu hỏi Trẫm bốn câu hỏi mà Trẫm hoàn toàn không hiểu gì cả. Trẫm có hẹn với vị chư thiên ấy rằng sáng nay, Trẫm sẽ hỏi bốn vị quân-sư của Trẫm về bốn câu hỏi ấy, bốn vị quân-sư trả lời thế nào, rồi tối nay, xin mời vị chư thiên đến nghe Trẫm giải đáp thế ấy.

    - Này quân-sư Senaka, câu hỏi thứ nhất, vị chư thiên ấy tâu rằng:

    “Tâu Đại-vương, ai là người đánh vào thân hình người khác bằng đôi tay hoặc đạp bằng đôi chân, lấy đôi tay vả vào miệng người khác. Người ấy lại là người yêu quý nhất của người bị đánh.

    Tâu Đại-vương, người yêu quý nhất ấy là ai vậy?”

    Nghe Đức-vua Vedeha thưa hỏi câu hỏi thứ nhất của chư thiên, vị quân-sư Senaka hoàn toàn không hiểu câu hỏi gì cả, và ba vị quân-sư còn lại cũng như vậy, tối tăm, mù mịt.

    Đức-vua tiếp tục hỏi ba câu hỏi tiếp theo, bốn vị quân-sư cũng hoàn toàn không hiểu gì cả.

    Đêm hôm ấy, đúng theo hẹn, vị chư thiên hiện ra tâu hỏi Đức-vua rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương giải đáp bốn câu hỏi ấy của tôi?

    Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Này chư thiên! Trẫm đã hỏi bốn câu hỏi ấy của quý vị, nhưng bốn vị quân-sư thiện-trí của Trẫm hoàn toàn không hiểu được câu nào cả.

    Khi ấy, vị chư thiên hăm dọa rằng:

    - Tâu Đại-vương, bốn vị quân-sư ấy là người si-mê, tham-dục thì làm sao giải đáp câu hỏi này được. Ngoài quân-sư Mahosadhapaṇḍita ra, không có ai trên đời này giải đáp bốn câu hỏi này được.

    Kính xin Đại-vương truyền lệnh các vị quan đi tìm mời quân-sư Mahosadhapaṇḍita trở về để giải đáp bốn câu hỏi ấy của chúng tôi. Đó là điều tốt lành!

    Nếu Đại-vương không truyền lệnh cho mời quân-sư Mahosadhapaṇḍita trở về để giải đáp bốn câu hỏi của chúng tôi thì chúng tôi sẽ đập cái đầu của Đại-vương bằng cái chuỳ sắt cháy đỏ này.

    Hăm dọa xong, vị chư thiên khuyên Đức-vua rằng:

    - Tâu Đại-vương, như người cần lửa thì không thể tìm nơi con đom đóm, cũng như vậy, khi cần bậc thiện-trí có trí-tuệ hiểu biết, thì Đại-vương không thể tìm nơi bốn vị quân-sư si mê ngu muội ấy.

    Quân-sư Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-thiện-trí, có trí-tuệ siêu-việt, ví như đống lửa lớn, còn bốn vị quân-sư Senaka, Pukkusa, Kāminda và Devinda chỉ ví như con đom đóm mà thôi.

    - Tâu Đại-vương, nếu Đại-vương không truyền lệnh mời quân-sư Mahosadhapaṇḍita trở về để giải đáp bốn câu hỏi này của chúng tôi thì chắc chắn sinh-mạng của Đại-vương sẽ không được an toàn.

    Hăm dọa và khuyên Đức-vua Vedeha xong, vị chư thiên biến mất.

    Thỉnh Mời Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita Trở Về

    Nghe lời hăm doạ và lời khuyên của vị chư thiên, Đức-vua Vedeha cảm thấy vô cùng kinh sợ, vì sự chết sẽ xảy đến với mình. Vì vậy, sáng hôm sau, Đức-vua truyền lệnh bốn vị quan lớn và bốn đoàn tùy tùng rằng:

    - Này chư khanh! Mỗi khanh lấy một cỗ xe ngựa và đoàn tùy tùng, hãy đi ra mỗi cửa thành, đến mỗi xóm nhà vùng lúa mạch mỗi hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc) để tìm cho được hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita. Các khanh hãy báo cho hoàng-tử, con của Trẫm rằng: “Trẫm truyền mời hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita trở về cung điện, đến yết kiến Trẫm gấp.”

    Tuân lệnh Đức-vua Vedeha, bốn vị quan lớn và đoàn tuỳ tùng, mỗi vị đi ra mỗi cửa kinh-thành Mithilā, đến mỗi xóm nhà, mỗi vùng lúa mạch của mỗi hướng. Ba vị quan lớn cùng đoàn tùy tùng đến ba xóm nhà, ba vùng lúa mạch của ba hướng Đông, Tây, Bắc đều không tìm gặp được hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita.

    Riêng vị quan lớn cùng đoàn tùy tùng đến xóm nhà vùng lúa mạch hướng Nam của kinh-thành Mithilā, những người lính trong đoàn tùy tùng vào xóm nhà hỏi thăm, tìm người, nên nhận ra hoàng-tử Mahosadha- paṇḍita đang vác đất sét, thân hình dính đầy đất, đem về học làm nồi với một vị thầy để nuôi mạng. Đời sống của hoàng-tử thật là vất vả, cực khổ như vậy.

    Vấn: Tại sao hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita làm việc nuôi mạng vất vả, cực khổ như vậy?

    Đáp: Bởi vì hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita không muốn Đức-vua nghi ngờ là hoàng-tử có mưu đồ phản bội giết vua, để chiếm ngôi báu. Khi Đức-vua biết rằng hoàng-tử làm nghề thợ gốm, để nuôi mạng thì Đức-vua sẽ không còn nghi ngờ nơi hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita nữa.

    Vị quan lớn nghe người lính trình thưa rằng: “Chính y đã nhìn thấy, nhận ra hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita đang vác đất sét đem về làm nồi đất như vậy.”

    Vị quan lớn liền cho người đánh xe ngựa sang trọng đến tận chỗ ở của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita, ngừng xe lại, bước xuống xe. Vị quan lớn đi vào nhà gặp hoàng tử Mahosadhapaṇḍita.

    Nhìn thấy vị quan đến, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Hôm nay, ta sẽ được phục chức lớn, và sẽ gặp lại phu-nhân của ta.”

    Khi ấy, vị quan lớn thưa với quân-sư Mahosadha- paṇḍita rằng:

    - Kính thưa quân-sư Mahosadhapaṇḍita, ban đêm vị chư thiên ngự tại chiếc lọng trắng trên ngai vàng của Đức-vua Vedeha hiện ra tâu hỏi Đức-vua bốn câu hỏi.

    Nghe xong bốn câu hỏi, Đức-vua hoàn toàn không hiểu được câu nào. Đức-vua hẹn với vị chư thiên rằng: “Trẫm sẽ đem bốn câu hỏi này hỏi bốn vị quân-sư thiện- trí của Trẫm. Vậy, Trẫm xin hẹn tối mai, mời vị chư thiên đến, bốn vị quân-sư giải đáp như thế nào thì Trẫm sẽ giải đáp như thế ấy.”

    Tối hôm sau, vị chư thiên hiện ra xin nghe Đức-vua giải đáp bốn câu hỏi ấy. Đức-vua truyền rằng: “Thưa chư thiên, bốn vị quân-sư của Trẫm hoàn toàn không hiểu được bốn câu hỏi ấy.”

    Chư thiên không hài lòng, hăm dọa và khuyên Đức- vua cho mời quân-sư Mahosadhapaṇḍita trở về cung điện, để giải đáp bốn câu hỏi ấy.

    Nếu không thì Đức-vua sẽ không được an toàn sinh- mạng, nên Đức-vua cảm thấy vô cùng hoảng sợ. Vì vậy, Đức-vua truyền lệnh cho các quan đi khắp bốn xóm nhà trong bốn vùng lúa mạch ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, để đi tìm ...

    May mắn thay! Hạ quan gặp Quân-sư tại nơi đây. Đức-vua có gửi 1.000 Kahāpana và các phẩm vật quý giá khác ban cho Quân-sư, kính xin Quân-sư thọ nhận số tiền và các phẩm vật này.

    - Kính thưa quân-sư Mahosadhapaṇḍita, kính mời Quân-sư lên xe ngựa sang trọng này trở về yến kiến Đức-vua gấp.

    Nghe vị quan thưa trình như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nhận số tiền 1.000 Kahāpana và các phẩm vật, rồi đem vào gặp vị thầy dạy nghề đồ gốm.

    Biết người học trò là vị Quân-sư trong triều đình đến ẩn náu nơi đây, vị thầy cảm thấy vô cùng hoảng sợ. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thưa với thầy rằng:

    - Thưa thầy, xin thầy không nên lo sợ, chính thầy là người ân nhân của tôi, tôi xin chân thành kính biếu thầy 1.000 Kahāpana và các phẩm vật quý giá này để tỏ lòng biết ơn thầy. Xin phép thầy, tôi phải trở về cung điện theo lệnh của Đức-vua Vedeha.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita với thân hình dính đầy đất sét, bước lên chiếc xe ngựa sang trọng trở về kinh-thành Mithilā. Đến kinh-thành, vị quan lớn đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, kẻ hạ thần đã mời quân-sư Maho- sadhapaṇḍita trở về đến kinh-thành Mithilā.

    Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Này khanh! Khanh gặp hoàng-tử Mahosadha- paṇḍita ở đâu?

    - Muôn tâu Bệ-hạ, kẻ hạ thần gặp hoàng-tử Maho- sadhapaṇḍita trong một chỗ làm đồ gốm trong xóm nhà vùng lúa mạch hướng Nam. Hoàng-tử với thân hình dính đầy đất sét, đang ngồi xoay bàn làm nồi đất sét, để nuôi mạng.

    Nghe vị quan tâu như vậy, Đức-vua Vedeha nghĩ rằng: “Nếu hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita là kẻ thù của ta, có mưu đồ giết ta để chiếm ngôi vua thì chắc chắn hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita không bao giờ làm nghề thợ gốm để sinh sống như vậy được. Vậy, hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita chắc chắn không phải kẻ thù của ta.”

    Nghĩ xong, Đức-vua truyền lệnh rằng:

    - Này khanh! Khanh hãy thưa với hoàng-tử Maho- sadhapaṇḍita trở về nhà tắm rửa sạch sẽ, trang phục đầy đủ theo chức tước mà Trẫm đã ban từ trước, rồi đến yết kiến Trẫm.

    Vâng lệnh Đức-vua Vedeha, Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita đến chầu Đức-vua, đảnh lễ Đức-vua xong ngồi một nơi hợp lẽ. Khi ấy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Thông thường người không có trí-tuệ, không có khả năng làm được việc lớn, còn con là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ siêu-việt, có tài đức hơn người, nếu cần, con có khả năng chiếm đoạt tất cả ngai vàng trong toàn cõi Nam-thiện Bộ-châu này. Đó là điều không khó đối với con, nhưng tại sao con không chiếm đoạt ngai vàng của ta vậy?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    -Tâu Đại-vương, người nào ngồi hoặc nằm dưới bóng mát của cây nào, người ấy không nên bứt lá, bẻ cành của cây ấy, bởi vì, người làm hại bạn là con người ác.

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương là Đức Phụ-vương của con, nuôi dưỡng con, ban địa vị cao quý cho con. Đại- vương là bậc đại-ân-nhân của đời con, sao con dám nghĩ ác đến Đức Phụ-vương, còn làm hại Đức Phụ- vương thì điều đó chắc chắn không bao giờ xảy ra được.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu tiếp rằng:

    - Tâu Đại-vương, có năm điều xấu tốt:

    * Người sống tại gia hưởng sự an-lạc mà lười biếng. Đó là điều không tốt.

    * Bậc xuất gia mà không biết cẩn trọng trong sáu môn cho được thanh-tịnh. Đó là điều không tốt.

    * Bậc thiện-trí mà phát sinh tâm sân. Đó là điều không tốt.

    * Đức-vua không suy xét kỹ trước mà truyền lệnh. Đó là điều không tốt.

    * Đức-vua anh minh sáng suốt, chưa suy xét kỹ thì chưa truyền lệnh, khi đã suy xét kỹ trước rồi mới truyền lệnh. Đó là điều tốt.

    Các quan, quân cho đến thần dân thiên hạ đều cảm phục, đều nương nhờ nơi Đức-vua ấy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thuyết giảng như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát.

    Bốn Câu Hỏi Của Chư Thiên

    Sau khi nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy xong, Đức-vua Vedeha mời Đức-Bồ-tát lên ngồi trên ngai vàng, dưới chiếc lọng trắng. Còn Đức-vua ngồi một nơi hợp lẽ, truyền hỏi rằng:

    - Này Hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Vị chư thiên ngự tại chiếc lọng trắng hiện ra, tâu hỏi Phụ-vương bốn câu hỏi, nhưng Phụ-vương không hiểu bốn câu hỏi ấy, và bốn vị quân-sư cũng hoàn toàn không hiểu nổi.

    Nay, Phụ-vương nhờ con giải đáp bốn câu hỏi ấy của vị chư thiên.

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền bảo như vậy, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, vị chư thiên tâu hỏi bốn câu hỏi với Đức Phụ-vương như thế nào, kính xin Đức Phụ- vương thuật lại cho con nghe.

    * Đức-vua Vedeha thuật lại câu hỏi thứ nhất của chư thiên tâu rằng:

    1- Ai là người đánh vào thân hình người khác bằng đôi tay hoặc đạp bằng đôi chân, lấy đôi tay vả vào miệng người khác. Người ấy lại là người yêu quý nhất của người bị đánh. Vậy, người yêu quý nhất ấy là ai vậy?

    Vừa nghe qua câu hỏi, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita hiểu rõ ràng ý nghĩa của câu hỏi như vầng trăng sáng hiện trên bầu trời trong, nên Đức-Bồ-tát tâu rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, khi nào một đứa con thơ dại yêu quý nằm trên đùi của người mẹ, nó vui mừng, cười giỡn, đánh vào thân hình người mẹ bằng đôi tay hoặc đạp bằng đôi chân, hoặc vả trên miệng người mẹ bằng đôi tay, khi ấy, người mẹ nói với đứa con yêu quý ấy với tình thương yêu vô hạn như là: “Ô! Đứa con ngỗ nghịch! Con dám đánh, đạp mẹ như thế này sao!”

    Nói xong, người mẹ không ngăn được tình thương yêu vô hạn đối với đứa con yêu quý, nên ẵm đứa con áp sát vào ngực, hôn trên đầu đứa con nhỏ.

    - Tâu Đức Phụ-vương, người được thương yêu nhất của người bị đánh ấy là đứa con thơ dại yêu quý của người mẹ hiền (cũng như của người cha hiền).

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giải đáp câu hỏi thứ nhất xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Rồi tán dương ca tụng rằng:

    - Ô! Bậc đại-thiện-trí Mahosadhapaṇḍita giải đáp câu hỏi thứ nhất đúng rồi!

    Vị chư thiên cúng dường đến Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita bằng những đóa hoa trời, vật thơm rồi biến mất.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ cúng dường đến Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita những phẩm vật quý giá, rồi khẩn khoản Đức-Bồ-tát giải đáp câu hỏi tiếp.

    * Đức-vua Vedeha thuật lại câu hỏi thứ nhì của chư thiên rằng:

    2- Người chửi rủa, mắng nhiếc người khác một cách thỏa mãn, nhưng hoàn toàn không muốn cho người bị chửi rủa, mắng nhiếc ấy phải bị tai họa nào cả, bởi vì người bị chửi rủa, mắng nhiếc là người thương yêu nhất của người chửi rủa, mắng nhiếc. Vậy người bị chửi rủa, mắng nhiếc ấy là ai vậy?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, khi nào người mẹ bảo đứa con lên 7-8 tuổi của mình đang chơi đùa với chúng bạn rằng: “Này con yêu quý của mẹ! Con hãy đi đến nhà bà dì mượn cái ấy đem về cho mẹ, mau đi con!”

    Đứa bé thưa với mẹ rằng: “Thưa mẹ, con đói bụng, mẹ cho con ăn trước, rồi con sẽ đi.”

    Nghe con đói bụng, người mẹ đem đồ ăn, đồ uống cho con. Ăn uống no đủ người con lại ham chơi với chúng bạn mà không đi đến nhà bà dì mượn đồ như lời người mẹ bảo. Khi ấy, người mẹ nổi cơn giận dữ, chửi rủa, mắng nhiếc người con rằng: “Ê! Tên lừa dối mẹ! Cho ăn rồi không chịu đi à!”

    Đứa con cười thích thú, bỏ chạy. Nhìn thấy đứa con yêu quý của mình bỏ chạy, người mẹ bực mình, cầm roi, đuổi theo không kịp đứa con, nên bà chửi rủa, mắng nhiếc rằng: “Ê! Tên lừa dối mẹ! Đồ ăn hại! Hãy đứng lại!” Sợ mẹ đánh, đứa con chạy trốn mất.

    Người mẹ bực tức nên chửi rủa, mắng nhiếc thậm tệ rằng: “Mày chạy gặp trâu, bò húc mày!” Bởi vì người mẹ quá bực tức đứa con yêu quý của mình, nên thốt lên như vậy, nhưng bà mẹ lại hoàn toàn không muốn đứa con nhỏ yêu quý của mình gặp phải điều tai hại nào cả.

    Không thấy đứa con yêu quý trở về nhà, người mẹ nhớ con, khổ tâm, đi tìm con mình. Khi đến nhà ông bà ngoại của con, thì đứa con chạy đến với mẹ, người mẹ ôm đứa con yêu quý vào lòng, hôn trên đầu con mà nói rằng: “Con yêu quý của mẹ! Mẹ thương yêu con lắm! Mẹ bực tức, chửi rủa, mắng nhiếc vậy thôi. Thật ra, mẹ rất thương yêu con, con là trái tim, là đôi mắt của mẹ, mẹ luôn luôn bảo vệ con, không để mọi điều rủi ro, tai hại xảy đến với con.”

    - Tâu Đức Phụ-vương, người bị chửi rủa, mắng nhiếc một cách thậm tệ, nhưng người chửi hoàn toàn không muốn người bị chửi rủa, bị mắng nhiếc ấy gặp phải điều rủi ro, tai hại nào cả.

    - Tâu Đức Phụ-vương, người ấy là đứa con yêu quý của người mẹ trong cơn bực tức.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giải đáp câu hỏi thứ nhì xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Rồi tán dương ca tụng, cúng dường những phẩm vật quý giá của cõi trời đến Đức-Bồ-tát rồi biến mất.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ cúng dường đến Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita những phẩm vật quý giá, rồi khẩn khoản Đức-Bồ-tát giải đáp câu hỏi tiếp theo.

    * Đức-vua Vedeha thuật lại câu hỏi thứ ba của chư thiên rằng:

    3- Những người nào vu cáo lẫn nhau, không có chứng cớ, những người ấy lại là những người yêu quý lẫn nhau. Vậy, những người ấy là ai vậy?

    Đức-Bồ-tát Mahosadha giải đáp câu hỏi thứ ba rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, khi nào hai vợ chồng ở nơi kín đáo, ái ân đùa cợt với nhau với tình thương yêu tha thiết trong đời. Khi ấy, hai người này vu cáo lẫn nhau bằng lời không thật rằng: “Anh có thương yêu gì em đâu! Hoặc em có thương yêu gì anh đâu!”

    Buộc tội lẫn nhau không có chứng cớ rằng: “Tâm của anh đang nghĩ đến ai khác, không còn nghĩ đến em nữa! Hoặc tâm của em đang nghĩ đến ai khác, không còn nghĩ đến anh nữa!” Khi ấy, hai vợ chồng thương yêu, thắm thiết hơn bao giờ hết.

    - Tâu Đức Phụ-vương, những người ấy là hai vợ chồng đang thương yêu nhau, thắm thiết với nhau nơi kín đáo.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giải đáp câu hỏi thứ ba xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Rồi tán dương ca tụng, cúng dường những phẩm vật quý giá của cõi trời đến Đức-Bồ- tát rồi biến mất.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ cúng dường đến Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita những phẩm vật quý giá, rồi khẩn khoản Đức-Bồ-tát giải đáp câu hỏi tiếp theo.

    * Đức-vua Vedeha nhắc lại câu hỏi thứ tư của chư thiên rằng:

    4- Những người nào đến thọ nhận y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh, ... những người thọ nhận vật dụng ấy gọi là nhận hợp pháp, được người thí-chủ tôn kính. Vậy, những người ấy là ai vậy?

    Đức-Bồ-tát Mahosadha giải đáp câu hỏi thứ tư rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, câu hỏi thứ tư của vị chư thiên đề cập đến chư Sa-môn, chư Bà-la-môn, bậc hành phạm hạnh cao thượng.

    Thật vậy, những người nào có đức-tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, những người ấy muốn tạo những phước- thiện bố-thí, cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh, ... đến chư Sa-môn, chư Bà-la-môn, bậc hành phạm- hạnh cao thượng. Cho nên, những bậc Sa-môn, bậc Bà-la- môn ấy thọ nhận y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh, ... của thí chủ gọi là thọ nhận hợp pháp, được những thí chủ tôn kính, bởi vì những người thí chủ có được cơ hội tốt tạo được những phước-thiện bố-thí cao quý, cho quả báu an-lạc trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

    - Tâu Đức Phụ-vương, những người ấy là chư Sa- môn, chư Bà-la-môn thọ nhận vật dụng hợp pháp, được những người thí chủ ấy tôn kính nhất.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giải đáp câu hỏi thứ tư xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Rồi tán dương ca tụng, cúng dường hộp đầy thất báu đặt dưới chân của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, rồi biến mất.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát, và không còn lo sợ lời hăm dọa của vị chư thiên-nữa.

    Đức-vua hoan hỷ cúng dường đến Đức-Bồ-tát nhiều phẩm vật quý giá, đặc biệt nhất, ban chức vị cao nhất: Chức quan Senāpati: Chức quan Thừa-tướng đứng đầu trong triều đình cho Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ngay khi ấy.

    Lập Kế Hại Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita

    Sau khi được Đức-vua Vedeha ban chức quan Thừa- tướng, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có chức trọng quyền cao nhất. Từ đó bốn vị quân-sư phát sinh ác tâm, ganh tị, bàn tính với nhau rằng:

    - Bây giờ, Mahosadhapaṇḍita, con của phú hộ có chức trọng quyền cao nhất. Chúng ta nghĩ ra mưu kế gì mới, để hại Mahosadhapaṇḍita được không?

    Vị quân-sư Senaka bảo với ba vị quân-sư rằng:

    - Này quý vị! Tôi xin hiến mưu kế hay, bốn chúng ta nên đến tư dinh của Mahosadhapaṇḍita, tôi sẽ hỏi rằng: “Có nên nói chuyện bí mật cho ai biết không?”

    Nếu Mahosadhapaṇḍita trả lời rằng: “Không nên nói chuyện bí mật cho ai biết cả”, thì chúng ta lấy lý do ấy mà tâu lên Đức-vua rằng: “Mahosadhapaṇḍita, con ông phú hộ, có mưu đồ phản bội, là kẻ thù của Bệ-hạ”, để vu oan làm hại được Mahosadhapaṇḍita.

    Nghe vị quân-sư Senaka bày mưu kế thâm độc như vậy, ba vị quân-sư đều cho là kế hay và hứa cùng nhau thực hiện.

    Bốn vị quân-sư cùng nhau đi đến tư dinh của Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita.

    Đón tiếp bốn vị quân-sư xong, Đức-Bồ-tát mời họ ngồi một nơi hợp lẽ. Khi ấy, vị quân-sư Senaka thưa rằng:

    - Thưa quan Thừa-tướng, xin quan Thừa-tướng cho chúng tôi cơ hội, chúng tôi muốn hỏi câu hỏi.

    Maho: - Thưa quân-sư, xin quý vị cứ tự nhiên đặt câu hỏi.

    Sena: - Thưa Thừa-tướng, bậc thiện-trí nên đặt pháp nào làm nền tảng?

    Maho: - Thưa quân-sư, bậc thiện-trí nên đặt pháp chân thật làm nền tảng.

    Sena: - Thưa Thừa-tướng, chuyện bí mật của mình có nên tiết lộ cho người nào biết hay không?

    Maho: - Thưa quân-sư, chuyện bí mật của mình không nên tiết lộ cho một người nào biết cả.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trả lời như vậy, bốn vị quân-sư tỏ ra vui mừng vì trả lời đúng theo ý đồ của họ, rồi họ xin phép từ giã ra về.

    Bốn vị quân-sư thực hiện mưu kế thâm độc để hại Đức-Bồ-tát, nên họ xin vào chầu Đức-vua Vedeha trường hợp đặc biệt và khẩn cấp, để tâu lên Đức-vua rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, chúng thần đến tư dinh của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita hỏi rõ, biết được quan Thừa-tướng có mưu đồ phản bội Bệ-hạ. Quan Thừa- tướng là kẻ thù của Bệ-hạ.

    Nghe bốn vị quân-sư tâu như vậy, Đức-vua Vedeha truyền thưa rằng:

    - Này quý quân-sư, Trẫm không thể tin Mahosadha- paṇḍita lại có thể phản bội Trẫm, là kẻ thù của Trẫm.

    Bốn vị quân-sư tâu khẳng định rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ tin lời chúng thần. Nếu Bệ-hạ không tin thì Bệ-hạ truyền hỏi Mahosadha- paṇḍita rằng: “Chuyện bí mật của mình có nên tiết lộ cho người nào biết hay không?”

    Nếu Mahosadhapaṇḍita không phải là kẻ phản bội, là kẻ thù của Bệ-hạ thì sẽ tâu rằng: “Chuyện bí mật của mình nên tiết lộ cho người thân biết.”

    Còn nếu Mahosadhapaṇḍita là kẻ phản bội, là kẻ thù của Bệ-hạ thì sẽ tâu rằng:

    “Chuyện bí mật của mình không nên tiết lộ cho một người nào biết cả.”

    Khi ấy, Bệ-hạ sẽ tin lời của chúng thần là sự thật.

    Đức-vua Vedeha chuẩn tấu, và sẽ truyền hỏi Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita. Một hôm, bốn vị quân-sư và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến chầu đông đủ, Đức- vua Vedeha bèn truyền hỏi rằng:

    - Này các khanh! Người ta có nên tiết lộ chuyện bí mật của mình, đó là chuyện xấu hoặc chuyện tốt cho một người thân nào biết hay không?

    Nghe Đức-vua truyền hỏi như vậy, vị quân-sư Senaka muốn nịnh hót Đức-vua để được cảm tình, nên tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, Bệ-hạ là Chúa-thượng, còn năm chúng thần là bề tôi, Chúa-thượng nên tiết lộ chuyện bí mật trong triều cho năm chúng thần bề tôi trước, để chúng thần suy xét điều lợi, điều hại, rồi tâu lên Chúa-thượng.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha truyền hỏi quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, chuyện bí mật của mình có nên tiết lộ cho người thân nào biết hay không?

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, người bạn thân thiết nào là người đáng tin cậy, là nơi nương nhờ của mình, là người bạn thân thiết cùng khổ, cùng vui với mình, thì mình chỉ nên tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người bạn thân thiết ấy biết mà thôi.

    Tiếp theo Đức-vua Vedeha truyền hỏi vị quân-sư Pukkusa rằng:

    - Thưa quân-sư, chuyện bí mật của mình có nên tiết lộ cho người thân nào biết hay không?

    Vị quân-sư Pukkusa tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, người anh hoặc người em trai nào của mình là người đáng tin cậy, biết phục vụ, đem lại sự lợi ích, sự an-lạc cho mình, thì mình chỉ nên tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người anh hoặc người em trai thân thiết ấy biết mà thôi.

    Tiếp theo Đức-vua Vedeha truyền hỏi vị quân-sư Kāminda rằng:

    - Thưa quân-sư, chuyện bí mật của mình nên tiết lộ cho người thân nào biết hay không?

    Vị quân-sư Kāminda tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, người con trai nào luôn luôn vâng lời dạy bảo của cha, một lòng biết phụng dưỡng, biết săn sóc cha hợp thời, thì người cha chỉ nên tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người con trai yêu quý ấy biết mà thôi.

    Tiếp theo Đức-vua Vedeha truyền hỏi vị quân-sư Devinda rằng:

    - Thưa quân-sư, chuyện bí mật của mình nên tiết lộ cho người thân nào biết hay không?

    Vị quân-sư Devinda tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, người mẹ là người có ân đức cưu mang, dưỡng dục mình nên người bằng tình thương yêu thiêng liêng, thì mình chỉ nên tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người mẹ kính yêu ấy biết mà thôi.

    Sau khi Đức-vua Vedeha truyền hỏi bốn vị quân-sư xong, mỗi vị quân-sư đều tiết lộ chuyện bí mật của mình cho mỗi người thân của mình, Đức-vua truyền hỏi Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Chuyện bí mật của mình có nên tiết lộ cho người thân nào biết hay không?

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, chuyện bí mật của mình nên giữ kín là điều tốt, tiết lộ chuyện bí mật là điều không tốt. Khi nào nguyện vọng của mình chưa được thành tựu, bậc thiện-trí nên nhẫn nại chờ đợi, không nên tiết lộ chuyện bí mật cho một ai biết cả, đến khi thành tựu thì nên cho mọi người đều biết.

    Khi nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha cảm thấy không vui, nỗi lo sợ phát sinh. Khi ấy, quân-sư Senaka nhìn về Đức-vua và Đức- vua cũng nhìn quân-sư.

    Đức-Bồ-tát Mahosadha nhìn thấy vậy, biết rằng: “Bốn vị quân-sư này đã có mưu kế thâm độc để hại ta bằng cách tâu lên Đức-vua Vedeha đặt câu hỏi để thử lòng ta.”

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha và các quân-sư đang bàn luận, đến lúc mặt trời sắp lặn, những người lính đốt đèn sáng, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: Chuyện này phức tạp, tốt hơn ta nên xin phép trở về.

    Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát đảnh lễ Đức-vua rồi xin phép ra về.

    Khi ra khỏi cửa cung điện, Đức-Bồ-tát nhớ lại những câu trả lời của bốn vị quân-sư về câu hỏi của Đức-vua rằng:

    * Quân-sư Senaka tâu rằng: Nên tiết lộ chuyện bí mật cho người bạn thân thiết biết.

    * Quân-sư Pukkusa tâu rằng: Nên tiết lộ chuyện bí mật cho người anh em thân thiết biết.

    * Quân-sư Kāminda tâu rằng: Nên tiết lộ chuyện bí mật cho người con yêu quý biết.

    * Quân-sư Devinda tâu rằng: Nên tiết lộ chuyện bí mật cho người mẹ kính yêu biết.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tin chắc rằng bốn vị quân-sư này đã hành động rồi, cho nên mỗi người đều nói đến chuyện bí mật của mình. Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Ta nên nghe chuyện bí mật của bốn vị quân-sư ấy như thế nào?”

    Hằng ngày, sau khi rời khỏi hội triều, bốn vị quân-sư này thường hay tụ hội lại chỗ cửa gần cung điện bàn luận với nhau chuyện trong triều xong mới trở về tư dinh của mỗi vị.

    Hôm nay, ta đến ẩn nấp một nơi kín đáo để nghe bốn vị quân-sư này bàn luận chuyện gì?

    Sau khi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita xin phép trở về, bốn vị quân-sư còn ở lại, vị quân-sư Senaka tâu với Đức-vua rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, Mahosadhapaṇḍita không tiết lộ chuyện bí mật của mình cho một người thân nào biết cả. Sự thật như vậy, Bệ-hạ nghĩ thế nào?

    Nghe lời quân-sư Senaka, Đức-vua Vedeha không suy xét kỹ, mà phát sinh tâm sợ hãi nên truyền hỏi rằng:

    - Thưa quân-sư, bây giờ Trẫm phải hành động như thế nào? Xin quân-sư tâu cho Trẫm rõ.

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ không nên chậm trễ, không để cho Mahosadhapaṇḍita có cơ hội.

    Đức-vua truyền lệnh rằng:

    - Này quân-sư, vậy khanh là người đảm trách công việc lớn lao này. Khanh nhận thanh gươm báu này cùng với ba vị quân-sư khác, đứng chờ nơi cửa cung điện.

    Sáng ngày mai, Mahosadhapaṇḍita đến chầu thì khanh hãy chặt đầu Mahosadhapaṇḍita bằng thanh gươm báu này.

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, chúng thần xin phụng mệnh.

    Bốn vị quân-sư đảnh lễ Đức-vua Vedeha rồi xin phép trở về tư dinh của mình. Đúng như điều tiên đoán của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, họ cùng đến chỗ gần cửa thành, ngồi lại một nơi (Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang ẩn nấp gần nơi ấy). Vị quân-sư Senaka bảo rằng:

    - Sáng ngày mai, ai là người chặt đầu Mahosadha- paṇḍita?

    Ba vị quân-sư thưa rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư là người nhận thanh gươm báu. Vậy, chính quân-sư là người chặt đầu Mahosadha- paṇḍita, còn ba chúng tôi sẽ tiếp sức với quân-sư.

    Sau đó, vị quân-sư Senaka hỏi ba vị quân-sư rằng:

    - Này quý vị! Chuyện bí mật của mình nên tiết lộ cho người thân mà mỗi vị đã tâu với Đức-vua, chuyện bí mật của mỗi vị đã xảy ra rồi phải không?

    - Thưa quân-sư, chuyện bí mật đã có xảy ra rồi, còn chuyện bí mật mà quân-sư đã tâu với Đức-vua cũng đã xảy ra rồi phải không?

    - Này quý vị! Chuyện bí mật ấy chính tôi đã làm từ lâu.

    - Thưa quân-sư, nếu vậy, thì xin quân-sư tiết lộ cho chúng tôi biết với.

    - Thưa quý vị, nếu chuyện bí mật ấy mà Đức-vua biết được thì chắc chắn tôi bị chém đầu.

    - Thưa quân-sư, đây chỉ có chúng tôi mà thôi, xin quân-sư tiết lộ cho chúng tôi biết, có gì đáng sợ đâu!

    * Vị quân-sư Senaka tiết lộ chuyện bí mật của mình cho ba vị quân-sư kia rằng:

    - Này quý vị! Quý vị có biết cô kỹ nữ xinh đẹp (tên ấy) trong kinh-thành Mithilā này hay không?

    - Thưa quân-sư, chúng tôi đều biết cô kỹ nữ xinh đẹp ấy, nhưng bây giờ cô kỹ nữ ấy ở đâu, không ai biết.

    - Này quý vị! Tôi đã hãm hiếp cô kỹ nữ trong vườn cây sālā, rồi giết cô chết. Tôi đã lấy tất cả đồ nữ trang của cô ta gói lại trong tấm áo choàng của cô, rồi đem treo trên ngà voi trong phòng của tôi.

    Chuyện bí mật này, tôi chỉ tiết lộ cho người bạn thân thiết của tôi biết mà thôi. Và bạn thân của tôi cũng giấu kín chuyện này. Vì vậy, tôi tâu với Đức-vua rằng: “Chuyện bí mật của mình chỉ nên tiết lộ cho người bạn thân thiết của mình mà thôi.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nằm yên, lắng tai nghe rõ rồi ghi nhớ chuyện bí mật của vị quân-sư Senaka.

    * Tiếp đến, vị quân-sư Pukkusa tiết lộ chuyện bí mật của mình rằng:

    - Thưa quý vị, tôi mắc bệnh ngoài da, lở loét ở bắp vế, chỉ có người em trai yêu quý của tôi biết mà thôi.

    Hằng ngày, em trai của tôi thoa thuốc, băng bó vết thương ấy. Đức-vua Vedeha thương yêu tôi, đôi khi Đức- vua nằm gối đầu trên chỗ vết thương ấy.

    Nếu Đức-vua biết tôi mắc bệnh ngoài da, lở loét ở bắp vế như vậy, thì sinh-mạng của tôi không được an toàn. Vì vậy, tôi tâu với Đức-vua rằng: “Chuyện bí mật của tôi chỉ nên tiết lộ cho người em trai thân thích của tôi mà thôi.”

    * Tiếp đến vị quân-sư Kāminda tiết lộ chuyện bí mật của mình rằng:

    - Thưa quý vị, thường vào ngày uposathasīla cuối tháng, một Dạ-xoa tên Naradeva nhập vào tôi khiến cho tôi tru như con chó. Chuyện bí mật này chỉ có người con trai yêu quý của tôi biết mà thôi. Khi người con ấy biết tôi bị Dạ-xoa nhập, nó đưa tôi vào nằm ở phòng trong rồi đóng cửa lại, bên ngoài, nó cho đoàn ca hát biểu diễn làm át tiếng tru như chó của tôi, cho đến khi Dạ- xoa thoát ra. Vì vậy, tôi tâu với Đức-vua rằng: “Chuyện bí mật của cha chỉ tiết lộ cho người con yêu quý của mình mà thôi.”

    * Tiếp đến, vị quân-sư Devinda tiết lộ chuyện bí mật của mình rằng:

    - Thưa quý vị, Đức-vua Vedeha truyền bảo tôi làm phận sự lau chùi viên ngọc maṇi, đem lại mọi sự hạnh phúc an lành cho triều đình. Tôi đã lấy trộm viên ngọc maṇi ấy đem về đưa cho mẹ tôi cất giữ, mẹ tôi không nói cho ai biết cả. Mỗi khi tôi đi chầu Đức-vua thì mẹ tôi lại trao viên ngọc maṇi ấy cho tôi đem theo bên người.

    Nhờ oai lực viên ngọc maṇi ấy mà Đức-vua thường ban cho tôi nhiều phẩm vật quý giá hơn quý vị. Vì vậy, tôi tâu với Đức-vua rằng: “Chuyện bí mật của con chỉ tiết lộ cho người mẹ yêu quý của con biết mà thôi.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nằm yên, lắng tai nghe rõ chuyện bí mật của bốn vị quân-sư tiết lộ cho nhau nghe, như tự mình mổ ngực để lộ những bộ phận bên trong.

    Khi ấy, vị quân-sư Senaka nhắc bảo rằng:

    - Xin quý vị chớ nên dể duôi, sáng mai giúp nhau chặt đầu Mahosadhapaṇḍita, con của ông phú hộ.

    Họ hứa hẹn với nhau rồi chia tay trở về tư dinh của mình. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cũng trở về tư dinh, tắm rửa, ăn uống ngon lành xong truyền bảo gia nhân trước khi vào phòng ngủ rằng:

    - Này các ngươi! Đêm nay, khi người thân tín của Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī đem tin đến thì các người hãy báo cho ta biết ngay.

    Đêm hôm ấy, Đức-vua Vedeha nằm trên long sàng không ngủ được, hồi tưởng lại ân đức của Mahosadha- paṇḍita: “Mahosadha đã đến phụng sự giúp ta từ khi bảy tuổi cho đến nay trải qua thời gian nhiều năm tháng. Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-thiện-trí, có trí-tuệ siêu-việt chưa từng có điều gì làm cho ta buồn, dù là chuyện nhỏ.

    Chuyện bốn câu hỏi của chư thiên vừa qua, nếu không có Mahosadhapaṇḍita giúp giải đáp thì sinh- mạng của ta đâu còn cho đến ngày hôm nay.

    Vậy, tại sao ta có thể tin lời bốn vị quân-sư thường có tính ganh tị với Mahosadhapaṇḍita. Khi ta chưa suy xét kỹ mà ta đã truyền lệnh chặt đầu Mahosadhapaṇḍita bằng thanh gươm báu.

    Ôi! bắt đầu từ ngày mai, ta sẽ không còn thấy Maho- sadhapaṇḍita nữa!”

    Đức-vua nằm than vãn như vậy, phát sinh nỗi khổ tâm, sầu não cùng cực, nóng nảy, mặt mày âu sầu không sao ngủ được.

    Khi ấy, Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī ngự đến thấy Đức-vua Vedeha trong trạng thái bất an như vậy bèn tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-thượng, có chuyện gì làm cho long thể Hoàng-thượng bất an, xin Hoàng-thượng truyền bảo cho thần thiếp biết được không?

    - Này Ái-khanh Udumbaradevī! Bốn vị quân-sư tâu với Trẫm rằng Mahosadhapaṇḍita có mưu đồ phản bội, là kẻ thù của Trẫm. Cho nên, Trẫm đã trao thanh gươm báu và truyền lệnh bốn vị quân-sư sáng ngày mai chặt đầu Mahosadhapaṇḍita.

    Trẫm hồi tưởng đến ân đức của Mahosadhapaṇḍita, người đã tận tình phụng sự và cứu giúp Trẫm thoát chết, là bậc đại-thiện-trí, có trí-tuệ siêu-việt. Bắt đầu từ ngày mai, Trẫm sẽ không còn nhìn thấy Mahosadhapaṇḍita nữa.

    Thà là Trẫm chịu chết còn hơn là để Mahosadha- paṇḍita chết.

    - Này Ái-khanh Udumbaradevī! Đó là nguyên nhân làm cho Trẫm phát sinh nỗi khổ tâm, sầu não cùng cực như vậy.

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền như vậy, Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī cũng phát sinh nỗi khổ tâm vì thương yêu em trai Mahosadhapaṇḍita, Bà nghĩ rằng: “Ta nên tìm cách an ủi để Đức-vua an tâm ngủ say, ta sẽ báo tin này đến Mahosadhapaṇḍita, em của ta biết.”

    Nghĩ xong Bà tâu rằng:

    - Tâu Hoàng-thượng, Hoàng-thượng đã ban cho Mahosadhapaṇḍita chức quan Thừa-tướng cao nhất trong triều đình. Bây giờ, nếu Mahosadhapaṇḍita có mưu đồ phản bội, là kẻ thù của Hoàng-thượng thì Hoàng-thượng truyền lệnh như vậy cũng hợp pháp rồi. Kính xin Hoàng-thượng an tâm.

    Nghe lời tâu của Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbara- devī như vậy, Đức-vua Vedeha giảm bớt nỗi khổ tâm nóng nảy, nằm ngủ say.

    Sau đó, Bà trở về phòng riêng viết tin báo cho Mahosadhapaṇḍita biết rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita em yêu quý! Bốn vị quân-sư tâu với Đức-vua rằng: “Em là người phản bội, là kẻ thù của Đức-vua, nên Đức-vua nổi cơn thịnh nộ, trao thanh gươm báu, Đức-vua truyền lệnh cho bốn vị quân-sư sáng ngày mai chặt đầu em tại cửa thành cung điện.”

    Vậy, sáng ngày mai, nếu em đến chầu Đức-vua thì nên đi cùng với đoàn tùy tùng.

    Viết xong, Bà đặt vào trong ống, đậy nắp, đóng dấu rồi truyền bảo người thân tín đem trao tận tay Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita.

    Nhận được tin của Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī, Đức-Bồ-tát đọc xong biết đúng như chuyện đã biết nên nằm ngủ cho đến sáng.

    Sáng sớm hôm sau, bốn vị quân-sư mang thanh gươm báu đến đứng chờ trước của cung điện, không thấy Mahosadhapaṇḍita đến chầu như thường ngày. Bốn vị quân-sư thất vọng, đi vào chầu Đức-vua.

    Nhìn thấy bốn vị quân-sư , Đức-vua truyền hỏi rằng:

    - Các khanh đã chặt đầu Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita rồi phải không?

    - Tâu Bệ-hạ, chúng thần đứng chờ trước cửa cung điện, nhưng sáng nay Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita không đến chầu Bệ-hạ như thường ngày.

    Sáng hôm ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thức dậy, tắm rửa, ăn uống ngon lành rồi trang phục đầy đủ, cỡi chiếc xe báu có đoàn tùy tùng theo sau đi vào chầu Đức-vua.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha đứng trên lâu đài, nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng đoàn tùy tùng đến, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita bước xuống xe, từ xa đảnh lễ Đức-vua Vedeha một cách cung kính.

    Nhìn thấy cử chỉ đảnh lễ của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita, Đức-vua Vedeha nghĩ rằng:

    “Nếu Mahosadha là kẻ phản bội,, là kẻ thù của ta thì chắc chắn không đảnh lễ ta một cách cung kính như vậy.”

    Nghĩ xong, Đức-vua Vedeha truyền gọi Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita vào chầu. Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita vào đảnh lễ Đức-vua Vedeha thêm một lần nữa rồi ngồi một nơi hợp lẽ, bốn vị quân-sư cũng đều ngồi chỗ của mình.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha làm bộ như không biết chuyện gì nên truyền hỏi rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Hôm qua khanh xin phép trở về trước, hôm nay, khanh đến trễ cùng với đoàn tùy tùng. Vậy, khanh có điều gì không hài lòng, khanh hãy tâu cho Trẫm rõ.

    Đức-Bồ-tát tâu Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Tâu Đại-vương, chuyện bí mật nào mà Đại-vương truyền lệnh cho bốn vị quân-sư, chuyện bí mật nào mà Đại-vương truyền bảo với Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbara-devī ... Những chuyện bí mật ấy, kẻ hạ thần này đã biết rõ cả rồi.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, nên Đức-vua Vedeha nổi cơn thịnh nộ do nghĩ: “Chánh- cung Hoàng-hậu Udumbaradevī báo tin này cho Mahosadhapaṇḍita biết.”

    Biết Đức-vua đang nổi cơn thịnh nộ, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần biết được chuyện đã xảy ra trong quá khứ, hiện-tại và vị-lai. Nếu Đại-vương nghĩ rằng chuyện bí mật của Đại-vương do Chánh-cung Hoàng- hậu Udumbaradevī báo tin cho hạ thần biết, thì còn những chuyện bí mật của bốn vị quân-sư do ai báo cho hạ thần, mà hạ thần cũng đều biết rõ những chuyện bí mật ấy.

    - Tâu Đại-vương, chuyện bí mật của quân-sư Senaka như sau:

    “Quân-sư Senaka đã tạo ác-nghiệp thấp hèn, hãm hiếp cô kỹ nữ (tên ấy) rồi giết cô tại vườn Sālā trong kinh-thành Mithilā này, rồi lấy tất cả đồ trang sức gói lại trong tấm áo choàng của cô, đem về treo trên chiếc ngà voi trong phòng của mình. Quân-sư chỉ tiết lộ chuyện bí mật này cho một người bạn thân thiết mà thôi.

    Chuyện bí mật của quân-sư Senaka đã được hạ thần biết rõ như vậy.”

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Senaka như vậy. Đức-vua Vedeha nhìn quân-sư Senaka, truyền hỏi rằng:

    - Này Senaka! Chuyện đó có thật vậy hay không? - Tâu Bệ-hạ, chuyện đó có thật, đúng như vậy.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh bắt quân-sư Senaka đem giam trong ngục, chờ xét xử.

    * Tiếp đến, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Pukkusa như sau:

    - Tâu Đại-vương, quân-sư Pukkusa mắc bệnh ngoài da ở bắp vế, lở loét khó trị, không được phép gần gũi với Đại-vương. Thế mà quân-sư Pukkusa để cho Đại-vương nằm gối đầu trên bắp vế mắc bệnh được băng bó kín ấy. Quân-sư Pukkusa chỉ tiết lộ chuyện bí mật cho người em trai thân thiết của quân-sư mà thôi.

    Chuyện bí mật của quân-sư Pukkusa đã được hạ thần biết rõ như vậy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Pukkusa như vậy. Đức-vua Vedeha nhìn quân-sư Pukkusa, truyền hỏi rằng:

    - Này Pukkusa! Chuyện đó có thật vậy hay không?

    - Tâu Bệ-hạ, chuyện đó có thật, đúng như vậy.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh bắt quân-sư Pukkusa đem giam trong ngục, chờ xét xử.

    * Tiếp đến, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Kāminda như sau:

    - Tâu Đại-vương, quân-sư Kāminda bị Dạ-xoa Nara- deva nhập vào. Khi bị Dạ-xoa nhập vào, ông ta tru lên như con chó điên. Quân-sư Kāminda chỉ tiết lộ chuyện bí mật này cho con trai yêu quý mà thôi.

    Chuyện bí mật của quân-sư Kāminda đã được hạ thần biết rõ như vậy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Kāminda như vậy. Đức-vua Vedeha nhìn quân-sư Kāminda, truyền hỏi rằng:

    - Này Kāminda! Chuyện đó có thật vậy hay không?

    - Tâu Bệ-hạ, chuyện đó có thật, đúng như vậy.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh bắt quân-sư Kāminda đem giam trong ngục, chờ xét xử.

    * Tiếp đến, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Devinda như sau:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương truyền quân-sư Devinda làm phận sự lau chùi viên ngọc maṇi, quốc bảo của triều đình. Quân-sư Devinda tự trộm cắp viên ngọc maṇi ấy đem về tư dinh, quân-sư chỉ tiết lộ chuyện bí mật này cho người mẹ kính yêu của quân-sư biết mà thôi.

    Chuyện bí mật của ông quân-sư Devinda đã được hạ thần biết rõ như vậy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu chuyện bí mật của vị quân-sư Devinda như vậy. Đức-vua Vedeha nhìn quân-sư Devinda, truyền hỏi rằng:

    - Này Devinda! chuyện đó có thật vậy hay không?

    - Tâu Bệ-hạ, chuyện đó có thật, đúng như vậy.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh bắt quân-sư Kāminda đem giam trong ngục, chờ xét xử.

    Bốn vị quân-sư bày mưu kế thâm độc để hại Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita, nhưng không thành tựu, ngược lại, bốn vị quân-sư bị giam trong ngục.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, bốn vị quân-sư tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người khác biết, cho nên, họ phải chịu hậu quả tai hại như vậy. Vì vậy, hạ thần tâu rằng:

    “Không nên tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người khác biết”.

    - Tâu Đại-vương, chuyện bí mật của mình nên giữ kín là điều tốt, tiết lộ chuyện bí mật của mình cho người khác là điều không tốt.

    Khi nào nguyện vọng của mình chưa thành tựu, bậc thiện-trí nên nhẫn nại chờ đợi, không nên tiết lộ chuyện bí mật cho một ai biết, đến khi thành tựu thì hãy nên cho mọi người biết.

    Không nên tiết lộ chuyện bí mật của mình, mà nên giữ gìn chuyện bí mật ấy như người giữ gìn kho báu. Người biết chuyện bí mật thì không nên tiết lộ, đó là điều tốt.

    Bậc thiện-trí không nói chuyện bí mật cho người nữ giới và kẻ thù, cũng không nói điều suy nghĩ của mình cho kẻ thù và những người không phải bạn thân.

    Người nói chuyện bí mật với người thân tín lúc ban ngày, thì phải tìm nơi vắng vẻ. Khi nói chuyện bí mật lúc ban đêm thì nói nhỏ vừa đủ nghe, không để âm thanh vọng ra bên ngoài, bởi vì nếu có người nghe lén chuyện bí mật thì chuyện bí mật ấy sẽ bị lộ ra bên ngoài, nhiều người biết.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thuyết giảng về chuyện bí mật như vậy, Đức-vua Vedeha nổi cơn thịnh nộ bốn vị quân-sư đã bày mưu kế thâm độc để sát hại hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita.

    Đức-vua Vedeha liền truyền lệnh cho lính đưa bốn vị quân-sư ra khỏi thành, đặt nằm trên bàn chông rồi chặt đầu bốn vị quân-sư.

    Bốn vị quân-sư bị buộc hai tay ra đằng sau, bị đánh 100 roi rồi dắt đến chỗ hành hình. Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, bốn vị quân-sư đã phụng sự, giúp Đại-vương đã nhiều năm qua, kính xin Đại-vương tha tội cho bốn vị quân-sư ấy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita khẩn khoản xin tha tội cho bốn vị quân-sư, Đức-vua Vedeha chuẩn tấu, rồi gọi họ vào, truyền bảo rằng:

    - Từ nay, các ngươi trở thành người tôi tớ của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Ngay khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita lại xóa bỏ kiếp tôi tớ cho bốn vị quân-sư ấy.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh đuổi họ ra khỏi đất nước Videharaṭṭha. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu lên Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương tha tội cho bốn vị quân-sư ấy và xin phục chức quân-sư trở lại như trước.

    Đức-vua Vedeha phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita do nghĩ rằng:

    “Mahosadhapaṇḍita có tâm từ, tâm bi đến kẻ thù như vậy, huống gì đối với tất cả chúng-sinh khác.”

    Nghĩ xong, Đức-vua hoan hỷ tha tội cho bốn vị quân-sư. Từ đó về sau, bốn vị quân-sư không dám bày mưu, tính kế hại Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nữa.

    Củng Cố Kinh-Thành Mithilā

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita được Đức-vua Vedeha hoàn tòan tin cậy nên nghĩ rằng: “Ta là quan Thừa- tướng cao nhất trong triều, ta phải có bổn phận bảo vệ ngai vàng của Đức-vua, bảo vệ kinh-thành Mithilā, bảo vệ đất nước Videharaṭṭha này”. Vì nghĩ như vậy, nên Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita dâng lên Đức-vua Vedeha, xin củng cố kinh-thành Mithilā thật kiên cố.

    Kinh-thành Mithilā được quan Thừa-tướng củng cố như sau:

    * Xây thành trì vững chắc bao bọc.

    * Xây lại bốn cửa thành vững chắc.

    * Đào ba con đường nước sâu vòng quanh bên ngoài kinh-thành Mithilā, nuôi cá sấu trong các con đường nước ấy.

    * Sửa chữa các trại lính, tập luyện các đoàn quân tinh nhuệ dũng cảm.

    * Đào nhiều hồ nước lớn bên trong kinh-thành và làm đường thông nước ra vào trong và ngoài thành, v.v...

    Quan Thừa-tướng Mahosadha là bậc đại-thiện-trí có trí- tuệ siêu-việt thấy xa hiểu rộng, nên củng cố thành trì kiên cố vững chắc bên trong, bên ngoài, để có thể ngăn chặn được các đoàn quân giặc ngoại xâm trong thời vị-lai.

    Quan Thừa-Tướng Tổ Chức Đội Lính Điệp Viên

    Khi gặp các đoàn lái buôn từ các nước khác đến, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ân cần thăm hỏi họ, hỏi về Đức-vua của họ. Quan Thừa-tướng nghĩ rằng:

    “Để giữ gìn trong đất nước được thanh bình, dân chúng được sống an cư lạc nghiệp, ta nên có quan hệ xã giao với các nước láng giềng xung quanh, để biết mọi hoạt động của các nước ấy.”

    Cho nên, quan Thừa-tướng tuyển chọn 101 người lính tài giỏi, xuất sắc, trung thành tuyệt đối với quan Thừa- tướng và đất nước Videharaṭṭha, rồi bảo với họ rằng:

    - Này các bạn thân mến! Tất cả các bạn gồm 101 người, mỗi người mang những tặng phẩm quý giá này đến mỗi kinh-thành dâng lên Đức-vua của nước ấy, rồi xin ở phục vụ Đức-vua ấy.

    Hằng ngày đêm, mỗi người có phận sự theo dõi công việc triều chính, nếu có hành động nào khả nghi thì các bạn hãy gửi tin cho tôi biết. Toàn thể gia đình, vợ con, cha mẹ, bà con của các bạn có tôi lo cung cấp, nuôi dưỡng đầy đủ, các bạn chớ nên bận tâm, lo lắng gì cả.

    Những tặng phẩm ấy là một bộ đồ trang phục của Đức-vua, một thanh gươm báu, một đôi hia vàng, một vòng hoa vàng. Quan Thừa-tướng ghi dòng chữ trên mỗi món đồ, rồi phát nguyện: “Nếu khi nào sự việc của tôi cần thì chỉ khi ấy dòng chữ này mới hiện rõ mà thôi.”

    Sau đó, quan Thừa-tướng trao những tặng phẩm ấy cho mỗi người lính tín cẩn của mình đem đến dâng lên 101 Đức-vua của 101 nước ấy.

    101 người lính của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita đến phục vụ cho 101 Đức-vua của 101 nước trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu. Họ là những lính điệp viên gửi tin tức về cho quan Thừa-tướng.

    Vì vậy, quan Thừa-tướng ở tại kinh-thành Mithilā mà có thể biết được mọi hoạt động của các Đức-vua trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu.

    Một thời gian sau, một người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita gửi tin về báo rằng: “Các đội binh của đất nước Kapilaraṭṭha đang chuẩn bị, tôi không biết sẽ có chuyện gì xảy ra. Xin quan Thừa- tướng gửi con vẹt trí-tuệ Suvapaṇḍita bay đến đây do thám, để biết rõ hơn.”

    Con Vẹt Trí-tuệ Suvapaṇḍita

    Nhận được tin của lính điệp viên, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita gọi Suvapaṇḍita đến bảo rằng:

    - Này Suvapaṇḍita yêu quý! Con hãy bay đến đất nước Kapilaraṭṭha, do thám tình hình kinh-thành Uttara-pañcāla như thế nào, rồi con bay một vòng đến các kinh- thành khác xem xét, do thám tình hình các Đức-vua như thế nào rồi con bay trở về báo cho ta biết.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ân cần săn sóc con vẹt Suvapaṇḍita ăn uống bổ dưỡng đầy đủ, lấy dầu thoa đôi cánh cho khỏe, rồi thả bay đi do thám. Nó bay đến kinh-thành Uttarapañcāla đất nước Kapilaraṭṭha do thám xong, rồi bay đến các kinh-thành khác quan sát, do thám tình hình tại mỗi kinh-thành xong, nó bay trở lại kinh-thành Uttarapañcāla do thám một lần nữa.

    Thời kỳ ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự tại kinh-thành Uttarapañcāla, có vị quân-sư là Bà-la-môn Kevaṭṭa. Hôm ấy, vị quân-sư Kevaṭṭa đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, hạ thần có chuyện bí mật, xin tâu lên Chúa-thượng. Trong kinh-thành không có chỗ vắng vẻ, kính thỉnh Chúa-thượng ngự đến vườn thượng uyển.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn tấu rồi ngự vào vườn thượng uyển cùng với vị Bà-la-môn quân-sư Kevaṭṭa, có đoàn quân hộ giá. Khi đến vườn thượng uyển, Đức-vua truyền lệnh đoàn quân hộ giá canh gác bên ngoài, chỉ có Đức-vua ngự vào trong vườn thượng uyển cùng với vị quân-sư Kevaṭṭa mà thôi.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự trên tảng đá an lành, còn quân-sư Kevaṭṭa ngồi gần bên. Khi ấy, con vẹt Suvapaṇḍita theo dõi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa, thấy thái độ khả nghi, nên nó nghĩ rằng: “Quân-sư Kevaṭṭa chắc chắn có chuyện bí mật, hệ trọng tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tại nơi này. Hôm nay, ta sẽ được nghe chuyện bí mật của các ngươi, để bay về báo cho chủ ta biết”. Nghĩ xong, nó bay đậu trên cành cây gần tảng đá an lành, có lá cây che kín. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo quân-sư Kevaṭṭa rằng:

    - Thưa quân-sư, chuyện bí mật như thế nào, quân-sư tâu cho Trẫm rõ.

    - Tâu Chúa-thượng, chuyện bí mật này chỉ được nghe bằng hai lỗ tai của Chúa-thượng và hai lỗ tai của hạ thần mà thôi.

    - Tâu Chúa-thượng, nếu Chúa-thượng thực hiện theo kế sách của hạ thần thì Chúa-thượng sẽ trở thành Đức- vua cao cả nhất trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rất hài lòng bởi tâm tham vọng làm bá chủ trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này, nên Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Thưa quân-sư, xin quân-sư tâu cho Trẫm rõ, Trẫm sẽ thực hiện theo kế sách của quân-sư.

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu kế sách rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, Chúa-thượng dẫn đầu các đoàn binh đến vây hãm bên ngoài kinh-thành nước nhỏ ấy, còn hạ thần làm sứ giả vào kinh-thành yết kiến Đức-vua nước ấy tâu rằng: “Tâu Đức-vua, Đức-vua là vua của một nước nhỏ, sức yếu, không nên đương đầu với các đội binh hùng mạnh của nước lớn. Điều tốt nhất, Đức- vua nên thần phục Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, rồi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ tấn phong Đức-vua lại như cũ. Nếu Đức-vua đương đầu với các đội binh hùng mạnh của nước lớn thì chắc chắn Đức-vua sẽ bị chiến bại rồi sẽ bị giết chết thê thảm.”

    Nếu Đức-vua ấy chịu thần phục thì Chúa-thượng tấn phong Đức-vua ấy làm vua như cũ, rồi bắt Đức-vua ấy theo Chúa-thượng và sát nhập các đoàn binh nước nhỏ ấy vào các đoàn binh của Chúa-thượng.

    Nếu Đức-vua ấy không chịu thần phục thì Chúa- thượng tiến quân xâm nhập vào chiếm kinh-thành, bắt giết Đức-vua nước ấy, đem các đoàn binh nước nhỏ ấy sát nhập vào các đoàn binh của Chúa-thượng.

    Theo kế sách như vậy, Chúa-thượng chiếm 101 kinh- thành, bắt 101 Đức-vua làm chư hầu, gồm 101 các đội binh của nước ấy sát nhập vào các đoàn binh hùng mạnh của Chúa-thượng.

    Khi nào Chúa-thượng đã tòan thắng, đã chiếm 101 kinh-thành, bắt 101 Vua chư hầu, khi ấy, Chúa-thượng cho tổ chức đại lễ mừng chiến thắng, cho mời 101 Vua chư hầu đến tham dự, uống rượu, ăn mừng chiến thắng ấy. Trong mỗi hũ rượu và đồ ăn uống của mỗi Đức-vua sẽ được trộn thuốc độc, khi 101 Vua chư hầu uống rượu, ăn thịt mừng trong buổi đại lễ ấy đều bị băng hà cả thảy.

    Khi ấy, Chúa-thượng đương nhiên sẽ trở thành vị Đại-vương cao cả nhất (aggamahārājā) trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ truyền rằng:

    - Thưa quân-sư Kevaṭṭa, thật là diệu kế! Thật là đại tài! Trẫm sẽ thực hiện theo kế sách của quân-sư.

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, chuyện bí mật này chỉ có Chúa- thượng và hạ thần biết mà thôi, ngoài ra, không một ai có thể biết được.

    - Tâu Chúa-thượng, xin Chúa-thượng nên thực hiện càng sớm càng tốt.

    Được nghe trọn vẹn chuyện bí mật của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa, con vẹt Suva- paṇḍita (con vẹt trí-tuệ) bay sà xuống, ỉa phẩn rơi trên đầu quân-sư Kevaṭṭa, ông vừa ngẩng mặt lên, la rằng “Phẩn gì đây?” thì nó lại ỉa phẩn rơi vào miệng ông ta, rồi bay mau rời khỏi nơi ấy.

    Con vẹt Suvapaṇḍita nghĩ rằng: “Này Kevaṭṭa! Chuyện bí mật ấy không chỉ bốn lỗ tai được nghe mà còn hai lỗ tai của ta và sẽ có hai lỗ tai của chủ ta Mahosadha-paṇḍita cũng được nghe nữa.”

    Con vẹt Suvapaṇḍita bay thẳng về kinh-thành Mithilā, đến tư dinh của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, đậu trên vai của quan Thừa-tướng, có nghĩa là chuyện bí mật này chỉ nói một mình quan Thừa-tướng biết mà thôi. (Nếu nó đậu trên bắp vế của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita thì có nghĩa là chuyện ấy nói cho Đức-Bồ-tát và phu-nhân Amarādevī biết. Nếu nó đậu dưới nền thì có nghĩa là chuyện ấy nói cho mọi người đều biết.)

    Hiểu ý con vẹt Suvapaṇḍita, quan Thừa-tướng đem nó lên trên lâu đài rồi hỏi rằng:

    - Này Suvapaṇḍita yêu quý! Con đã thấy, đã nghe biết chuyện gì phải không?

    Con vẹt Suvapaṇḍita thưa rằng:

    - Kính thưa Ông chủ, con bay đi do thám đến các kinh-thành của các Đức-vua khác trong cõi Nam-thiện- bộ- châu thì tình hình vẫn bình thường, duy chỉ có Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta ngự tại kinh-thành Uttarapañcāla, trị vì đất nước Kapilaraṭṭha, có mưu đồ làm bá chủ tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này, do chuyện bí mật mà con đã nghe tại vườn thượng uyển.

    Con vẹt Suvapaṇḍita tường thuật đầy đủ lại mọi chi tiết, chuyện bí mật mà vị quân-sư Kevaṭṭa tâu lên Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta và nhắc lại câu: “Tâu Chúa- thượng, chuyện bí mật này chỉ có Chúa-thượng và hạ thần biết mà thôi. Ngoài ra, không một ai có thể biết được...”. Nghe nó tường thuật lại chi tiết đầy đủ chuyện bí mật ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita hỏi:

    - Này Suvapaṇḍita yêu quý! Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta có chuẩn y theo kế sách của quân-sư Kevaṭṭa hay không?

    - Kính thưa Ông chủ, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rất hài lòng, vô cùng hoan hỷ sẽ thực hiện theo kế sách của quân-sư Kevaṭṭa.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ân cần, chăm sóc đặc biệt con vẹt Suvapaṇḍita, thoa dầu đôi cánh cho nó, cho ăn uống những thứ bổ dưỡng rồi cho nằm nghỉ trong chiếc lồng vàng, đầy đủ tiện nghi. Quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Quân-sư Kevaṭṭa chưa biết ta nhiều, ta sẽ làm cho kế sách của y trở thành vô hiệu, dù Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta dẫn các đoàn binh hùng mạnh nhất đến vây kinh-thành Mithilā này, cũng vẫn bị thua kế của ta, rồi bỏ chạy.”

    Nghĩ cách chống đỡ và tự vệ lâu dài, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ra lệnh dời những gia đình nghèo ra ngoài thành và dời những gia đình phú hộ giàu có, gia đình có chức quyền vào ở trong kinh-thành, cho làm nhiều kho chứa đầy thóc gạo, chứa đầy muối ăn, chứa đầy các thứ nhu cầu cần thiết trong cuộc sống. Quy hoạch vùng kinh tế, vùng trồng hoa màu, ... dân chúng trong kinh-thành có thể sống tự túc lâu ngày, nếu khi kinh-thành bị quân địch bao vây.

    Đức-Vua Cūḷanī Brahmadatta Chiếm 101 Kinh-Thành

    Thực hiện theo kế sách mà vị quân-sư Kevaṭṭa tâu, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thân chinh dẫn đầu các đoàn binh đến vây hãm kinh-thành của nước nhỏ, còn quân-sư Kevaṭṭa làm sứ giả vào trong kinh-thành để thuyết phục Đức-vua nước ấy chịu thần phục Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Sau đó, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự vào kinh- thành nước ấy, rồi tấn phong Đức-vua nước ấy trở lại làm Đức-vua chư hầu của mình, và sát nhập các đoàn binh của nước ấy tăng cường vào các đoàn binh của Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Và cũng theo kế sách ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta cùng với Đức-vua chư hầu ngự đi dẫn đầu các đoàn binh đã được tăng cường, kéo đến vây hãm kinh- thành của nước khác, buộc Đức-vua nước ấy cũng phải chịu thần phục Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, rồi trở thành Đức-vua chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Tiếp tục theo kế sách vây hãm kinh-thành của các nước làm cho các Đức-vua của các nước ấy buộc phải thần phục, trong suốt thời gian bảy năm bảy tháng bảy ngày, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đã thu phục được 101 kinh-thành, có được 101 Đức-vua chư hầu, làm tăng cường lực lượng các đoàn binh rất hùng mạnh chưa từng có với số lượng 18 akkhobhiṇī(2), nhưng chỉ còn kinh- thành Mithilā của Đức-vua Vedeha, đất nước Videharaṭṭha chưa chiếm được mà thôi.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita thường nhận được tin tức từ những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng gửi về báo cho biết suốt cuộc hành trình của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thu phục được các kinh- thành, Đức-vua của nước ấy trở thành Đức-vua chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Sau khi đã thu phục 101 kinh-thành, có được 101 Đức-vua chư hầu, có các đoàn binh hùng mạnh như vậy, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức- vua chư hầu dự định thân chinh dẫn đầu các đoàn binh đến vây hãm kinh-thành Mithilā, để bắt buộc Đức-vua Vedeha phải chịu thần phục.

    Những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha gửi tin về báo cho quan Thừa-tướng biết rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta dự định đem các đoàn binh đến vây hãm kinh-thành Mithilā, để bắt buộc Đức- vua Vedeha phải chịu thần phục. Kính báo tin trình cho quan Thừa-tướng biết.”

    Biết được ý định của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ thân chinh dẫn đầu các đoàn binh đến vây hãm kinh- thành Mithilā, vị quân-sư Kevaṭṭa đến chầu Đức-vua tâu khuyên can rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, kính xin Chúa-thượng không nên đem các đoàn binh vây hãm kinh-thành Mithilā, bởi vì trong kinh-thành Mithilā có vị Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita có trí-tuệ siêu-việt, có nhiều mưu kế khôn cùng. Vả lại, xung quanh kinh-thành Mithilā được bảo vệ rất kiên cố vững chắc, các đoàn quân không dễ gì xâm nhập vào bên trong kinh-thành được.

    - Tâu Chúa-thượng, Chúa-thượng đã chiếm 101 kinh- thành, đã có 101 Đức-vua chư hầu, Chúa-thượng là một Đại-vương cao cả nhất trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, còn kinh-thành Mithilā, đất nước Videharaṭṭha nhỏ bé, có đáng gì đâu mà Chúa-thượng quan tâm đến.

    Vậy, kính xin Chúa-thượng ngự dẫn đầu các đoàn binh trở về kinh-thành Uttarapañcāla nghỉ ngơi.

    Nghe lời khuyên can của quân-sư Kevaṭṭa, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu ngự dẫn đầu các đoàn binh trở về kinh-thành Uttarapañcāla.

    Khi ấy, những người lính điệp viên gửi tin báo cho quan Thừa-tướng biết rằng:

    “Nghe lời khuyên can của vị quân-sư Kevaṭṭa, Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Vua chư hầu hồi cung ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla.”

    Nhận được tin của điệp viên ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita truyền lệnh rằng:

    “Các ngươi hãy nên theo dõi hành vi của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.”

    Một hôm, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền gọi quân-sư Kevaṭṭa đến bèn truyền hỏi rằng:

    -Thưa quân-sư Kevaṭṭa, bây giờ Trẫm nên làm gì nữa?

    Âm Mưu Sát Hại 101 Vua Chư Hầu

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi, vị quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, xin Chúa-thượng truyền lệnh cho tổ chức đại lễ, uống rượu ăn mừng chiến thắng tại vườn thượng uyển, để Chúa-thượng trở thành Đại-vương cao cả nhất, làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ truyền lệnh trang hoàng vườn thượng uyển, chuẩn bị hằng trăm, hằng ngàn hũ rượu ngon và các món ăn có vị ngon lành.

    Những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha gửi tin báo cho quan Thừa-tướng biết rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh các quan tổ chức đại lễ, uống rượu ăn mừng chiến thắng tại vườn thượng uyển”. (Nhưng họ hoàn tòan không hay biết các hũ rượu và các món ăn dành cho 101 Đức-vua chư hầu có trộn thuốc độc, để đầu độc các Đức-vua chư hầu tại nơi ấy.)

    Nhận được tin báo từ những lính điệp viên như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita gửi tin cho họ rằng: “Các ngươi hãy báo tin cho ta biết rõ chính xác ngày đại lễ, uống rượu ăn mừng chiến thắng.”

    Lính điệp viên nghiêm chỉnh thi hành theo lệnh của quan Thừa-tướng. Khi ấy, Quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita nghĩ rằng:

    “Khi có ta là Mahosadhapaṇḍita thì không bao giờ để cho 101 Đức-vua phải bị băng hà theo mưu kế của quân- sư Kevaṭṭa. Ta sẽ cứu sống 101 Đức-vua ấy.”

    Nghĩ xong, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cho gọi nhóm bạn 1.000 chiến sĩ anh hùng đến bảo rằng:

    - Này các bạn thân mến! Nghe tin báo rằng: “Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh trang hoàng vườn thượng uyển, để tổ chức đại lễ, uống rượu ăn mừng chiến thắng.”

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh cho mời 101 Đức-vua chư hầu đến dự đại lễ ăn mừng chiến thắng ấy.

    Vậy, các ngươi hãy đến tại vườn thượng uyển ấy trước một ngày, làm bộ tranh giành chỗ ngồi của Đức- vua của mình. Như vậy, cuộc tranh cãi sẽ xảy ra, nhân dịp ấy, các ngươi hãy dùng cây đập bể các hũ rượu dành cho 101 Vua chư hầu và đổ bỏ các món ăn hết thảy.

    Hoàn thành xong nhiệm vụ, các người la hét lên rằng: “Chúng tôi là lính của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita, kinh-thành Mithilā, đất nước Videharaṭṭha”, rồi các ngươi hãy mau trở về.

    Nghe theo lời khuyên bảo của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, nhóm bạn 1.000 chiến sĩ anh hùng mang theo đủ năm thứ khí giới rời khỏi kinh-thành Mithilā tiến thẳng nhanh đến vườn thượng uyển của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Khi xâm nhập vào vườn thượng uyển, họ thấy khu vườn đã được trang hoàng lộng lẫy như vườn Nandavana của Đức-vua trời. Có ngai vàng cao, có lọng trắng của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nằm ngay ở giữa, dọc theo hai bên, có 101 ngai vàng thấp cũng có lọng trắng, trước mỗi ngai vàng có hũ rượu và các món đồ ăn đã được bày ra sẵn sàng, chờ đợi đến giờ Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta cùng 101 Đức-vua chư hầu ngự đến tham dự lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng.

    Thi hành nhiệm vụ đúng theo mưu kế của quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita, nhóm 1.000 chiến sĩ anh hùng tranh cãi với lính làm phận sự tại vườn thượng uyển, nhân cơ hội ấy, họ đập bể các hũ rượu và đổ bỏ tất cả các món đồ ăn, rồi họ la lớn lên rằng:

    “Chúng ta là lính của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita từ kinh-thành Mithilā, đất nước Videharaṭṭha đến đây phá hoại buổi đại lễ ăn mừng chiến thắng của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.”

    Nhóm 1.000 chiến sĩ anh hùng rút lui lẹ làng trở về kinh-thành Mithilā được an toàn. Nhóm lính nhân viên làm phận sự tổ chức đại lễ ăn mừng chiến thắng vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, nhóm lính của quan Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita từ kinh-thành Mithilā, đất nước Videha- raṭṭha, xâm nhập vào vườn thượng uyển gây gổ với lính làm nhiệm vụ trong vườn thượng uyển, rồi đập bể các hũ rượu và đổ bỏ các món ăn cả thảy, rồi rút đi về rồi.

    Nghe những người lính tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nổi cơn phẫn nộ trước hành động phá hoại của nhóm lính của quan Thừa-tướng Mahosadha, bởi vì, họ không chỉ phá hoại đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng, mà sự thật còn phá kế sách của quân-sư Kevaṭṭa đầu độc 101 Vua chư hầu băng hà trong ngày hôm ấy.

    101 Vua chư hầu không biết mưu kế ấy nên cũng nổi cơn thịnh nộ rằng:

    “Bọn lính của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita từ kinh-thành Mithilā đến phá hoại không cho chúng ta uống rượu ăn mừng chiến thắng.”

    Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền gọi 101 Đức-vua chư hầu rồi truyền lệnh rằng:

    - Này chư Đức-vua! Chúng ta sẽ dẫn đầu các đoàn binh hùng mạnh đến xâm nhập kinh-thành Mithilā, bắt Đức-vua V edeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, rồi chúng ta sẽ tổ chức đại lễ, uống rượu, ăn mừng chiến thắng hoàn tòan.

    Vậy, chư Đức-vua hãy chuẩn bị chờ lệnh Quả-nhân. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền gọi vị quân-sư Kevaṭṭa đến nơi kín đáo, truyền bảo rằng:

    - Thưa quân-sư, Trẫm cùng với 101 Đức-vua chư hầu thân chinh dẫn đầu các đoàn binh hùng mạnh, gồm có 18 akkhobhiṇī quân đến vây hãm kinh-thành Mithilā, phá thành trì xâm nhập vào cung điện bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, để trị tội phá hoại đại lễ của chúng ta, Trẫm xin mời quân-sư cùng đi với Trẫm.

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta quyết tâm như vậy, quân-sư Kevaṭṭa xét thấy dù có bao nhiêu đoàn binh hùng mạnh đến đâu đi nữa cũng vẫn không thể thắng được vị Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita. Cho nên, ông tìm cách khuyên can Đức-vua thay đổi ý định, quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, nhóm lính xâm nhập vườn thượng uyển, gây gổ, đập bể những hũ rượu và đổ bỏ các món đồ ăn, cốt để phá hoại đại lễ. Đó chắc chắn là nhóm chiến sĩ anh hùng của Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita, họ mới dám làm chuyện phi thường như vậy. Đức-vua Vedeha không liên can đến chuyện phá hoại này.

    - Tâu Chúa-thượng, kinh-thành Mithilā được Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita cho bảo vệ an toàn, chắc chắn không có một đội quân nào có khả năng xâm nhập vào bên trong kinh-thành được.

    Nếu Chúa-thượng đem các đoàn binh đến vây hãm kinh-thành Mithilā mà không xâm nhập vào bên trong kinh-thành được thì chỉ làm cho chúng ta bị xấu hổ mà thôi. Vì vậy, kính xin Chúa-thượng bỏ ý định đem các đoàn binh đến bao vây kinh-thành Mithilā. Đó là điều hay nhất.

    Tuy quân-sư Kevaṭṭa khuyên can như vậy, nhưng Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ỷ lại vào sức mạnh của các đoàn binh và tính ngã mạn của một Đại-vương nước lớn, nên không chịu bỏ ý định ban đầu, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita dù có trí-tuệ đến đâu cũng vẫn không thể chống đỡ nổi sức mạnh phi thường các đoàn binh của Trẫm được!

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu ngự dẫn đầu các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī quân đến vây hãm xung quanh kinh-thành Mithilā. Quân-sư Kevaṭṭa không khuyên can được Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta, cũng không dám trái ý của Đức-vua, nên cũng đi theo hộ giá Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Khi ấy, những người lính điệp viên của quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita gửi tin báo cho quan Thừa- tướng biết rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu ngự dẫn đầu các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī quân đến vây hãm kinh-thành Mithilā. Kính xin báo tin cho quan Thừa-tướng biết.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng các đoàn quân đến mỗi chặng đường, thì lính điệp viên đều báo tin về cho quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita biết rõ cuộc hành trình tiến quân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Khi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự cầm đầu các đoàn binh đến gần kinh-thành Mithilā, quân lính triều đình đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu ngự dẫn đầu các đoàn binh đông đảo không sao đếm được như đoàn tượng binh, đoàn mã binh, đoàn quân xa, đoàn bộ binh, ... đến bao vây xung quanh kinh-thành Mithilā rộng bảy do tuần.

    Bốn vị quân-sư: quân-sư Senaka, quân-sư Pukkusa, quân-sư Kāminda và quân-sư Devinda cũng vào chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu ngự dẫn đầu các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī quân đến bao vây xung quanh kinh- thành Mithilā.

    Vậy, sinh-mạng của Bệ-hạ và sinh-mạng của các hạ thần cùng dân chúng trong kinh-thành Mithilā khó thoát khỏi cái chết.

    Được tin lính điệp viên báo cho biết Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu truyền lệnh 18 akkhobhiṇī quân bao vây xung quanh kinh-thành Mithilā, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho các quân lính đóng chặt bốn cửa thành, giữ gìn, bảo vệ kinh-thành cho được an toàn.

    Sau đó, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đến chầu Đức-vua Vedeha. Nhìn thấy quan Thừa-tướng đến hầu, Đức-vua rất vui mừng, truyền bảo rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadha yêu quý! Con đến thật đúng lúc, Phụ-vương đang khổ tâm vì hoảng sợ, Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu đem các đoàn binh hùng mạnh gồm có 18 akkhobhiṇī quân bao vây hãm kinh-thành Mithilā này ba vòng kín.

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita! Con là bậc đại- thiện-trí có trí-tuệ siêu-việt, không một ai sánh được. Con có kế sách nào để cứu giúp cho Phụ-vương, các vương gia, các quan trong triều đình và tòan thể dân chúng trong kinh-thành Mithilā này được an toàn sinh- mạng hay không?

    Nghe Đức-vua Vedeha hoảng sợ truyền bảo như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Vedeha sợ chết quá! Thầy thuốc giỏi có thuốc hay là nơi nương nhờ của bệnh nhân, vật thực là nhu yếu phẩm cho người đang đói, nước là thứ thiết yếu cho người đang khát.

    Ngoài ta ra, không có ai là nơi nương nhờ của Đức- vua Vedeha và của tất cả những người khác trong kinh- thành Mithilā này.

    Vậy, ta nên tâu lời an ủi để làm Đức-vua Vedeha an tâm”, nên tâu rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, kính xin Đức Phụ-vương không nên hoảng sợ. Xin Đức Phụ-vương an hưởng mọi sự an-lạc trên ngai vàng. Con sẽ làm cho các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī quân bỏ chạy, ví như người ném cục đất làm cho đàn quạ bay đi.

    Nghe hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức- vua Vedeha an tâm. Quan Thừa-tướng đảnh lễ Đức-vua, rồi xin phép lui ra ngoài.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho các lính thông báo cho tòan thể dân chúng trong kinh- thành Mithilā rằng:

    - Hỡi tòan thể dân chúng trong kinh-thành! Quan Thừa-tướng khuyên rằng: “Tất cả mọi người không nên lo sợ gì cả. Hãy mở hội lớn vui chơi bảy ngày, mọi người nên trang điểm đẹp đẽ, hãy đánh đàn, thổi kèn, ca hát, nhảy múa, vui chơi, vỗ tay, reo hò. Mọi người đều được ăn uống ngon lành no đủ tại mỗi trại lớn.”

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho các lính đem cung cấp đầy đủ những đồ ăn thức uống, vật thơm, vật thoa cho mỗi trại, để cho mọi người đều được ăn uống no đủ, vui chơi thoả thích. Tất cả mọi người trong kinh-thành từng đoàn, từng đoàn đờn ca, nhảy múa, vỗ tay, reo hò, âm thanh vang ra bên ngoài thành.

    Dân chúng ở bên ngoài thành kéo nhau vào nội thành bằng con đường nhỏ có lính kiểm soát, để thưởng thức các món ăn thức uống vui chơi. Trong số dân chúng vào nội thành ấy, có số lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. Dù lính canh gác kiểm soát của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita biết lính của kẻ thù, nhưng vẫn cho ra vào tự do như những người dân ngoại thành trong đất nước Videharaṭṭha.

    Bên ngoài thành, nghe được âm thanh tiếng đàn, tiếng kèn, tiếng ca hát, tiếng reo hò từ trong thành vang dội ra, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi các quan rằng:

    - Này các khanh! Chúng ta vây hãm kinh-thành với các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī quân như thế này, tại sao dân chúng trong kinh-thành không biết sợ, không biết lo lắng gì cả mà chỉ biết vui chơi, đàn ca, múa hát, vỗ tay, reo hò như vậy?

    Người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita tâu dối với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, một số lính của ta len lỏi theo đám dân chúng ngoại thành vào trong nội thành bằng con đường nhỏ, thấy dân chúng vui chơi, ca hát, nhảy múa, ăn uống no đủ, mới hỏi họ rằng:

    - Này các ngươi! Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu trong cõi Nam-thiện-bộ-châu hỗ trợ, đem các đoàn quân đông đảo gồm có 18 akkhobhiṇī quân vây hãm xung quanh kinh-thành Mithilā này của các ngươi. Tại sao các ngươi dể duôi, ham vui chơi, không biết lo sợ vậy?

    Dân chúng trong nội thành trả lời rằng:

    - Này ông! Ông không biết hay sao! Đức-vua Vedeha của chúng tôi, khi còn trẻ tuổi, lên ngôi vua có mơ ước rằng: “Khi nào các Đức-vua trong cõi Nam-thiện-bộ- châu này đến bao vây kinh-thành Mithilā của chúng ta, khi ấy, Đức-vua của chúng tôi sẽ cho phép dân chúng ăn uống, vui chơi, ca hát, nhảy múa suốt bảy ngày đêm.”

    Hôm nay, điều mơ ước ấy đã trở thành hiện thực. Cho nên, Đức-vua truyền lệnh cho phép dân chúng trong kinh-thành được phép ăn uống no đủ, vui chơi, đờn kèn, ca hát, nhảy múa, reo hò suốt bảy ngày đêm.

    Nghe lời tâu dối của người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta nổi cơn thịnh nộ, truyền lệnh các đoàn binh rằng:

    - Này các tướng sĩ anh dũng! Các ngươi hãy mau tiến quân vào phá thành trì, xâm nhập vào bên trong kinh- thành giết sạch dân chúng trong kinh-thành, bắt Vua Vedeha và quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem ra nạp cho Trẫm, để Trẫm trị tội.

    Tuân lệnh của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, các đoàn quân anh dũng tiến vào, vất vả lắm mới vượt qua được đường nước thứ nhất đầy cá sấu nguy hiểm, đến đường nước đầy sình lầy thứ nhì đầy cá sấu rất nguy hiểm hơn nữa, đến đường nước thứ ba đầy chông gai và cá sấu, họ vất vả khó khăn lắm mới vượt qua ba đường nước xung quanh bên ngoài thành.

    Tiến gần đến tầm mũi tên cách thành trì kiên cố, vững chắc, những người lính của quan Thừa-tướng Maho- sadha đứng trên thành, ném đá, bắn tên xuống làm cho quân lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bị thương vong rất nhiều, không có cách nào tiến gần đến thành trì được, nên đành phải rút lui một cách vất vả cũng như khi tiến vào. Đoàn quân anh dũng ấy tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, xung quanh thành trì có ba đường nước sình lầy có nhiều cá sấu rất nguy hiểm, làm cho các đoàn quân của chúng ta bị chết và bị thương nhiều. Khi đã vượt qua được ba đường nước ấy, đến gần tầm mũi tên cách thành trì kiên cố, các đoàn quân anh dũng của chúng ta bị lính trên thành ném đá, bắn tên xuống làm cho các đoàn quân anh dũng của chúng ta bị thương vong rất nhiều. Các đoàn quân của chúng ta không có cách nào tiến gần đến thành trì được, nên đành phải rút lui cũng vất vả khó khăn như khi tiến vào.

    Nghe tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đóng quân bên ngoài kinh-thành 4-5 ngày đêm, mà không tìm ra phương kế nào để xâm nhập vào bên trong kinh-thành Mithilā được. Đức-vua truyền hỏi quân-sư Kevaṭṭa rằng:

    - Thưa quân-sư, đoàn quân anh dũng của chúng ta không thể nào đến gần chân thành trì được.

    Vậy, quân-sư có phương kế nào để cho đoàn quân anh dũng của chúng ta xâm nhập vào bên trong kinh- thành được?

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, nước uống, nước dùng hằng ngày của mọi người dân bên trong kinh-thành được lấy từ bên ngoài kinh-thành. Khi dân chúng trong kinh-thành thiếu nước, họ phải mở cửa thành để đi lấy nước.

    Khi ấy, các đoàn quân anh dũng của chúng ta sẽ xâm nhập vào kinh-thành bằng cánh cửa ấy. Vì vậy, chúng ta chờ dân chúng trong kinh-thành thiếu nước vậy.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cho là hợp lý. Đức-vua truyền lệnh cấm không cho ai đem nước vào trong kinh-thành.

    Lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita viết thư cột trên đầu mũi tên, lén bắn vào bên trong kinh-thành.

    Quan Thừa-tướng ra lệnh lính đi tuần, nếu nhìn thấy giấy trên đầu mũi tên thì đem vào trình cho quan Thừa- tướng biết ngay. Lính đi tuần nhặt được giấy trên đầu mũi tên, đem vào trình cho quan Thừa-tướng.

    Đọc tờ giấy, biết như vậy, quan Thừa-tướng nghĩ rằng: “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thật là không biết ta là Mahosadhapaṇḍita!”, rồi quan Thừa-tướng ra lệnh cho lính dẫn nước xuống chỗ trũng rồi trồng cây bông sen trắng do một đạo-sĩ đem từ hồ nước lớn gần núi Himavanta. Do oai lực của quan Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita cây bông sen trắng lớn nhanh.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cắt cọng bông sen trắng ném ra bên ngoài thành, để cho nhóm lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhặt được.

    Một người lính điệp viên của của quan Thừa-tướng đem cọng bông sen trắng đến trình lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương xem cọng bông sen trắng dài chưa từng thấy như thế này.

    - Này các khanh! Cọng bông sen trắng này dài bao nhiêu vậy?

    Người lính điệp viên ấy đo cọng bông sen trắng ấy dài 60 cùi tay, nhưng tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là dài 80 cùi tay. Đức-vua truyền hỏi:

    - Này các khanh! Các khanh có được cọng bông sen trắng này từ đâu vậy?

    - Tâu Đại-vương, chúng thần nhặt được cọng bông sen trắng này từ bên trong kinh-thành ném ra ngoài.

    - Tâu Đại-vương, một hôm, hạ thần xen lẫn trong đám dân chúng vào bên trong kinh-thành ăn uống, vui chơi với họ, hạ thần nhìn thấy một hồ nước rộng lớn. Nghe người ta nói hồ nước sâu hơn 100 cùi tay, trong hồ có nhiều loại hoa sen.

    - Tâu Đại-vương, trong kinh-thành có nhiều hồ nước rộng lớn sâu như vậy. Những hồ nước này để cho dân chúng trong nội thành dùng để ăn uống hằng ngày.

    Nghe người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo quân-sư Kevaṭṭa rằng:

    - Thưa quân-sư, các đoàn quân anh dũng của chúng ta sẽ xâm nhập vào bên trong kinh-thành Mithilā bằng cách chờ dân chúng thiếu nước, mở cửa thành ra lấy nước uống, nước dùng. Đó là cách vô vọng, bởi vì trong kinh-thành có rất nhiều hồ nước lớn và sâu.

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, thóc gạo là nhu yếu phẩm cần thiết cho sự sống mà dân chúng bên trong kinh-thành sống nhờ thóc gạo từ bên ngoại thành đem vào. Đến khi thóc gạo trong kinh-thành hết thì dân chúng bên trong kinh-thành phải mở cửa thành đi ra lấy thóc gạo.

    Khi ấy, các đoàn quân anh dũng của chúng ta sẽ xâm nhập vào bằng cửa thành ấy. Vì vậy, chúng ta chờ bên trong kinh-thành hết thóc gạo vậy.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghe hợp lý, rồi truyền lệnh cấm dân chúng đem gạo vào bên trong kinh-thành Mithilā.

    Lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita viết thư cột vào mũi tên lén bắn vào bên trong kinh-thành báo tin cho quan Thừa-tướng biết như vậy.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho lính đem bùn đắp trên bờ quanh thành rồi gieo lúa. Do oai lực của quan Thừa-tướng, cây lúa lên cao, xanh rờn quanh trên bờ thành. Nhìn thấy trên bờ thành có màu xanh rờn, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi rằng:

    - Này các khanh! Trên bờ quanh thành có đám cỏ gì màu xanh rờn vậy?

    Người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, nghe nói rằng Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita có trí-tuệ siêu-việt, thấy rõ, biết rõ những sự việc trong quá-khứ, trong hiện-tại và những sự việc sẽ xảy ra trong vị-lai. Biết trong thời vị-lai sẽ có xảy ra sự việc các đoàn quân các nước ngoài đến bao vây kinh- thành Mithilā. Cho nên, quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita làm nhiều kho thóc gạo lớn, đem thóc gạo từ bốn vùng lúa mạch của bốn hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc về chất đầy các kho lớn, phần còn dư đem đổ trên bờ thành, nên đám lúa mọc xanh rờn như vậy.

    Một hôm, hạ thần đi theo dân chúng vào bên trong kinh-thành bằng con đường nhỏ, hạ thần đứng nhìn kho thóc gạo lớn, người ta mời hạ thần:

    “- Này bạn! Bạn có cần thóc gạo bao nhiêu, mời bạn lấy đem về cho gia đình”.

    Nghe người lính điệp viên của quan Thừa-tướng tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo với quân-sư Kevaṭṭa rằng:

    - Thưa quân-sư, các quân anh dũng của chúng ta sẽ xâm nhập vào trong kinh-thành Mithilā bằng cách chờ bên trong kinh-thành hết thóc gạo. Đó là cách vô vọng, bởi vì trong kinh-thành có nhiều kho thóc lúa đầy đủ.

    Vậy quân-sư còn có cách nào nữa?

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, dân chúng nấu nướng các món ăn thức uống đều phải dùng đến củi, mà dân chúng bên trong kinh-thành phải lấy củi từ bên ngoài thành đem vào. Đến khi hết củi dân chúng bên trong kinh-thành phải mở cửa thành ra lấy củi.

    Khi ấy, các đoàn quân anh dũng của chúng ta sẽ xâm nhập vào bên trong kinh-thành bằng cửa thành ấy. Vì vậy, chúng ta chờ bên trong kinh-thành hết củi vậy.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cho là hợp lý, nên truyền lệnh cấm không cho một ai đem củi vào trong kinh-thành Mithilā.

    Người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita viết thư cột vào mũi tên lén bắn vào trong kinh-thành, báo tin cho quan Thừa-tướng biết như vậy.

    Nhận được tin báo của người lính điệp viên, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho lính đứng trên thành ném củi ra cho lính đang vây quanh thành la lớn rằng:

    - Này các bạn! Các bạn hãy lấy củi đem nấu nướng các món ăn thức uống thoải mái, chúng tôi có nhiều củi.

    Những người lính trên thành ném củi ra ngoài, chất thành một đống cao lớn, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đi quan sát, nhìn thấy đống củi cao lớn ấy bèn truyền hỏi rằng:

    - Này các khanh! Các khanh lấy củi từ đâu mà chất thành đống cao lớn như vậy?

    Người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosatha- paṇḍita theo hộ giá Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, đống củi này từ những người lính của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đứng trên thành ném ra cho lính của Đại-vương để nấu nướng đồ ăn thức uống.

    - Tâu Đại-vương, nghe nói Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita có trí-tuệ siêu-việt, thấy xa, biết rộng, biết rõ rằng trong thời vị-lai, kinh-thành Mithilā này sẽ bị quân các nước đến bao vây. Cho nên, Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita cho đào các hồ nước lớn và sâu để chứa nước, cho xây dựng các kho chứa thóc gạo đầy đủ, chuẩn bị những nhu yếu phẩm cần thiết đầy đủ cho dân chúng, củi chất thành đống lớn xung quanh thành, v.v... để cho tòan thể dân chúng bên trong kinh-thành Mithilā có thể sống tự túc thời gian lâu dài, mà không cần bên ngoại thành cung cấp.

    Nghe người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo quân-sư Kevaṭṭa rằng:

    - Này quân-sư, các đoàn quân anh dũng của chúng ta không thể xâm nhập vào trong kinh-thành bằng cách chờ bên trong kinh-thành hết củi nấu nướng, bởi vì củi dự trữ trong kinh-thành nhiều đến nỗi lính trong thành ném ra cho chúng ta đống củi lớn như thế này.

    Vậy, quân-sư còn có cách nào nữa không?

    - Tâu Chúa-thượng, Chúa-thượng chớ nên lo lắng, hạ thần còn có cách khác nữa.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Trẫm thấy cách nào của quân-sư cũng đều vô vọng cả. Nếu chúng ta không thể xâm nhập vào bên trong kinh-thành Mithilā này được thì chúng ta chỉ có cách dẫn các đoàn binh trở về nước mà thôi.

    Khi ấy, quân-sư Kevaṭṭa cảm thấy tự ái, xấu hổ, vì bị Đức-vua xem ông là kẻ bất tài nên nghĩ: “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu dẫn các đoàn binh hùng mạnh gồm có 18 akkhobhiṇī quân vây hãm xung quanh kinh-thành Mithilā này ba vòng. Kinh-thành Mithilā chỉ là một kinh-thành của nước nhỏ mà tại sao các đoàn quân anh dũng của chúng ta không thể xâm nhập vào bên trong được, bởi vì trong kinh- thành ấy có Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Mahosadhapaṇḍita là bậc đại trí, thì ta cũng là bậc đại trí.”

    Dhammayuddha: Trận Đấu-Pháp

    Nghĩ xong, quân-sư Kevaṭṭa tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, hạ thần sẽ bày ra mưu kế đấu nhau bằng Dhammayuddha: Trận Đấu-Pháp.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi quân-sư Kevaṭṭa rằng:

    - Này quân-sư, Dhammayuddha: Trận-Đấu-Pháp là thế nào?

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, Dhammayuddha: Trận Đấu-Pháp là đấu tài trí giữa hai bậc đại-trí với nhau, nghĩa là chỉ có hai bậc đại-trí sử dụng tài trí mưu kế đấu với nhau mà thôi.

    Một bậc đại-trí của nước bên này đấu trí với một bậc đại-trí của nước kia. Trên đấu trường chỉ có hai bậc đại- trí mà thôi.

    Trong hai bậc đại-trí ấy, nếu bậc đại-trí của nước nào cúi đầu đảnh lễ bậc đại-trí của nước kia, thì nước ấy coi như đã bị thua, còn nước kia coi như đã thắng. Nước thắng sẽ chiếm lấy nước thua.

    - Tâu Chúa-thượng, như vậy, gọi là Dhammayuddha: Trận Đấu-Pháp giữa hai bậc đại-trí với nhau, không sử dụng đến binh hùng tướng mạnh.

    - Tâu Chúa-thượng, trong Trận Đấu-Pháp này, kẻ hạ thần ở thế thượng phong, bởi vì hạ thần là người lớn tuổi, còn Thừa-tướng Mahosadha còn trẻ tuổi hơn hạ thần. Cho nên, khi gặp hạ thần, Thừa-tướng Mahosadha sẽ cúi đầu đảnh lễ dưới đôi bàn chân của hạ thần.

    Ngay khi ấy, hạ thần sẽ lớn tiếng dõng dạc tuyên bố cho toàn thể các Đức-vua, các đoàn binh của hai nước biết rằng: “Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita của Đức-vua Vedeha đất nước Videha đã bị thua, còn quân- sư Kevaṭṭa của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đất nước Kapilaraṭṭha đã thắng.”

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu giải thích rõ như vậy, Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ, tán dương rằng:

    - Này quân-sư, Dhammayuddha: Trận Đấu-Pháp này thật là diệu kế.

    Người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha viết thư cột trên đầu mũi tên lén bắn vào bên trong kinh- thành, để báo tin cho quan Thừa-tướng biết rõ Dhamma- yuddha: Trận Đấu-Pháp mà quân-sư Kevaṭṭa bày ra.

    Nhận được tin của lính điệp viên, quan Thừa-tướng nghĩ rằng: “Nếu ta thua quân-sư Kevaṭṭa thì ta đâu phải là Mahosadhapaṇḍita.”

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền viết tối hậu thư gửi đến Đức-vua Vedeha rằng:

    “Bổn Vương xin thông báo cho Đức-vua Vedeha được rõ: “Ngày mai, Trận Đấu-Pháp: Dhammayuddha sẽ diễn ra giữa hai bậc đại-trí của hai nước:

    - Nước Kapilaraṭṭha của bổn vương sẽ đề cử một bậc đại-trí.

    - Nước Videharaṭṭha của Đức-vua Vedeha cũng đề cử một bậc đại trí.

    *Nếu bậc đại-trí của nước nào thắng thì nước ấy thắng. * Nếu bậc đại-trí của nước nào thua thì nước ấy thua. Nước thắng chiếm lấy nước thua.”

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền một vị quan làm sứ giả đem tối hậu thư đến trình Đức-vua Vedeha trong kinh-thành Mithilā, nước Videharaṭṭha.

    Nhận được tối hậu thư của Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta, Đức-vua Vedeha truyền gọi quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đến, để cho biết nội dung tối hậu thư ấy, quan Thừa-tướng tâu rằng:

    - Tâu Hoàng-thượng, hay lắm! Kính xin Hoàng- thượng trả lời tối hậu thư rằng:

    “Tâu Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta, Bổn vương chấp thuận Trận Đấu-Pháp: Dhammayuddha này.”

    Dân chúng trong kinh-thành Mithilā sẽ xây dựng một đấu trường tại cửa thành hướng Tây. Kính xin mời Đại- vương cùng 101 Đức-vua chư hầu, các đoàn quân đến chứng kiến gần chỗ đấu trường vào ngày mai.”

    Viết bức thư theo lời tâu trình của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita xong, Đức-vua Vedeha đóng dấu ấn, rồi trao cho sứ giả của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đem về trình tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta của họ.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho dân chúng xây dựng một đấu trường tại cửa thành hướng Tây. Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Chắc chắn quân-sư Kevaṭṭa sẽ bị thua nhục nhã vào ngày mai.”

    Sáng ngày hôm ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Vua chư hầu ngự đến cửa thành hướng Tây, ngồi cách xa đấu trường, phía sau là các đoàn quân đứng chỉnh tề. Tất cả Đức-vua cùng các quan, quân, tướng sĩ đứng chờ chứng kiến sự kiện quan trọng sẽ xảy ra tại trên đấu trường kia.

    * Quân-sư Kevaṭṭa trang phục chỉnh tề đến tại đấu trường sớm, ngồi chờ đợi Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    * Cũng sáng ngày hôm ấy, quan Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita thức dậy, tắm rửa sạch sẽ, ăn uống ngon lành, mặc bộ đồ triều phục sang trọng từ nước Kāsi giá 1.000 Kahāpana, trang điểm các đồ trang sức quý giá, ngồi trên chiếc xe ngựa báu sang trọng cùng với nhóm bạn hữu 1.000 chiến sĩ anh hùng vào chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, hạ thần xin phép đi đến đấu trường.

    Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Con cần đem theo thứ gì?

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, con xin phép đem theo viên ngọc maṇi báu để đánh lừa quân-sư Kevaṭṭa.

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Phụ- vương chấp thuận.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đón nhận viên ngọc maṇi báu, rồi đảnh lễ Đức-vua Vedeha, xin phép đi với nhóm bạn hữu 1.000 chiến sĩ anh hùng. Quan Thừa-tướng ngồi trên chiếc xe ngựa báu sang trọng giá 900 nghìn Kahāpana, đi thẳng ra cửa thành hướng Tây, cửa thành mở ra, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita xuất hiện như sư tử chúa cùng với đoàn tùy tùng đông đảo phía sau. Quan Thừa-tướng bước xuống xe, đi bộ đến nơi đấu trường với dáng đi như con sư tử chúa.

    Nhìn thấy quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu đều tán dương ca tụng rằng:

    - Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita có các tướng tốt của bậc đại-nhân mà không một ai trong cõi Nam- thiện-bộ-châu này sánh được.

    Quân-sư Kevaṭṭa đã ngồi chờ đợi quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tại nơi đấu trường, trời nắng nóng, mồ hôi chảy ra nhễ nhại và nghĩ rằng: “Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita sắp đến.”

    Nhìn thấy Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đi đến, bước lên đấu trường, quân-sư Kevaṭṭa liền đứng dậy đón tiếp quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita và nói rằng:

    - Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, cả hai chúng ta đều là bậc đại-trí. Khi tôi đã đến đất nước của Thừa-tướng lâu ngày rồi, mà Thừa-tướng không cho người đem quà gì tặng cho tôi cả, tại sao Thừa-tướng đối xử như vậy?

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đáp rằng:

    - Thưa quân-sư Kevaṭṭa, tôi đã biết quân-sư đến đất nước của tôi lâu ngày rồi, nhưng tôi tìm chưa được món quà xứng đáng để biếu quân-sư, mãi đến hôm nay mới tìm được viên ngọc maṇi báu này. Viên ngọc maṇi báu này không phải dễ có được.

    Nhìn thấy viên ngọc maṇi báu ấy sáng chói, thật là vô giá nằm trong tay của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita, quân-sư Kevaṭṭa nghĩ rằng:

    “Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita muốn biếu viên ngọc maṇi báu ấy cho ta”, nên quân-sư Kevaṭṭa ngửa hai bàn tay ra chờ đón nhận viên ngọc maṇi báu ấy.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nói rằng:

    - Xin quân-sư Kevaṭṭa vui lòng nhận viên ngọc maṇi báu này.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita buông thả mạnh viên ngọc maṇi báu ngay trên đầu ngón tay của quân-sư Kevaṭṭa, viên ngọc maṇi báu ấy nặng vừa chỉ đụng trên đầu ngón tay của quân-sư Kevaṭṭa mà thôi, quân-sư Kevaṭṭa không thể nắm được, nên viên ngọc maṇi báu liền rơi xuống đất gần hai bàn chân của quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita.

    * Với tâm tham muốn tối tăm quên mình, quân-sư Kevaṭṭa cúi rạp người xuống ngay hai bàn chân của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita để nhặt viên ngọc maṇi báu ấy.

    Ngay khi ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đưa một tay nắm cổ của quân-sư Kevaṭṭa đè cái mặt xuống đất rồi chà qua xát lại làm cho da mặt của quân- sư Kevaṭṭa trầy da, máu chảy ra đầy mặt, và một tay kia nắm chặt tấm choàng bào dở hỏng lên mặt đất, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nói giọng lớn, vang dội ra khoảng không gian rộng lớn rằng:

    - Này quân-sư Kevaṭṭa! Quân-sư không nên đảnh lễ tôi.

    - Này quân-sư Kevaṭṭa! Quân-sư hãy đứng lên, tôi còn nhỏ tuổi đáng con cháu của quân-sư. Quân-sư không nên đảnh lễ tôi.

    Tất cả mọi người gần xa đều nghe rõ tiếng nói của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita như vậy, cho nên, nhóm 1.000 chiến sĩ anh hùng, bạn hữu của bậc đại-trí reo hò, la lớn lên rằng:

    - Quân-sư Kevaṭṭa đảnh lễ dưới đôi bàn chân của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Tiếng vang dội ra khắp mọi nơi, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngồi chứng kiến, thấy quân-sư Kevaṭṭa cúi đầu đảnh lễ dưới đôi bàn chân của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, còn nghe rõ tiếng nói của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita như vậy, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng:

    “Quân-sư Kevaṭṭa của ta đã đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Thừa-tướng Mahosadha. Như vậy, Trận Đấu- Pháp: Dhammayuddha này, quân-sư Kevaṭṭa của ta đã bị thua rồi. Còn Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đã thắng rồi, chắc chắn họ sẽ không tha mạng sống của ta.

    Nghĩ vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta lên ngựa báu của mình chạy thoát thân, trở về kinh-thành Uttara- pañcāla. Còn 101 Đức-vua chư hầu cũng nhìn thấy quân-sư Kevaṭṭa đảnh lễ dưới đôi bàn chân của quan Thừa-tướng Mahosadha và nhìn thấy Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đã lên ngựa báu chạy thoát thân, nên 101 Đức-vua chư hầu cũng lên ngựa của mình chạy theo, các đoàn binh đông đảo của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta hỗn quân, hỗn quan, cũng tìm cách chạy thoát thân.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita buông thả, xô đẩy quân-sư Kevaṭṭa ra xa, trên gương mặt của quân-sư bị trầy trụa máu tươm từ trán, lỗ mũi, hai gò má, miệng, cằm. Quân-sư Kevaṭṭa ngồi dậy, lau mặt đầy máu, nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita bảo rằng:

    - Này kẻ si-mê! Ngươi đừng hòng thấy ta đảnh lễ ngươi!

    * Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita bảo lính của mình nhặt viên ngọc maṇi báu trao lại cho quan Thừa- tướng rồi lên xe ngựa báu, dẫn đầu nhóm bạn hữu 1.000 chiến sĩ anh hùng trở vào kinh-thành Mithilā.

    * Quân-sư Kevaṭṭa cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, đau khổ về thể xác lẫn tâm hồn, đi thất tha thất thểu, lên ngựa đuổi theo sau các đoàn quân. Quân-sư Kevaṭṭa bị những người lính khinh thường, mắng nhiếc thậm tệ.

    Quân-sư Kevaṭṭa gặp lại Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101 Đức-vua chư hầu, tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, hạ thần không phải đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, mà sự thật quan Thừa-tướng lừa hạ thần bằng cách đánh rơi viên ngọc maṇi báu xuống tại chỗ hai bàn chân của quan Thừa-tướng. Khi hạ thần cúi đầu xuống để nhặt viên ngọc maṇi báu ấy, thì hạ thần bị quan Thừa-tướng đè cái đầu sát mặt đất, rồi chà qua xát lại cái mặt của hạ thần bị trầy trụa, máu chảy tươm đầy mặt như thế này.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi rằng:

    - Thưa quân-sư Kevaṭṭa, bây giờ Trẫm nên làm thế nào?

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Thưa Chúa-thượng, bây giờ Chúa-thượng nên kéo quân lại bao vây kinh-thành Mithilā, cấm không cho dân chúng bên ngoài thành ra vào bên trong kinh-thành bằng con đường nhỏ nữa. Dân chúng bên trong kinh- thành Mithilā bị giam lâu ngày, cảm thấy bực bội khó chịu, cuối cùng phải mở cửa thành.

    Khi ấy, các đoàn quân anh dũng của Chúa-thượng xâm nhập vào trong kinh-thành, bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu kế sách như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn tấu, và tán dương: “Đó là diệu kế.”

    Trên gương mặt của quân-sư Kevaṭṭa nhiều vết thương chảy máu, nên ông xin phép Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, trở về kinh-thành Uttarapañcāla, để chữa bệnh. Như vậy, thực hiện theo kế sách ấy mà không có quân-sư Kevaṭṭa.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu dẫn các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī trở lại bao vây hãm kinh-thành Mithilā, cấm dân chúng bên ngoài thành ra vào bên trong kinh-thành bằng con đường nhỏ nữa.

    Những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita gửi tin báo cho quan Thừa-tướng biết kế sách ấy của quân-sư Kevaṭṭa.

    Nhận được tin từ những người lính điệp viên báo như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Nếu các đoàn binh của Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta vây hãm kinh-thành Mithilā lần này lâu ngày, còn cấm dân chúng bên ngoài thành ra vào bên trong kinh- thành. Như vậy, toàn thể dân chúng trong kinh-thành này như bị nhốt lâu ngày, thì cuộc sống của họ chắc chắn khổ nhiều.

    Vậy, ta nên tìm kế làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahma-datta cùng 101 Đức-vua chư hầu và các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī này bỏ chạy thoát thân, không dám quay trở lại nữa.”

    Khổ-Nhục-Kế

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tìm người có tài đức hơn người, có trí-tuệ thông minh sáng suốt, có đức nhẫn-nại chịu đựng mọi sự hành hạ thể xác, nhất là có một lòng trung thành tuyệt đối yêu nước, yêu dân tộc.

    Quan Thừa-tướng nhận xét thấy một người có đủ những đức tính này đó là vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa đã từng là vị quan lớn trong triều đình. Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho lính mời vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa đến, rồi thưa rằng:

    - Kính thưa thầy Anukevaṭṭa, hiện nay các đoàn quân gồm có 18 akkhobhiṇī quân của Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta và 101 Đức-vua chư hầu bao vây hãm kinh-thành Mithilā lần này lâu ngày. Như vậy, toàn thể dân chúng trong kinh-thành này sẽ bị nhốt lâu ngày, thì cuộc sống của họ chắc chắn khổ nhiều.

    - Kính thưa thầy, tôi nghĩ ra một kế làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu và các đoàn binh gồm có 18 akkhobhiṇī này phải bỏ chạy thoát thân, không dám quay trở lại nữa.

    Tôi đã xem xét nhiều người mà không tìm thấy ai có đủ đức tính như thầy. Cho nên, tôi ra lệnh cho lính mời thầy đến đây, kính xin thầy đảm đương một công việc rất hệ trọng của đất nước và dân tộc của chúng ta.

    - Kính thưa thầy, nay sức lực của thầy còn có khả năng đảm đương nổi được không?

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thưa như vậy, vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa bèn hỏi rằng:

    - Thưa quan Thừa-tướng đại-nhân, tôi sẽ đảm đương công việc như thế nào, xin quan Thừa-tướng trình bày cho tôi rõ.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita thưa rằng:

    - Kính thưa thầy, kính xin thầy nhẫn-nại chịu đựng thực hiện “khổ-nhục-kế” như vầy:

    Xin thầy lên đứng trên bờ thành, khi nhìn thấy những người lính canh gác trên thành sơ ý, thầy ném đồ ăn xuống cho lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rồi kêu gọi rằng:

    “- Này hỡi các bạn! Các bạn hãy đến lấy đồ ăn, bánh trái mà dùng cho được khoẻ mạnh. Các bạn ráng chịu đựng chờ đợi một thời gian ngắn nữa, khi dân chúng bị nhốt trong kinh-thành Mithilā này cảm thấy bực bội khó chịu như con gà bị nhốt trong lồng, thời gian không lâu nữa, chắc chắn họ sẽ mở cửa thành đón rước các bạn vào bên trong kinh-thành, để bắt Đức-vua Vedeha và quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem dâng cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta trị tội.”

    Nghe thầy nói như vậy, những người lính của tôi sẽ bắt thầy, mắng nhiếc, đánh đập, hành hạ thầy, trói hai tay, lấy sợi dây cột người thầy, thòng dây thả thầy ra bên ngoài thành, để cho lính của Đức-vua Cūḷanī Brahma-datta nhìn thấy. Những người lính sẽ mắng nhiếc thầy rằng: “Này kẻ phản bội đất nước, ngươi hãy đi theo quân giặc của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đi!”

    Khi những người lính ngoại thành dẫn thầy đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nhìn thấy thầy như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ truyền hỏi thầy rằng:

    “- Này ngươi đã làm tội gì mà bị hành hạ như vậy?”

    Khi ấy, xin thầy tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta rằng:

    “- Tâu Đại-vương, trước đây hạ thần là vị quan lớn trong triều đình của Đức-vua Vedeha, hạ thần thường hay chống đối kế sách của Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita, nên Thừa-tướng ghét hạ thần và tâu với Đức- vua Vedeha cách chức hạ thần. Hạ thần rất căm thù Thừa-tướng Mahosadha. Vì vậy, khi nghe tin các đoàn binh của Đại-vương bao vây hãm kinh-thành Mithilā, hạ thần rất vui mừng, leo lên trên bờ thành, nhìn thấy quân binh của Đại-vương, quan sát thấy lính của Thừa-tướng Mahosadha canh gác thưa thớt, không để ý, nên hạ thần ném đồ ăn, bánh xuống cho lính của Đại-vương ăn cho được khoẻ mạnh, rồi kêu gọi chờ đánh chiếm kinh-thành.

    Lính của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita thấy hạ thần hành động và nghe như vậy, nên báo cho Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita biết.

    Để trả thù hạ thần, Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đã ra lệnh cho lính đánh đập, hành hạ, rồi trói hạ thần thòng dây thả ra bên ngoài cửa thành. Những người lính mắng nhiếc hạ thần là kẻ phản bội đất nước. Nhờ lính của Đại-vương nhìn thấy hạ thần như vậy, nên đem hạ thần đến chầu Đại-vương. Thật là diễm phúc cho cuộc đời của hạ thần.”

    Khi được gần gũi, thân cận với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, thầy tìm mọi cách làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tin tưởng nơi thầy, rồi thầy tâu rằng:

    “- Tâu Đại-vương, bậy giờ hạ thần rất căm thù Thừa tướng Mahosadhapaṇḍita và ghét Đức-vua Vedeha.

    Vậy, từ nay hạ thần chỉ có một lòng một dạ trung thành phục vụ Đại-vương mà thôi.

    - Tâu Đại-vương, hạ thần đã từng phục vụ trong triều đình Đức-vua Vedeha lâu năm, nên biết rõ các địa hình, địa thế quan trọng trong và ngoài kinh-thành, các đường nước xung quanh kinh-thành, chỗ nào nguy hiểm có nhiều cá sấu, chỗ nào ít nguy hiểm, ... hạ thần đều biết rõ. Cho nên, hạ thần biết đường dẫn các đoàn quân anh dũng xâm nhập vào bên trong, để chiếm lấy kinh-thành Mithilā, bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita đem dâng lên Đại-vương trị tội.”

    Nghe thầy tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ tin nơi thầy, nếu Đức-vua truyền cho thầy dẫn các đoàn quân anh dũng xâm nhập vào bên trong kinh- thành, thì thầy ra lệnh các đoàn quân anh dũng băng qua đường nước nơi có nhiều cá sấu, nên một số quân lính bị cá sấu cắn bị thương. Nhìn thấy cảnh bị thương như vậy, số đông quân lính còn lại không dám băng qua đường nước, mặc dù thầy ra lệnh.

    Khi ấy, thầy trở về tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta rằng:

    “- Tâu Đại-vương, hạ thần ra lệnh các đoàn quân anh dũng băng qua đường nước ít nguy hiểm, vì ít cá sấu, để xâm nhập vào bên trong kinh-thành, nhưng các đoàn quân anh dũng ấy không tuân theo lệnh của hạ thần.

    - Tâu Đại-vương, hạ thần biết trong các đoàn quân ấy, có một số quân lính đã bị Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita mua chuộc, ăn hối lộ của y, nên họ không còn trung thành tuyệt đối với Đại-vương.

    Thật vậy, khi Đại-vương thực hiện kế sách gì thì nhóm quân lính này đều báo tin cho Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita biết cả. Nhờ vậy, Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita đều phá được kế sách của Đại-vương.

    - Tâu Đại-vương, hạ thần còn biết rõ 101 Đức-vua chư hầu của Đại-vương đều nhận đồ hối lộ từ Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Nếu Đại-vương không tin hạ thần thì xin Đại-vương truyền lệnh cho 101 Đức-vua chư hầu mặc triều phục đến chầu. Khi ấy, Đại-vương sẽ thấy rõ sự thật.”

    Nghe thầy tâu như vậy, để biết rõ hư thật thế nào, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ truyền lệnh mời 101 Vua chư hầu đến chầu. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chính mình nhìn thấy 101 Đức-vua chư hầu mặc long bào, mang thanh gươm báu, mang đôi hia vàng, vòng vàng đeo cổ, mỗi thứ đều nổi lên dòng chữ “Mahosadha- paṇḍita kính dâng món quà này lên Đức-vua.”

    Dòng chữ này chỉ có một mình Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhìn thấy mà thôi. Do nguyện lực của tôi.

    Còn 101 Đức-vua chư hầu hoàn toàn không thấy, không biết gì cả. Khi nhìn thấy rõ đúng sự thật như vậy, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tin theo lời của thầy và phát sinh nỗi lo sợ, sẽ truyền lệnh rằng: “Xin mời các Đức-vua ngự trở về chỗ ở của mình.”

    Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi thầy rằng: “Này khanh! Bây giờ Trẫm phải hành động thế nào?” Thầy nên tâu với Đức-vua rằng:

    “- Tâu Đại-vương, hạ thần biết Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita là người có tà thuật, có mưu ma chước quỷ, có thể làm mê hoặc được mọi người nghe theo y, Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍitacũng có thể làm mê hoặc sai khiến các đoàn binh của Đại-vương làm phản, bắt Đại- vương nạp cho quan Thừa-tướng được.

    Nếu Đại-vương ngự tại nơi này lâu ngày, thì sẽ không an tòan sinh-mạng của Đại-vương.

    - Tâu Đại-vương, để bảo vệ sự an toàn sinh-mạng của Đại-vương và của hạ thần. Vậy, vào canh giữa đêm nay, thỉnh Đại-vương ngự đi khỏi nơi này, để Đại-vương và hạ thần tránh khỏi được sự chết đau đớn do tay của người khác.”

    Nghe lời tâu như vậy, chắc chắn Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ làm theo. Khi Đức-vua đã ngự đi ra khỏi doanh trại, thầy tiễn đưa một đoạn đường dài, rồi thầy trở lại báo tin cho nhóm lính điệp viên biết.

    Lắng nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita trình bày mưu kế từ đầu đến cuối như vậy, vị Bà-la-môn Anu- kevaṭṭa thưa rằng:

    - Thưa quan Thừa-tướng đại-nhân, kế này hay lắm! Tôi sẽ thi hành đúng như lời chỉ dẫn của quan Thừa- tướng.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thưa rằng:

    - Kính thưa thầy, kính xin thầy ráng nhẫn-nại, chịu đựng để thực hiện “khổ-nhục-kế” này.

    Vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa thưa rằng:

    - Thưa quan Thừa-tướng đại-nhân, trong thân thể của tôi chỉ ngoại trừ sinh-mạng, hai tay, hai chân, hai con mắt, hai lỗ tai ra, còn lại các bộ phận khác tôi ráng nhẫn-nại, chịu đựng được cả.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita kính biếu những phẩm vật quý giá đến gia đình vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa, đó là phần thưởng đầu tiên.

    Sau đó mọi người thi hành khổ-nhục-kế hết sức tự nhiên đúng theo bài bản rất nhập vai như thật.

    Vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa bị đánh đập hành hạ mà những người lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đều nhìn thấy, rồi đặt vị Bà-la-môn vào chiếc võng thòng dây thả xuống nằm bên ngoài cửa thành.

    Quân lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhìn thấy, đưa ông vào tâu trình Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta xét hỏi. Vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tin tưởng và phong làm thống soái.

    Mọi sự việc sau xảy ra giữa vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta theo tuần tự từ đầu đến cuối đúng như điều mà quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita đã trình bày với vị thầy Bà-la-môn Anukevaṭṭa.

    Nghe vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa tâu dối là quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita có mưu ma chước quỷ, có thể sai khiến quân lính làm phản và sợ không an toàn tánh mạng như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng:

    “Thật đáng lo sợ! Ta không còn dám tin vào người nào cả. 101 Đức-vua chư hầu đều nhận đồ hối lộ của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, ngay cả quân-sư Kevaṭṭa cũng chịu nhận hối lộ viên ngọc maṇi báu của Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita, cho nên trên mặt bị nhiều vết thương đang nằm chữa trị.

    Bây giờ, ta chỉ còn cách âm thầm trốn ra khỏi nơi này là thượng sách mà thôi”.

    Nghĩ xong, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh cho vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa rằng:

    - Này Bà-la-môn Anukevaṭṭa! Ngoài khanh ra, Trẫm không biết tin vào ai nữa.

    Vậy, khanh hãy lo sửa soạn các con ngựa báu cài vào chiếc long xa cho Trẫm.

    Vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần xin tuân lệnh.

    Biết Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chịu ngự trốn đi khỏi nơi ấy, nên vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa đến tìm những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita báo cho biết: “Vào canh chót đêm nay, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ ngự trốn đi khỏi nơi này.

    Vậy, các ngươi hãy cài ngựa báu vào chiếc long xa, thay đổi giây điều khiển dừng lại sang vị trí phi nhanh (Đức-vua muốn dừng lại thì con ngựa càng phi nhanh).

    Tất Cả Quân Lính Chạy Trốn Không Kịp Mặc Áo

    Hôm ấy, vào canh giữa đêm, đến giờ vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa đem chiếc long xa đến trước chỗ nghỉ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. Mọi quân lính đều đang ngủ ngon, vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, thỉnh Đức-vua ngự lên chiếc long xa cùng ông lên ngựa tiễn đưa Đức-vua ngự trốn đi khỏi doanh trại, do những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita canh gác. Cho nên, Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta âm thầm lặng lẽ ngự đi trốn khỏi doanh trại mà những người khác không biết được.

    Chiếc long xa của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta phi nhanh như bay không ngừng, con ngựa của vị Bà-la-môn Anukevaṭṭa đưa một quãng đường dài thì quay lui trở lại doanh trại, báo cho những người lính điệp viên gác trại ấy biết rồi la lớn lên:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta không có trong doanh trại”, rồi họ báo cho 101 Đức-vua chư hầu, vừa thức dậy tất cả đều hoảng sợ tưởng rằng: “Quân lính của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đã xâm nhập vào doanh trại bắt Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đi rồi, chắc chắn họ không tha mạng cho chúng ta”, nên 101 Đức-vua chư hầu đều vội vã lên ngựa chạy trốn thoát thân, không kịp mặc áo.

    Nghe tiếng ồn ào xôn xao làm cho các đoàn binh gồm có 18 akkhobhinī thức dậy tưởng rằng: “Quân lính của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tiến quân xâm nhập vào doanh trại, bắt Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101 Đức-vua chư hầu dẫn đi rồi”. Cho nên, mỗi người lính không kịp mặc áo, tìm có được phương tiện nào thì dùng phương tiện ấy chạy trốn thoát thân, có số đông quân lính không có phương tiện nên chạy bộ trốn thoát.

    Các doanh trại đều trống vắng các đoàn binh, chỉ còn các thứ khí giới, đồ đạc để lại mà thôi.

    Sáng ngày hôm sau, các quân lính trong kinh-thành Mithilā mở cửa thành đi đến các doanh trại, nhìn thấy các thứ khí giới, đồ đạc, các dụng cụ, lương thực, v.v... bỏ lại nhiều vô số kể, nên trình cho quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Kính thưa quan Thừa-tướng, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 cùng chư hầu và các đoàn binh gồm có 18 akkhobhinī quân lính đều bỏ chạy trốn khỏi nơi này cả thảy, bỏ lại các khí giới, các dụng cụ, lương thực, v.v... chúng tôi phải làm thế nào?

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita truyền bảo rằng:

    - Này các ngươi! Tất cả mọi khí giới, các dụng cụ, lương thực, v.v... của kẻ thù bỏ lại đều thuộc về chúng ta. Vậy, các ngươi đem những vật dụng của 101 Đức- vua đem dâng lên Đức-vua Vedeha. Những vật dụng của các quan thì các người đem nạp trong kho của ta. Những vũ khí, dụng cụ, phương tiện thì các ngươi đem nạp vào kho của triều đình. Những thứ vật dụng, đồ dùng của lính, lương thực, v.v... thì các ngươi lấy sử dụng và cho dân chúng đem về nhà làm của riêng.

    Các quân lính và tòan thể dân chúng trong kinh-thành Mithilā và dân chúng ngoại thành lấy các thứ vật dụng, lương thực, v.v... suốt thời gian nửa tháng mới hết.

    Dân chúng trong kinh-thành Mithilā và dân chúng ngoại thành dọn dẹp các đồ dùng khác suốt thời gian bốn tháng mới xong.

    Khen Thưởng Vị Thầy Bà-La-Môn Anukevaṭṭa

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tán dương, ca tụng vị thầy Bà-la-môn Anukevaṭṭa có công lớn làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, 101 Đức-vua chư hầu và các đoàn binh hùng mạnh gồm 18 akkhobhinī quân lính bỏ chạy khỏi đất nước Videharaṭṭha. Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita ban những phần thưởng quý giá đến vị Bà-la- môn Anukevaṭṭa.

    Từ đó về sau, kinh-thành Mithilā, đất nước Videha- raṭṭha được phồn vinh, dân chúng sống trong cảnh thanh bình, được an cư lạc nghiệp.

    Đức-vua Vedeha ngự tại kinh-thành Mithilā trị vì đất nước Videharaṭṭha được thái bình thịnh vượng, thần dân thiên hạ được sống an cư lạc nghiệp.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự tại kinh-thành Uttarapañcāla, trị vì đất nước Kapilaraṭṭha và 101 Đức- vua chư hầu trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu, trải qua một năm thái bình, không chiến tranh.

    Một hôm, quân-sư Kevaṭṭa soi gương nhìn thấy trên mặt nhiều vết sẹo trên trán, đôi má, cằm, ... nên nghĩ rằng: “Đây là những vết sẹo do Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita đè đầu chà qua sát lại trên mặt đất, đến nay vẫn còn lưu lại trên gương mặt. Thật là một điều vô cùng xấu hổ đối với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101

    Đức-vua chư hầu cùng toàn thể các đoàn binh lính nữa.”

    Quân-sư Kevaṭṭa phát sinh tâm thù hận Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nên nghĩ rằng:

    “Làm cách nào ta có thể trả được mối thù này?” Quân-sư Kevaṭṭa nghĩ ra mưu thâm kế độc để giết hại

    Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Mỹ-Nhân-Kế

    Quân-sư Kevaṭṭa nghĩ đến Công-chúa Pañcālacandī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī:

    “Công-chúa có sắc đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ. Vậy, ta nên lợi dụng sắc đẹp của Công-chúa Pañcālacandī làm mỹ-nhân-kế, dụ Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, chắc chắn có Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cùng đi theo hộ giá.

    Như vậy, họ ví như nai bị mắc bẫy, cá bị cắn câu.

    Khi ấy, ta sẽ bắt Vua Vedeha và Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, rồi sẽ làm đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này.”

    Sau khi nghĩ xong, quân-sư Kevaṭṭa đến chầu Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, hạ thần có một kế hay, xin tâu cho Chúa-thượng rõ.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi rằng:

    - Này quân-sư, quân-sư đã hiến bao nhiêu kế đều thất bại thê thảm, bỏ chạy trốn thoát thân. Nay, quân-sư còn bày ra kế gì nữa đây!

    - Tâu Chúa-thượng, kế này thật là diệu kế, cũng là thượng sách nữa!

    - Này quân-sư, nếu vậy thì hãy tâu cho Trẫm rõ.

    - Tâu Chúa-thượng, xin Chúa-thượng đến một chỗ vắng vẻ, chỉ có Chúa-thượng và hạ thần mà thôi, hạ thần sẽ tâu cho Chúa-thượng rõ.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn tấu. Đức-vua ngự lên trên lâu đài cùng với quân-sư Kevaṭṭa tại căn phòng ngủ của Đức-vua, nơi cửa sổ có con sáo mái Sāḷikā nói và nghe hiểu được tiếng người. Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Chúa-thượng, Công-chúa Pañcālacandī của Chúa-thượng có sắc đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ. Chúa-thượng nương nhờ Công-chúa Pañcālacandī làm mỹ-nhân-kế dụ Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để làm lễ thành hôn, chắc chắn Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita đi theo hộ giá.

    Như vậy, hai người ấy ở trong tay của ta, ví như nai bị mắc bẫy, cá bị cắn câu, không còn đường nào trốn thoát được nữa.

    Chúa-thượng truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, để trả thù, rồi Chúa-thượng truyền lệnh tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng trong toàn cõi Nam-thiện- bộ-châu này.

    Khi ấy, Chúa-thượng đương nhiên sẽ được suy tôn là Đại-vương cao cả nhất (aggamahārājā), làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    - Tâu Chúa-thượng, ban đầu truyền gọi các thi sĩ vào cung, nhìn thấy Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, họ sẽ làm thơ, ca hát tán dương, ca tụng sắc đẹp tuyệt trần của Công-chúa; truyền cho đoàn ca hát, nhảy múa tán dương, ca tụng sắc đẹp tuyệt trần của Công-chúa từ kinh-thành Uttarapañcāla cho đến kinh-thành Mithilā.

    Đoàn ca múa xin vào cung điện trình diễn ca hát, nhảy múa, tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha thưởng thức, gợi cho Đức-vua mong ước được Công- chúa làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

    Khi ấy, hạ thần sẽ làm sứ giả đến kinh-thành Mithilā, xin chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    “- Tâu Đại-vương Vedeha, Chúa-thượng của hạ thần là Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhận xét thấy Đại- vương là người xứng đáng nên muốn ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đại- vương để làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

    - Kính xin Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để cử hành hôn lễ với Công-chúa Pañcālacandī, rồi đón rước về kinh-thành Mithilā, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Đại-vương.”

    Khi Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttara- pañcāla thì chắc chắn Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita sẽ đi theo hộ giá.

    Như vậy, hai người ấy sẽ mắc vào mỹ-nhân-kế của chúng ta.

    Nghe quân-sư Kevaṭṭa bày ra mỹ-nhân-kế này, Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta vốn có tâm tham vọng làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu nên nghĩ rằng: “Đó là diệu kế”. Vì vậy, Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Thưa Quân-sư, Trẫm xin chuẩn tấu, quân-sư hãy thực hiện mỹ-nhân-kế này một cách rất khéo léo và bí mật tuyệt đối!

    Sau khi được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn tấu mỹ-nhân-kế ấy, quân-sư Kevaṭṭa thực hiện từng giai đoạn theo kế sách. Cuối cùng một đoàn ca hát, nhảy múa gồm tòan các nghệ sĩ ưu tú, các nhạc công ưu tú, cho nên đoàn ca múa này đi trình diễn được nổi tiếng từ kinh- thành Uttarapañcāla cho đến kinh-thành Mithilā, đến tai của Đức-vua Vedeha.

    Đức-vua Vedeha vốn ham mê ngũ-dục (sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị-dục, xúc-dục), nên khi nghe nói có đoàn ca múa hay nổi tiếng như thế ấy, Đức-vua Vedeha truyền cho mời vào cung điện để trình diễn.

    Đoàn ca múa ấy ca hát tán dương, ca tụng Đức-vua Vedeha với lời hay, ý đẹp làm cho Đức-vua vô cùng hoan hỷ khen ngợi. Đoàn ca múa tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên- nữ, gợi cho Đức-vua Vedeha nghe say mê, mong ước có được Công-chúa làm Chánh-cung Hoàng-hậu của mình.

    Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ ban thưởng cho đoàn ca hát ấy các phần thưởng quý giá. Sau đó họ trở về kinh-thành Uttarapañcāla, vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tâu trình rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, chúng thần được mời vào cung điện của Đức-vua Vedeha, trình diễn các bài hát tán dương, ca tụng Đức-vua Vedeha, tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ làm cho Đức-vua Vedeha cảm thấy hài lòng, vô cùng hoan hỷ, nên đã ban thưởng cho chúng thần những phần thưởng quý giá.

    Nghe đoàn ca múa tâu trình như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rất hài lòng, hoan hỷ cho gọi quân-sư Kevaṭṭa đến truyền bảo rằng:

    - Thưa quân-sư, kế sách của quân-sư phần đầu đã có kết quả. Nay, xin quân-sư lãnh sứ mạng làm sứ giả đến kinh-thành Mithilā, chầu Đức-vua Vedeha, tâu lời của Trẫm theo kế sách của quân-sư.

    Tuân lệnh Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, quân-sư Kevaṭṭa đem theo những món quà quý giá cùng đoàn tùy tùng đông đảo lên đường đến kinh-thành Mithilā.

    Trước khi đến kinh-thành Mithilā, quân-sư Kevaṭṭa đã cho người loan tin cho dân chúng trong kinh-thành Mithilā biết rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta muốn kết tình thân thiện với Đức-vua Vedeha, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để kết tình thân hữu giữa kinh- thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videharaṭṭha trong tình thân thiện lẫn nhau, thần dân thiên hạ của hai đất nước sống trong cảnh thanh bình an lạc.”

    Nghe tin như vậy, Đức-vua Vedeha rất hài lòng vô cùng hoan hỷ. Còn Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita không hài lòng chút nào, vì biết chắc chắn Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bày ra mỹ-nhân-kế thâm độc, để dụ dỗ, đánh lừa Đức-vua Vedeha.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gửi tin hỏi người lính điệp viên của mình, để biết rõ mỹ-nhân-kế của quân-sư Kevaṭṭa, thì được thư trả lời rằng:

    “Thưa quan Thừa-tướng, chúng tôi không biết rõ được mỹ-nhân-kế của quân-sư Kevaṭṭa mà chỉ biết rõ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa bàn bạc chuyện bí mật trên lâu đài trong phòng ngủ của Đức-vua, mà tại cửa sổ phòng ngủ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có con sáo mái Sāḷikā biết nghe và nói tiếng người, chắc chắn con sáo mái Sāḷikā đã nghe được chuyện bí mật ấy.”

    Đoàn sứ giả do quân-sư Kevaṭṭa dẫn đầu và tuỳ tùng đông đảo đến kinh-thành Mithilā, xin phép đến chầu Đức-vua Vedeha. Sứ giả Kevaṭṭa đảnh lễ Đức-vua Vedeha rồi kính dâng quà của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta lên Đức-vua Vedeha. Sứ giả Kevaṭṭa ngồi một nơi hợp lẽ, vấn an Đức-vua Vedeha theo nghi lễ và Đức-vua Vedeha kính lời cảm tạ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Khi ấy, sứ giả Kevaṭṭa tâu với Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Đại-vương, Chúa-thượng của hạ thần là Đại- vương Cūḷanī Brahmadatta nhận xét thấy Đại-vương là người xứng đáng kết tình thân thiện, nên muốn ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên- nữ cho Đại-vương làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh- thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videha- raṭṭha kết tình thân thiện lẫn nhau, thần dân thiên hạ của hai đất nước sống trong cảnh thanh bình an lạc.

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta xin mời Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttara- pañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcāla- candī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, rồi đón rước Công-chúa ngự trở về kinh-thành Mithilā này.

    Nghe sứ giả Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ nghe đến câu “ban Công-chúa Pañcāla- candī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ”, nên Đức-vua Vedeha truyền bảo với sứ giả Kevaṭṭa rằng:

    - Này sứ giả, Quả-nhân vô cùng cảm kích trước tấm lòng tốt của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối với Quả- nhân. Quả-nhân chân thành cảm tạ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và sứ giả đã vất vả đến đây, để đem lại sự lợi ích, sự an lạc cho Quả-nhân, cho toàn thể dân chúng đất nước Videharaṭṭha và đất nước Kapilaraṭṭha trong tình thân thiện, sống trong cảnh thanh bình an lạc.

    - Này sứ giả, để xoá bỏ những lỗi quá khứ giữa sứ giả với Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita. Xin mời sứ giả đến thăm Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, để bỏ lỗi lẫn nhau, thông cảm và hòa hợp với nhau trong tình thân hữu giữa hai người với nhau.

    Nghe lời khuyên của Đức-vua Vedeha, sứ giả Kevaṭṭa đi đến tư dinh thăm quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Biết sứ giả Kevaṭṭa đến tư dinh của mình, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Ta không nên đón tiếp, nói chuyện với kẻ ác như sứ giả Kevaṭṭa ấy.”

    Do nghĩ như vậy, nên sáng hôm ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dùng một ít bơ lỏng, rồi bảo gia nhân đem phần bơ lỏng còn lại đổ rải khắp nền nhà, dẹp các ghế ngồi chỉ còn lại chiếc giường Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang nằm mà thôi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita căn dặn nhóm gia nhân:

    “Hãy tiếp sứ giả Kevaṭṭa với thái độ khinh bỉ. Nếu khi Kevaṭṭa muốn hỏi chuyện với ta thì các người hãy ngăn cản y không cho hỏi chuyện, bởi vì hôm nay quan Thừa- tướng dùng bơ lỏng, và nếu ta làm bộ nói chuyện với Kevaṭṭa thì các người cũng ngăn cản ta không cho nói chuyện, bởi vì hôm nay quan Thừa-tướng dùng bơ lỏng.”

    Sau khi căn dặn nhóm gia nhân xong, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita mặc bộ y phục màu đỏ, nằm trên gường bệnh.

    Khi ấy, sứ giả Kevaṭṭa đến đứng trước cổng thứ nhất tư dinh của Đức-Bồ-tát, hỏi người lính gác cổng rằng:

    - Này ngươi! Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita có trong dinh không?

    Người gác cổng thứ nhất bảo rằng:

    - Này Bà-la-môn Kevaṭṭa! Ngươi chớ nên nói lớn tiếng, ta cho phép ngươi làm thinh đi vào.

    Sứ giả Kevaṭṭa đi vào tuần tự đến cổng số hai cho đến cổng số bảy tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, các lính gác cổng đều đối xử khinh bỉ như vậy.

    Sứ giả Kevaṭṭa đến chỗ Đức-Bồ-tát Mahosadha-paṇḍita đang nằm, không có chỗ ngồi, nên sứ-giả Kevaṭṭa phải đứng, muốn hỏi chuyện Đức-Bồ-tát Maho-sadhapaṇḍita thì gia nhân ngăn cản rằng:

    - Này Bà-la-môn Kevaṭṭa! Ngươi không nên hỏi chuyện quan Thừa-tướng, bởi vì hôm nay quan Thừa-tướng của chúng tôi dùng bơ lỏng.

    Khi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita làm bộ muốn nói chuyện với sứ giả Kevaṭṭa thì nhóm gia nhân ngăn cản Đức-Bồ-tát không cho nói chuyện, vì hôm nay quan Thừa-tướng đại-nhân dùng bơ lỏng.

    Sứ giả Kevaṭṭa đến thăm Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita, không có chỗ ngồi, đứng trên sàn nhà dính bơ lỏng, mọi người trong tư dinh đều tỏ ra khinh bỉ, nên sứ giả Kevaṭṭa cảm thấy xấu hổ, xin phép trở về. Một gia nhân mắng rằng:

    - Này tên Bà-la-môn Kevaṭṭa ác nhân kia! Hãy đi ra.

    Sứ giả Kevaṭṭa hoảng sợ, trở về cung điện. Đức-vua Vedeha nghĩ rằng:

    “Hôm nay, nghe sứ giả Kevaṭṭa báo tin về sứ mạng chuyến đi này, Mahosadhapaṇḍita chắc chắn vui mừng hoan hỷ lắm. Hai bậc đại-trí chuyện trò thân mật bỏ lỗi lẫn nhau. Thật là điều hạnh phúc an lạc cho ta biết dường nào!”

    Vì nghĩ như vậy, nên khi nhìn thấy sứ giả Kevaṭṭa trở về, Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

    - Thưa sứ giả, sứ giả đã gặp quan Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita rồi, quan Thừa-tướng chắc chắn đã xin lỗi sứ giả và sứ giả đã bỏ lỗi cho quan Thừa-tướng. Hai bên đã bỏ lỗi cho nhau. Khi nghe sứ giả báo tin về sứ mạng chuyến đi này, chắc chắn quan Thừa-tướng vui mừng hoan hỷ lắm phải không?

    Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương Vedeha, kính xin Đại-vương không nên nói đến quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ấy nữa. Ông là con người đần độn, không đáng gọi là bậc đại-trí, vì y không nói một lời nào, y chỉ giống như người câm, người điếc mà thôi.

    Nghe sứ giả Kevaṭṭa nói xấu quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Vedeha làm thinh, không đồng tình cũng không phản đối. Đức-vua Vedeha mời sứ giả Kevaṭṭa cùng đoàn tuỳ tùng về chỗ nghỉ ngơi. Đức- vua Vedeha suy xét rằng:

    “Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-trí, có trí-tuệ siêu- việt, là người tài ba lỗi lạc trong phép xã giao. Vậy, tại sao Mahosadhapaṇḍita lại không nói một lời nào với sứ giả Kevaṭṭa, không tỏ ra hoan hỷ trong sự có mặt của sứ giả Kevaṭṭa.

    Như vậy, Mahosadhapaṇḍita chắc chắn đã thấy rõ, được mưu kế thâm độc của sứ giả rồi, nên mới tỏ ra thái độ như vậy. Mahosadhapaṇḍita con của ta là bậc đại-trí có trí-tuệ siêu-việt thấy rõ, biết rõ quá-khứ, hiện- tại, vị- lai mà những người khác không dễ gì thấy được, biết được. Cho nên, Mahosadhapaṇḍita chắc chắn biết rõ được mưu kế thâm độc của quân-sư Kevaṭṭa đến đây mời ta ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ.

    Nếu đó là mưu kế thâm độc của quân-sư Kevaṭṭa đem Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên- nữ để dụ dỗ ta, khi ta rời khỏi kinh-thành Mithilā này, ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, thì có khác nào ta đã lọt vào tay của kẻ thù xưa, sự sống hoặc sự chết của ta như thế nào làm sao biết được?”

    Suy nghĩ về sự việc như vậy, Đức-vua Vedeha cảm thấy rùng mình, phát sinh sợ hãi. Khi ấy, bốn vị quân-sư đến chầu, Đức-vua truyền hỏi rằng:

    - Này quân-sư Senaka, Trẫm có nên ngự đến kinh- thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công- chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta hay không? Quân-sư nghĩ thế nào, hãy tâu cho Trẫm rõ.

    Quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, điều hạnh phúc đã đến với Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ đón nhận. Đây là cơ hội tốt nhất đối với Bệ- hạ. Bệ-hạ nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta. Đó là cơ hội tốt nhất, cũng là điều vinh dự nhất đối với Bệ-hạ.

    Hiện nay, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là một Đại- vương cao cả nhất trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, còn 101 Đức-vua của 101 đất nước kia là chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. Vì vậy, chỉ có Bệ-hạ ngự tại kinh-thành Mithilā trị vì nước Videharaṭṭha là không phải nước chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mà thôi. Xét thấy Bệ-hạ là Đức-vua xứng đáng, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban Công-chúa Pañcāla- candī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ đến Bệ-hạ, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Bệ-hạ.

    Kính xin Bệ-hạ nên thuận theo thiện ý của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối với Bệ-hạ, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videharaṭṭha trong tình thân thiện lẫn nhau, để thần dân thiên hạ của hai nước sống trong cảnh thanh bình an-lạc.

    Vậy, kính xin Bệ-hạ nên chọn ngày ngự đến kinh- thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công- chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, rồi rước về kinh-thành Mithilā.

    Chúng thần sẽ có cơ hội theo hộ giá Bệ-hạ, cũng sẽ được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta biếu những phẩm vật quý giá.

    Tiếp theo, Đức-vua Vedeha truyền hỏi ba vị quân-sư còn lại, ba vị quân-sư ấy cũng đều tâu giống như quân- sư Senaka rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Bệ-hạ.

    Đức-vua Vedeha đang truyền hỏi bốn vị quân-sư thì sứ giả Kevaṭṭa đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần không thể ở lâu hơn nữa, xin phép Đại-vương trở về kinh-thành Uttarapañcāla.

    Kính xin Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla. Đại-vương truyền gửi sứ giả đến tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta được rõ.

    Đức-vua Vedeha ban những phẩm vật quý giá đến sứ giả Kevaṭṭa và đoàn tùy tùng rồi tiễn đưa họ trở về kinh- thành Uttarapañcāla.

    Biết sứ giả Kevaṭṭa đã rời khỏi kinh-thành Mithilā trở về kinh-thành Uttarapañcāla, Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita đến chầu Đức-vua Vedeha, đảnh lễ rồi ngồi một nơi hợp lẽ.

    Trước đây, Đức-vua Vedeha một mình suy xét đúng đắn, sau khi gặp bốn vị quân-sư thiểu trí si-mê, nên Đức- vua lại thay đổi ý nghĩ trước, do năng lực của tâm tham-ái làm cho Đức-vua trở thành người say mê trong ngũ- dục, nên truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Chúng ta gồm có sáu người: Trẫm, quân-sư Kevaṭṭa và bốn quân-sư đều là bậc đại- trí đồng có ý kiến với nhau rằng: “Trẫm nên chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, rồi rước về làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Trẫm.”

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Con có ý kiến như thế nào? Con hãy tâu cho Phụ-vương rõ.

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền hỏi như vậy, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Vedeha đã tin lời sứ giả Kevaṭṭa và bốn vị quân-sư thiểu trí si-mê, rồi say mê Công-chúa Pañcāla- candī mà không thấy Công-chúa chỉ là miếng mồi để dụ Đức-vua ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để sát hại Đức-vua Vedeha chứ không phải để làm lễ thành hôn với Công-chúa. Ta sẽ tâu cho Đức-vua nhận thức thấy rõ sự thật như vậy mà thay đổi ý, không dám ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla nữa.”

    Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát tâu với Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đem Công-chúa Pañcālacandī làm mồi dụ Đại-vương ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để sát hại Đại-vương, chứ không phải để làm lễ thành hôn với Công-chúa xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, như sứ giả Kevaṭṭa tâu với Đại-vương. Đó chỉ là “mỹ-nhân-kế” của sứ giả Kevaṭṭa mà thôi.

    Ví như người thợ săn đem con nai cái ra để lừa con nai đực say mê rồi mắc bẫy của y; người câu cá móc miếng mồi ngon bao bọc lưỡi câu để lừa con cá mê mồi nuốt phải lưỡi câu vào bụng, không biết sự chết đến với mình.

    - Tâu Đại-vương, Công-chúa Pañcālacandī ví như con nai cái của người thợ săn, cũng ví như miếng mồi ngon bao bọc lưỡi câu của người câu cá.

    Nếu Đại-vương say mê Công-chúa mà ngự đến kinh- thành Uttarapañcāla thì Đại-vương chắc chắn sẽ bị bắt rồi bị chém đầu ngay tức thì.

    - Tâu Đại-vương, hạ thần đã thấy rõ “mỹ-nhân-kế” của quân-sư Kevaṭṭa dụ Đại-vương ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để giết Đại-vương.

    Vậy, kính xin Đại-vương có trí-tuệ sáng suốt nhận thức rõ tai họa ấy mà thay đổi ý, không nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla nữa.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rõ sự thật như vậy, nhưng Đức-vua Vedeha vẫn chấp thủ nên nổi cơn thịnh nộ, nghĩ rằng:

    “Mahosadhapaṇḍita coi thường ta, không còn tôn trọng ta là Đức-vua nữa. Chính sứ giả Kevaṭṭa đã tâu với ta rằng: “Tâu Đại-vương, Chúa-thượng của hạ thần là Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta nhận xét thấy Đại- vương là người xứng đáng kết tình thân thiện, nên muốn ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đại-vương để làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videharaṭṭha kết tình thân thiện lẫn nhau, thần dân thiên hạ của hai đất nước sống trong cảnh thanh bình an-lạc.

    Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta xin mời Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, rồi đón rước Công-chúa ngự trở về kinh-thành Mithilā này.”

    Sau khi nhớ lại lời tâu của sứ giả Kevaṭṭa như vậy, Đức-vua Vedeha nổi cơn thịnh nộ truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi dám coi thường Trẫm, ví Trẫm như con nai đực say mê con nai cái, như con cá say mê miếng mồi.

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là con trai sống trong xóm nhà vùng lúa, chỉ biết cày ruộng mà thôi. Làm sao ngươi có thể biết được sự hạnh phúc an-lạc đế vương như sứ giả Kevaṭṭa và bốn vị quân-sư của Trẫm được.

    Mahosadhapaṇḍita này làm cản trở sự hạnh phúc an- lạc của Trẫm, cản trở Trẫm làm lễ thành hôn với Công- chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Vậy, các khanh hãy tống cổ nó ra khỏi nơi này, các khanh hãy đuổi nó ra khỏi đất nước của Trẫm, bởi Mahosadhapaṇḍita không giúp Trẫm làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, mà còn cản trở không muốn Trẫm ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết rằng: “Đức-vua Vedeha truyền bảo như vậy trong cơn thịnh nộ, nhưng thật ra, Đức-vua rất thương yêu, nên Đức-Bồ-tát đảnh lễ Đức-vua rồi xin phép trở về tư dinh của mình.”

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Vì nghe những lời tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, nên Đức-vua phát sinh tâm tham-ái, say mê Công-chúa Pañcālacandī mà không biết đến sự tai hoạ sẽ xảy ra đến với mình. Ta phải tìm cách phá mỹ-nhân-kế của quân-sư Kevaṭṭa này và cố gắng giúp cho Đức Phụ-vương của ta được toại nguyện như ý, làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, rồi rước về làm Chánh-cung Hoàng-hậu. Bởi vì, Đức- vua là Đức Phụ-vương của ta, đã nuôi dưỡng ta từ khi mới lên bảy tuổi cho đến nay, đã ban cho ta chức trọng quyền cao nhất, quan Thừa-tướng (senāpati) trong triều đình.

    Vậy, ta phải có bổn phận bảo vệ Đức-vua cho được an tòan sinh-mạng và giúp cho Đức-vua làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī cho được toại nguyện như ý.

    Trước tiên, ta cần phải nhờ con vẹt Suvapaṇḍita (con vẹt trí-tuệ) bay đi do thám tìm hiểu sự thật như thế nào.”

    Nghĩ xong Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gọi con vẹt Suvapaṇḍita, bảo rằng:

    - Này Suvapaṇḍita con yêu quý! Ta nhờ con giúp một việc, vì việc này loài người không thể làm được.

    Con vẹt Suvapaṇḍita thưa rằng:

    - Kính thưa Ông chủ, Ông chủ muốn cho con giúp việc gì vậy?

    - Này Suvapaṇḍita yêu quý! Ta được người lính điệp viên bảo rằng: “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân- sư Kevaṭṭa bàn bạc chuyện bí mật trong phòng ngủ của Đức-vua trên lâu đài, chỉ có hai người biết mà thôi, tại cửa sổ phòng ngủ của Đức-vua có con sáo mái Sāḷikā biết nghe và nói tiếng người, chắc chắn con sáo mái Sāḷikā sẽ nghe được chuyện bí mật ấy.”

    Bây giờ, ta nhờ con bay đến gặp con sáo mái Sāḷikā ấy, con khéo tán tỉnh rồi tỏ tình yêu thương tha thiết với nó, rồi hỏi nó về chuyện bí mật của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa cho đầy đủ. Con cẩn thận đừng để cho ai biết, nếu có ai biết được thì sinh- mạng của con không được an toàn đâu nhé!

    Con Vẹt Suvapaṇḍita Với Con Sáo Mái Sāḷikā

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita lấy dầu thoa đôi cánh, thân mình rồi cho con vẹt Suvapaṇḍita ăn uống những thứ đồ ăn bổ dưỡng. Con vẹt Suvapaṇḍita đảnh lễ Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, rồi bay nhanh như gió đến kinh-thành Ariṭṭhā trong nước Sivi. Từ đó, con vẹt Suvapaṇḍita bay đến kinh-thành Uttarapañcāla, đậu một chỗ cao trên lâu đài, gần chỗ ở của con sáo mái Sāḷikā, đứng trên đỉnh hót ra âm thanh hay ngọt ngào yêu thương quyến rũ. Con sáo mái Sāḷikā nghe hiểu rõ rồi trả lời với giọng ngọt ngào yêu thương, mời mọc đến.

    Con vẹt Suvapaṇḍita bay đến đứng gần hỏi thăm con sáo mái Sāḷikā rằng:

    - Này bạn Sāḷikā yêu quý! Bạn có được khoẻ mạnh không? Hằng ngày bạn có được vật thực ngon lành đầy đủ chứ?

    - Này bạn Suvapaṇḍita! Tôi vẫn được khoẻ mạnh, hằng ngày tôi vẫn được những thứ vật thực ngon lành đầy đủ.

    - Này bạn Suvapaṇḍita! Bạn từ đâu đến đây? Ai bảo bạn đến đây?

    Nghe con sáo mái Sāḷikā hỏi như vậy, con vẹt Suvapaṇḍita nghĩ rằng: “Ta không nên nói thật là ta từ kinh-thành Mithilā bay đến mà nên nói dối”, nên nó trả lời rằng:

    - Này bạn Sāḷikā yêu quý! Tôi là con chim được nuôi dưỡng tại nơi phòng ngủ của Đức-vua Sivi. Đức-vua thả tôi bay ra ngoài đi dạo chơi cho khuây khỏa.

    Con sáo mái Sāḷikā tiếp đãi con vẹt Suvapaṇḍita món gạo rang trộn với mật ong. Sau khi con vẹt ăn uống no đủ rồi, con sáo hỏi rằng:

    - Này Suvapaṇḍita! Bạn bay đến đây có việc gì không?

    - Này bạn Sāḷikā yêu quý! Trong thời gian qua, vợ của tôi là sáo mái Sāḷikā, có giọng nói ngọt ngào như bạn, bị con diều bắt ăn thịt, tôi buồn khổ, nhớ thương vợ của tôi. Nhìn thấy hoàn cảnh khổ đau, cô đơn, đáng thương của tôi, nên Đức-vua của tôi truyền bảo rằng:

    “- Này Suvapaṇḍita! Nghe nói có một cô sáo Sāḷikā có giới hạnh tốt, có cử chỉ đáng yêu. Cô sáo Sāḷikā ấy được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nuôi dưỡng tại cửa sổ phòng ngủ của Đức-vua. Con nên bay đến thăm cô Sāḷikā ấy, con xem cô Sāḷikā ấy có đáng yêu không? Và con hỏi cô Sāḷikā ấy có yêu con không? Chuyện như thế nào, con bay về báo tin cho Trẫm biết”. Đó là nguyên nhân tôi đến thăm nàng hôm nay.

    - Này nàng Sāḷikā yêu quý! Tôi xin nói thật tình, nhìn thấy nàng, tôi cảm thấy yêu nàng tha thiết. Nếu nàng đáp lại tình yêu tha thiết của tôi thì tôi và nàng sẽ kết duyên vợ chồng với nhau cho đến trọn đời.

    Nghe lời tỏ tình yêu thương tha thiết của Suvapaṇḍita, cô sáo Sāḷikā cảm thấy vô cùng sung sướng, nhưng chưa muốn cho con Suvapaṇḍita biết mình cũng yêu tha thiết mà làm bộ như không yêu nên nói rằng:

    - Này bạn Suvapaṇḍita! Thông thường vẹt trống (suva) yêu vẹt mái (suvi), sáo trống (sāḷika) yêu sáo mái (sāḷikā) cùng nòi giống với nhau. Còn đây, vẹt trống lại yêu sáo mái, cảm thấy sao khó nói quá!

    Nghe cô Sāḷikā nói úp úp mở mở không chịu nói thẳng ra, nhưng cậu Suvapaṇḍita đoán biết trong lòng cô Sāḷikā đã yêu mình rồi, nên giải thích cho cô hiểu rằng:

    - Này nàng Sāḷikā yêu quý! Tình yêu giữa đôi bên khác phái chỉ có tâm thương yêu tha thiết với nhau là chính, còn nòi giống khác nhau không là quan trọng đâu.

    Suvapaṇḍita (con vẹt trống) đem tích quá khứ giải thích cho Sāḷikā (con sáo mái) nghe để thông cảm rằng:

    - Tình yêu phát sinh do tâm thương yêu lẫn nhau là chính, không phân biệt giai cấp thấp cao, nòi giống.

    Ví như:

    - Này nàng Sāḷikā yêu quý! Người con gái xinh đẹp tên Jampāvati, vốn là phụ-nữ thuộc giai cấp thấp hèn, nhưng cô được Đức-vua Vāsudeva đem lòng thương yêu, đưa về cung. Đức-vua Vāsudeva tấn phong cô lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu. Về sau, Chánh-cung Hoàng- hậu Jampāvati sinh hạ Thái-tử tên Sivi. Khi Đức-vua Vāsudeva băng hà, Thái-tử Sivi lên nối ngôi vua cha, ngự tại kinh-thành Dvāravatī.

    Như vậy, Đức-vua Vāsudeva thuộc giai cấp vua chúa, còn kết hôn với cô Jampāvati, thuộc giai cấp thấp hèn được. Hai chúng ta đều là loài chim với nhau, tại sao không thể kết duyên vợ chồng với nhau được?

    - Này nàng Sāḷikā yêu quý! Con kinnarī cái tên là Raṭṭhavadī ăn ở chung sống với đạo-sĩ tên Vaccha, sinh ra các con trai, con gái của họ.

    Như vậy, loài súc sinh Kinnarī cái ăn ở chung sống với loài người, vị đạo-sĩ Vaccha được. Hai chúng ta đều là loài chim với nhau, tại sao không thể kết duyên vợ chồng với nhau được?

    Nghe con vẹt Suvapaṇḍita giải thích tán tỉnh như vậy, con sáo mái Sāḷikā thưa rằng:

    - Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Thật vậy, tình yêu phát sinh do tâm thương yêu lẫn nhau là chính, không phân biệt giống nòi, nhưng tâm thương yêu ấy có tồn tại mãi mãi được hay không? Khi em thương yêu anh, hai chúng ta trở thành vợ chồng với nhau, nếu một ngày kia phải xa lìa nhau thì chắc chắn em sẽ khổ lắm.

    Con vẹt Suvapaṇḍita có trí-tuệ, rất thông minh, hiểu biết được tính tình con sáo mái Sāḷikā, nên hỏi rằng:

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Em nói như vậy, có nghĩa là em không tin anh tha thiết thương yêu em, để cùng em chung sống với nhau suốt đời. Anh vô cùng thất vọng.

    Vậy, anh xin từ giã em!

    Nghe Suvapaṇḍita nói như vậy, Sāḷikā cảm thấy như trái tim của nó bị vỡ vì quá yêu thương Suvapaṇḍita, nó thưa rằng:

    - Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Sự hạnh phúc an- lạc không có đối với người nóng nảy, vội vã. Chuyện vợ chồng chung sống với nhau, đó là điều tối hệ trọng cả cuộc đời, cần phải nên suy xét kỹ trước khi quyết định.

    Vậy, xin anh chớ vội đi đâu, mời anh ở lại đây, rồi em sẽ cho biết tình cảm yêu thương của em đối với anh.

    Sau đó con sáo mái Sāḷikā tỏ tình cảm tha thiết thương yêu con vẹt Suvapaṇḍita. Hai con chim âu yếm nhau trong tình cảm vợ chồng ngay vào chiều hôm ấy. Con vẹt Suvapaṇḍita đã chiếm được tình cảm của con sáo mái Sāḷikā. Trong khi chuyện trò tâm sự với nhau, con vẹt Suvapaṇḍita tìm cơ hội hỏi về chuyện Công- chúa Pañcālacandī rằng:

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Anh nghe người ta lan truyền tin rằng: “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ ban Công-chúa Pañcālacandī rất xinh đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha ngự tại kinh-thành Mithilā, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để tổ chức làm lễ thành hôn Công-chúa Pañcālacandī với Đức-vua Vedeha, rồi rước trở về kinh-thành Mithilā. Chuyện ấy có thật hay không?

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Nếu thật như vậy, thì em biết do nguyên nhân nào mà Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha vốn là kẻ thù trước đây của mình, mà lại không ban Công-chúa xinh đẹp tuyệt trần đến một Đức-vua chư hầu nào của mình, vậy em?

    Nghe con vẹt Suvapaṇḍita hỏi như vậy, con sáo mái Sāḷikā thưa rằng:

    - Này anh Suvapaṇḍita yêu quý! Tại sao anh nói đến chuyện bất hạnh ấy, trong khi chúng ta đang hưởng mọi sự hạnh phúc an-lạc như thế này?

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Chuyện lễ thành hôn của Công-chúa Pañcālacandī với Đức-vua Vedeha, tại sao em lại nói là chuyện bất hạnh?

    - Này anh Suvapaṇḍita yêu quý! Cầu xin chuyện lễ thành hôn khủng khiếp ấy đừng bao giờ xảy đến với Đức-vua Vedeha.

    Con vẹt Suvapaṇḍita khẩn khoản năn nỉ con sáo mái Sāḷikā giải thích tại sao nó không dám nói. Con vẹt Suvapaṇḍita nói rằng:

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Hai chúng ta đã là vợ là chồng của nhau rồi, chỉ có chuyện nhỏ ấy mà em không tâm sự cho anh biết, thì tình nghĩa vợ chồng còn có nghĩa gì nữa!

    Nghe con vẹt Suvapaṇḍita trách như vậy, để bảo vệ tình nghĩa vợ chồng, sự hạnh phúc an-lạc, chiều lòng người yêu, nên con sáo mái Sāḷikā không cần phải giấu giếm chuyện người khác nữa, nàng thật tình thố lộ cho người yêu biết rằng:

    - Này anh Suvapaṇḍita yêu quý! Nếu vậy thì anh nghe em nói. Tại phòng ngủ lâu đài của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, em nghe vị quân-sư Kevaṭṭa tâu chuyện bí mật với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    “- Tâu Chúa-thượng, Công-chúa Pañcālacandī của Chúa-thượng có sắc đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ. Chúa-thượng nương nhờ Công-chúa làm mỹ-nhân-kế dụ Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để làm lễ thành hôn với Công-chúa, chắc chắn Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita đi theo hộ giá.

    Như vậy, hai người ấy ở trong tay của ta, ví như nai bị mắc bẫy, cá bị cắn câu, không còn đường nào trốn thoát được nữa.

    Chúa-thượng truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadha đem ra chém đầu, để trả thù, rồi Chúa-thượng truyền lệnh tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Khi ấy, Chúa-thượng đương nhiên sẽ được suy tôn là Đại-vương cao cả nhất (aggamahārājā) làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.”

    - Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Đó là lý do mà em nói rằng: Chuyện lễ thành hôn khủng khiếp ấy, xin đừng bao giờ xảy đến với Đức-vua Vedeha.

    Con sáo mái Sāḷikā nói cho con vẹt Suvapaṇḍita biết đầy đủ chuyện bí mật của vị quân-sư Kevaṭṭa và Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta. Nghe con sáo mái Sāḷikā nói chuyện bí mật ấy, con vẹt Suvapaṇḍita nói rằng:

    - Quân-sư Kevaṭṭa là người có nhiều mưu kế thâm độc, giỏi thật!

    Con sáo mái Sāḷikā nói rằng:

    - Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Lợi ích gì những chuyện bất hạnh ấy đối với chúng ta, tốt nhất, chúng ta nên đi ngủ.

    Con vẹt Suvapaṇḍita vô cùng hoan hỷ vì đã hoàn thành xong phận sự trong chuyến đi này. Suvapaṇḍita sống chung với con sáo mái Sāḷikā trong đêm hôm ấy.

    Sáng dậy, con vẹt Suvapaṇḍita nói với con sáo mái Sāḷikā rằng:

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Xin em cho phép anh đi trong vòng bảy ngày để anh tâu lên Đức-vua Sivi và Chánh-cung Hoàng-hậu biết rằng:

    “- Con đã tìm được nàng Sāḷikā đáng yêu xứng đáng với con rồi, để Đức-vua Sivi và Chánh-cung Hoàng-hậu tác hợp cho anh và em thành vợ chồng với nhau.

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Xin em vui vẻ hoan hỷ cho phép anh đi, em ở lại chớ nên buồn, đợi anh trở lại.”

    Nghe Suvapaṇḍita nói như vậy, Sāḷikā nghĩ: “Tình nghĩa vợ chồng mới hợp lại phải xa nhau đến bảy ngày đêm dài, nhưng không cho phép cũng không được”, nên Sāḷikā thưa rằng:

    - Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Em đồng ý cho phép anh đi, chỉ trong vòng bảy ngày mà thôi. Nếu anh không trở lại gặp em trong ngày thứ bảy thì chắc chắn em sẽ không thể sống thêm được nữa.

    - Này em Sāḷikā yêu quý! Em chớ nên nói như vậy, nếu anh không thấy em trong ngày thứ bảy thì chắc chắn anh cũng không thể sống thêm được nữa. Em hãy an tâm chờ đợi anh.

    Nói xong, con vẹt Suvapaṇḍita vội vã bay về kinh- thành Mithilā vào tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita, đậu trên vai của Đức-Bồ-tát. Biết có chuyện bí mật, Đức-Bồ-tát ẵm Suvapaṇḍita lên trên lầu đài tầng cao, chỉ có Đức-Bồ-tát và Suvapaṇḍita mà thôi.

    Con vẹt Suvapaṇḍita thuật lại cho Đức-Bồ-tát nghe đầy đủ chuyện bí mật giữa quân-sư Kevaṭṭa với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tại trên lâu đài phòng ngủ của Đức-vua.

    Nghe con vẹt Suvapaṇḍita thuật lại đầy đủ câu chuyện bí mật ấy, Đức-Bồ-tát suy xét rằng:

    “Dù ta khuyên can Đức-vua Vedeha không nên đến kinh-thành Uttarapañcāla thì Đức-vua cũng vẫn ngự đến nơi đó.

    Nếu Đức-vua ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla thì chắc chắn Đức-vua sẽ bị chém đầu tại nơi đó.

    Đức-vua là Đức Phụ-vương của ta, đã ban cho ta chức trọng quyền cao nhất trong triều đình, nếu ta không đền đáp công ơn Đức-vua thì ta không tránh khỏi bậc thiện-trí chê trách. Ta là người biết ơn và biết đền ơn Đức-vua.

    Vì vậy, ta phải nên đến kinh-thành Uttarapañcāla chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta trước, kính xin Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta cho phép xây dựng một cung điện, để đón rước Đức-vua Vedeha.

    Nhân cơ hội ấy, ta sẽ bí mật đào một con đường hầm rộng lớn dưới đất để đưa Công-chúa Pañcālacandī đến chầu Đức-vua Vedeha, và để cứu nguy cho Đức-vua bằng con đường hầm ấy.

    Đức Phụ-vương của ta ngự trở về kinh-thành Mithilā được an tòan sinh-mạng, mà Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta không sao ngờ được. Đó là phận sự mà ta cần phải thực hiện.”

    Suy xét như vậy xong, Đức-Bồ-tát cảm thấy vô cùng hoan hỷ, tự thốt lên rằng:

    “Ta phải là người biết ơn và biết đền ơn đối với Đức- vua Vedeha, Đức Phụ-vương của ta. Đức-vua đã ban cho ta chức trọng quyền cao, ta đã hưởng bỗng lộc của Đức-vua ban, nên ta phải hết lòng lo phụng sự Đức-vua.

    Dù Đức-vua nổi cơn thịnh nộ quở mắng ta, ta vẫn nhẫn-nại chịu đựng mà không hề phát sinh tâm sân, không hài lòng. Ta phải có bổn phận biết ơn và biết đền ơn Đức Phụ-vương của ta.”

    Sau đó, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến chầu Đức- vua Vedeha, đứng một nơi hợp lẽ, tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương có ý định ngự đến kinh- thành Uttarapañcāla hay không?

    - Này Mahosadhapaṇḍita con yêu quý! Phụ-vương dự định sẽ ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla. Nếu Phụ- vương làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī thì ngai vàng của Phụ-vương được bền vững lâu dài.

    Xin con đừng bỏ Phụ-vương, con nên đi theo Phụ- vương vì được hai điều lợi lớn:

    1- Phụ-vương được thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    2- Phụ-vương được kết tình thân với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tại kinh-thành Uttarapañcāla như vậy, Phụ- vương ngự trên ngai vàng này sẽ được bền vững lâu dài.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, nếu Đức Phụ-vương muốn như vậy thì con phải đi đến kinh-thành Uttarapañcāla trước, vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta xin phép xây dựng một cung điện để đón rước Đức Phụ-vương.

    Khi nào xây dựng cung điện xong, con sẽ ra lệnh người lính về tâu trình lên Đức Phụ-vương rõ. Khi ấy. Đức Phụ-vương sẽ ngự đi đến kinh-thành Uttara-pañcāla.

    Nghe hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức- vua Vedeha vô cùng hoan hỷ nghĩ rằng: “Mahosadha con của ta chiều theo ý muốn của ta”, nên truyền bảo rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Con đi đến kinh-thành Uttarapañcāla trước, để xây dựng cung điện, con cần có những thứ gì vậy con?

    - Tâu Đức Phụ-vương, con cần quân lính và các phương tiện.

    - Này hoàng-nhi yêu quý! Con cần có những thứ gì, Phụ-vương đều cho phép những thứ ấy.

    - Tâu Đức Phụ-vương, xin phép Đức Phụ-vương mở cửa 4 nhà tù, thả những tù nhân nào khỏe mạnh, để họ đi theo giúp con.

    Đức-vua Vedeha chuẩn tấu theo lời tâu xin của Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, nên số đông tù nhân được tự do đi theo giúp Đức-Bồ-tát.

    Xây Dựng Cung Điện Và Đường Hầm (Umaṅga(3))

    Được sự chuẩn y của Đức-vua Vedeha, quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita dẫn theo 18 đội binh và số đông tù nhân khỏe mạnh, các nhóm thợ mộc, thợ nề tài giỏi, nhóm hoạ sĩ, v.v... đem theo đầy đủ các dụng cụ cần thiết để xây dựng.

    Quan Thừa-tướng dẫn đầu đoàn người đông đảo rời khỏi kinh-thành Mithilā đi đến kinh-thành Uttara- pañcāla, cứ mỗi đoạn đường cách một do-tuần quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cho đoàn người dừng lại, ra lệnh xây dựng một ngôi nhà nghỉ, để lại một vị quan cùng với các quan sở tại, lo chuẩn bị tiếp đón Đức-vua Vedeha ngự đến nghỉ ngơi và để thay voi, ngựa, xe mới, trên con đường ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla và ngự trở về kinh-thành Mithilā.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh các quan cần phải phục vụ chu đáo và bảo vệ Đức-vua Vedeha cho được an tòan.

    Khi đến con sông Gaṅgā, quan Thừa-tướng truyền bảo vị quan Ānanda rằng:

    - Này Ānanda! Ngươi hãy dẫn 300 người thợ mộc vào rừng đốn 300 cây gỗ quý rồi chở trên các chiếc thuyền đem về gấp để xây cất cung điện mới.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đi xem chọn chỗ đất xây dựng cung điện mới, để đón rước Đức-vua Vedeha, và đi thăm dò chỗ để đào con đường hầm từ chỗ xây dựng cung điện mới đến bờ sông Gaṅgā có chiều dài hơn 10 cây số, và từ chỗ cung điện mới đến cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta trong kinh- thành Uttarapañcāla có chiều dài khoảng 5 cây số.

    Vậy, con đường hầm có chiều dài khoảng 15 cây số. Sau khi đã chọn chỗ xây dựng cung điện mới và con đường hầm xong. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đi vào kinh-thành Uttarapañcāla. Lính gác cửa thành đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, sứ giả Mahosadhapaṇḍita của Đức-vua Vedeha đã đến kinh-thành Uttarapañcāla, xin vào yết kiến Đại-vương.

    Nghe người lính tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ nghĩ rằng:

    “Mưu kế của ta sẽ được thành tựu như ý, Mahosadha- paṇḍita đến trước, rồi Đức-vua Vedeha không lâu cũng sẽ đến sau. Ta sẽ truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Mahosadhapaṇḍita kẻ thù của ta chém đầu cùng một lúc, rồi ta sẽ tổ chức uống rượi ăn mừng chiến thắng.

    Khi ấy, ta sẽ là Đại-vương cao cả nhất, làm bá chủ trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.”

    Nghĩ xong, Đức-vua truyền lệnh cho mời vào.

    Nghe tin quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đến kinh-thành Uttarapañcāla, dân chúng trong kinh-thành xôn xao náo nức bàn tán với nhau rằng:

    - Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-trí đã dùng mưu kế kỳ diệu làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu và đoàn quân binh lính đông đảo 18 Akkhobhinī (18x1042) quân bỏ chạy thoát thân, không kịp mặc áo, như người chỉ cần ném một cục đất cũng đuổi được bầy quạ.

    Khi quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đi vào cửa kinh-thành, trên đường đi đến cung điện Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, dân chúng trong kinh-thành đứng hai bên đường nhìn thấy quan Thừa-tướng có các tướng tốt của bậc đại-nhân, mọi người đều kính phục. Các quan vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, sứ giả Mahosadhapaṇḍita đã đến, kính xin yết kiến Đại-vương.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cho phép sứ-giả Maho- sadhapaṇḍita vào yết kiến. Sứ-giả Mahosadha yết kiến Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta theo nghi lễ của vị sứ giả xong, đứng một nơi hợp lẽ. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời Ngài ngồi một nơi hợp lẽ, rồi truyền bảo rằng:

    - Này sứ-giả Mahosadhapaṇḍita! Đức-vua Vedeha của ngươi khi nào mới ngự đến?

    - Tâu Đại-vương, Đức-vua Vedeha của hạ thần sẽ ngự đến, khi nào hạ thần ra lệnh các quan về tâu.

    - Này sứ-giả Mahosadhapaṇḍita! Ngươi đến trước để chuẩn bị việc gì vậy?

    - Tâu Đại-vương, hạ thần đến trước xây dựng một cung điện, để đón tiếp Đức-vua Vedeha của hạ thần.

    - Này sứ-giả Mahosadhapaṇḍita! Tốt lắm! Vậy, ngươi cần Trẫm giúp đỡ gì không?

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương ban cho chúng thần chỗ ở, đồ ăn uống, nhu cầu cần thiết, những dụng cụ, phương tiện.

    - Này sứ giả Mahosadhapaṇḍita! Ngươi hãy an tâm, Trẫm ban cho các ngươi đầy đủ những nhu cầu cần thiết, những dụng cụ, phương tiện cho đến khi Đức-vua Vedeha của các ngươi ngự đến đây.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đi quan sát, đứng lại chỗ cầu thang cũ lên lâu đài, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Cửa đường hầm sẽ ở tại đây, cần phải giữ mặt đất như cũ”, nên Đức-Bồ-tát tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần xem xét thấy cầu thang cũ này không cân xứng với lâu đài nguy nga tráng lệ của Đại-vương.

    Hạ thần có nhóm thợ mộc tài giỏi, khéo tay. Vậy, kính xin Đại-vương cho phép hạ thần sửa chữa cầu thang cũ này lại cho đẹp đẽ và chắc chắn xứng đáng với ngôi lâu đài này.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī hoan hỷ truyền rằng:

    - Này sứ giả Mahosadhapaṇḍita! Nếu ngươi có khả năng sửa chữa cầu thang cũ này lại cho đẹp đẽ và chắc chắn thì Trẫm rất hoan hỷ cho phép ngươi.

    Được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cho phép, Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita truyền bảo nhóm thợ mộc tháo cái cầu thang cũ, đem những tấm ván tốt chắc chắn lót trên nền mặt đất, làm lại cái cầu thang mới bằng thứ gỗ quý, với đường nét chạm trỗ rất xinh đẹp tuyệt vời với thời gian ngắn.

    Nhìn thấy cái cầu thang mới xinh đẹp, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rất hài lòng vô cùng hoan hỷ tán dương ca tụng sứ giả Mahosadhapaṇḍita là người có óc mỹ thuật cao, thật đáng khen ngợi. Khi ấy, Đức-Bồ-tát tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương cho phép hạ thần tìm chỗ thích hợp để xây dựng một cung điện mới, để đón tiếp Đức-vua Vedeha của hạ thần.

    - Này sứ giả Mahosadhapaṇḍita! Ngươi xem xét thấy chỗ nào thích hợp xây dựng cung điện mới thì ngươi tâu cho Trẫm biết, Trẫm sẽ cho phép.

    Thật ra, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta muốn cho Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita xây dựng một cung điện mới sớm được hoàn thành, đón tiếp Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla này, để bắt giết Đức-vua Vedeha và Mahosadhapaṇḍita càng sớm càng tốt.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu tiếp rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần xem xét thấy rằng, nếu hạ thần xây dựng một cung điện mới gần cung điện của Đại-vương thì cần phải di dời một số nhà, làm phiền phức dân chúng trong kinh-thành. Cho nên, hạ thần kính xin Đại-vương cho phép hạ thần xây dựng một cung điện mới cách xa cung điện của Đại-vương khoảng 5 cây số.”

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī vô cùng hoan hỷ nghĩ rằng: “Quân lính ta chiến đấu với quân lính của Đức-vua Vedeha bên trong kinh-thành Uttarapañcāla, đó là điều rất khó khăn đối với ta, còn chiến đấu bên ngoài kinh-thành đó là điều quá dễ dàng thuận lợi cho ta, để bắt Đức-vua Vedeha và Mahosadha, nhất là dân chúng trong kinh-thành không thấy cảnh chết chóc giữa hai quân lính với nhau”. Cho nên, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta liền truyền bảo rằng:

    - Này sứ giả Mahosadhapaṇḍita! Ý kiến của ngươi hay lắm! Trẫm cho phép ngươi chọn chỗ nào thích hợp, rồi xây dựng một cung điện mới, để đón tiếp Đức-vua Vedeha của ngươi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương đã ban cho khoảng đất, để cho chúng thần xây dựng một cung điện mới.

    Vậy, kính xin Đại-vương truyền cho dân chúng không được phép vào trong vùng đất mà chúng thần đang xây dựng cung điện mới ấy, để tránh sự đụng chạm giữa công nhân của hạ thần với dân chúng.

    - Này sứ giả Mahosadhapaṇḍita! Điều người tâu rất hợp lý, Trẫm sẽ truyền lệnh cấm dân chúng không được phép đi vào vùng đất đang xây dựng cung điện mới ấy.

    - Tâu Đại-vương, đàn voi của hạ thần thích xuống sông Gaṅgā tắm chơi, làm cho dòng nước đục. Nếu dân chúng không hài lòng tâu lên Đại-vương, kính xin Đại- vương tha tội cho hạ thần.

    - Này sứ giả Mahosadhapaṇḍita! Thông thường đàn voi thích tắm chơi dưới nước, làm cho dòng nước đục. Trẫm cho phép, nếu dân chúng không hài lòng tâu lên Trẫm thì Trẫm cũng không bắt tội ngươi đâu, ngươi chớ nên lo ngại.

    Mọi điều mà Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu đều được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn y cho phép.

    Thật ra, đã chọn chỗ vùng đất xây dựng một cung điện mới từ trước, nên Đức-Bồ-tát Mahosadha điều hành thi công chia ra thành nhiều nhóm thợ, nhóm thợ xây dựng cung điện mới, nhóm thợ đào con đường hầm, nhóm thợ đóng các chiếc thuyền, v.v... Mỗi nhóm thợ có trưởng nhóm chịu trách nhiệm công việc của nhóm mình.

    Con Đường Hầm (Umaṅga)

    Công việc đào con đường hầm này do nhóm thợ gồm có 6.000 người đảm trách thi công dưới sự điều hành chỉ dẫn của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, con đường hầm dài khoảng 15 cây số, chia làm hai đoạn:

    * Một đoạn từ bờ sông Gaṅgā đến cung điện mới của Đức-vua Vedeha có chiều dài khoảng 10 cây số.

    * Một đoạn từ cung điện mới của Đức-vua Vedeha đến cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có chiều dài khoảng 5 cây số đi thông đến cửa hầm tại bờ sông Gaṅgā.

    Khi đào con đường hầm, tất cả số đất đá trong hầm được đem ra đổ ngoài sông Gaṅgā làm cho dòng nước sông Gaṅgā chảy đục, dân chúng ở phía dưới dòng sông Gaṅgā chịu cảnh dùng nước đục, nên phàn nàn rằng:

    - Từ ngày sứ-giả Mahosadhapaṇḍita đến đây xây dựng cung điện mới, chúng ta phải dùng nước đục.

    Dân chúng phàn nàn kêu ca, tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nhưng Đức-vua đã cho phép Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rồi, nên Đức-vua khuyên dân chúng nhẫn nại chịu đựng một thời gian ngắn, khi xây dựng cung điện mới xong, chắc chắn tình trạng này sẽ không còn nữa. (Bởi vì khi cung điện mới xong, Đức-vua Vedeha ngự đến, đó là lúc Đức-vua Vedeha và Mahosadha- paṇḍita đều bị giết chết cả.)

    Biết dân chúng phàn nàn như vậy, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phát nguyện bằng lời chân thật rằng:

    - Xin cho dòng nước trong trẻo tự nhiên như trước.

    Do nguyện lực của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, tất cả đất, đá, v.v... từ trong đường hầm đem đổ xuống dòng sông Gaṅgā đều chìm xuống sâu, nên dòng nước không còn bị đục nữa. Từ đó, dân chúng dùng nước dòng sông Gaṅgā trong trẻo như xưa, nên không còn phàn nàn gì nữa.

    * Con đường hầm dài 15 cây số, có chiều cao 10 cùi tay, bề rộng voi, ngựa, xe có thể đi lại dễ dàng, chia làm hai đoạn:

    - Một đoạn từ cửa hầm lớn tại bến sông Gaṅgā dẫn đến cửa hầm tại dưới cầu thang cung điện mới của Đức- vua Vedeha, có chiều dài khoảng 10 cây số, để cứu nguy Đức-vua Vedeha cùng đoàn hộ giá thoát nạn.

    - Một đoạn từ cung điện mới của Đức-vua Vedeha dẫn đến cửa hầm dưới cầu thang lâu đài của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có chiều dài khoảng năm cây số, đi thông đến cửa hầm tại bờ sông Gaṅgā, để đón rước bốn hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, đến yết kiến Đức-vua Vedeha.

    Bên trong con đường hầm, hai bên vách tường được xây bằng gạch, phía dưới được lót bằng gỗ, trần được đóng bằng gỗ, có chạm trỗ hoa văn, dọc theo con đường hầm, hai bên vách tường được các họa sĩ tài ba vẽ những cảnh thật xinh đẹp lạ thường, làm cho người đi xem không biết chán.

    Trong đoạn đường hầm từ cung điện mới của Đức- vua Vedeha dẫn đến cửa hầm bến sông Gaṅgā khoảng 10 cây số có hai phòng lớn làm nơi hội triều, được trang hoàng lộng lẫy, có hình chư thiên đứng hầu như thật, có ngai vàng bên trên có lọng trắng, hai bên có các quan đứng chầu, để dành cho Đức-vua Vedeha, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, có 101 phòng nhỏ được trang hoàng lộng lẫy để dành cho 101 Đức-vua chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Trong con đường hầm có 80 cửa lớn và 64 cửa nhỏ.

    Các cửa này được mở hoặc đóng bằng máy do người điều khiển, hễ khi đóng cửa thì tất cả các cánh cửa đều đóng, hoặc khi mở cửa thì tất cả các cánh đều mở.

    Trong suốt con đường hầm có các ngọn đèn sáng hai bên vách, các ngọn đèn này được cháy sáng hoặc tắt do người điều khiển, hễ khi mở đèn thì tất cả ngọn đèn sáng chói rực rỡ cùng một lúc, như trên cõi trời và khi tắt đèn thì tất cả ngọn đèn đều tắt cùng một lúc, tối tăm như cõi địa ngục.

    Trong suốt con đường hầm có mùi thơm nước hoa, có các cảnh vật được trang hoàng dọc theo con đường hầm.

    Con đường hầm (Umaṅga) này được thiết kế và thi công do trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama. Vì vậy, tích này còn có tên là “Umaṅgajātaka” Tích con đường hầm được xây dựng do Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama.

    Cung Điện Mới

    Cung điện mới được xây dựng rất đồ sộ, nguy nga, để đón tiếp Đức-vua Vedeha, có hồ nước lớn đủ các loại hoa sen, hoa súng, có thành lũy cao 18 cùi tay bao quanh cung điện. Cửa thành bốn hướng có đài cao lính canh gác, có đường nước rộng bao xung quanh bên ngoài bức thành luỹ ấy. Đặc biệt có cửa hầm bí mật nằm dưới cầu thang thông ra đường hầm dẫn đến cửa hầm lớn tại bờ sông Gaṅgā.

    Một nhóm thợ đóng thuyền đóng 300 chiếc thuyền xong và chờ đợi trên sông Gaṅgā. Khi có lệnh của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, các chiếc thuyền được di chuyển đến ngay tức khắc. Tất cả mọi công việc được hoàn thành trong vòng bốn tháng.

    Khi ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho các quan trở về kinh-thành Mithilā, tâu lên Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, cung điện đã hoàn thành xong, kính thỉnh Bệ-hạ ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla.

    Nghe các quan của quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ truyền lệnh cho bốn vị quân-sư, các quan trong triều, bốn đội binh đi theo hộ giá. Đức-vua Vedeha ngự lên con voi báu, dẫn đầu rời khỏi kinh-thành Mithilā cùng với đoàn hộ giá đông đảo. Đức-vua Vedeha ngự đi qua mỗi đoạn đường khoảng một do tuần có trạm nghỉ, dừng lại nghỉ ngơi, rồi thay đổi voi, ngựa, xe mới, để tiếp tục suốt cuộc hành trình như vậy, tuần tự đến bờ sông Gaṅgā.

    Tại nơi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita chờ đón rước Đức-vua Vedeha cùng các quan, các đội binh, Đức- Bồ-tát thỉnh Đức-vua ngự đến cung điện mới thật nguy nga tráng lệ. Đức-vua Vedeha nghỉ ngơi trong một căn phòng có long sàng sang trọng trong cung điện.

    Sau đó, Đức-vua Vedeha tắm rửa sạch sẽ, dùng vật thực ngon lành nơi phòng ăn sang trọng, Đức-vua không quan tâm đến phần mỹ thuật của cung điện, bởi vì tâm mong muốn sớm được gặp mặt Công-chúa Pañcālacandī, nên Đức-vua Vedeha truyền sứ giả đem tấu thư dâng lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    “Tâu Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta, bổn vương Vedeha từ kinh-thành Mithilā đã đến cung điện mới, bên ngoài kinh-thành Uttarapañcāla. Bổn vương kính đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Đại-vương, xin Đại-vương ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần của Đại- vương, được trang điểm đầy đủ các đồ trang sức quý giá, và cho phép cử hành lễ thành hôn với bổn vương, để Công-chúa Pañcālacandī trở thành Chánh-cung Hoàng- hậu của bổn vương.”

    Thật ra, xét về tuổi tác, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tuổi còn nhỏ chỉ đáng tuổi hoàng-tử của Đức-vua Vedeha mà thôi. Bởi vì nghe danh tiếng Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần, Đức-vua Vedeha muốn thành hôn với Công-chúa, nên tôn Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta lên ngôi nhạc Phụ-vương, còn Đức-vua Vedeha trở thành phò mã của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. Vì vậy, Đức-vua Vedeha chịu hạ mình đảnh lễ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, xin thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, để làm Chánh-cung Hoàng- hậu của mình rồi rước về kinh-thành Mithilā.

    Nghe Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, nên Đức-vua Vedeha đã say mê Công- chúa Pañcālacandī mà hoàn toàn không biết đó là mỹ- nhân-kế của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Sự thật, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta lừa Đức-vua Vedeha đến kinh-thành Uttarapañcāla để bắt đem ra chém đầu, chứ không phải ban Công-chúa Pañcālacandī cho Đức-vua Vedeha, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

    Đọc tấu thư của Đức-vua Vedeha, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ nghĩ rằng:

    “Bây giờ kẻ thù của ta không còn đường trốn thoát đâu được nữa. Ta sẽ truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, rồi ta sẽ tổ chức uống rượu, ăn mừng chiến thắng, ta sẽ là Đại-vương cao cả nhất, làm bá chủ trong cõi Nam-thiện bộ-châu này.”

    Để biểu lộ nỗi vui mừng, hoan hỷ, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban cho các sứ giả của Đức-vua Vedeha các phẩm vật quý giá, và gửi đáp lại tấu thư của Đức-vua Vedeha rằng:

    “Tâu Đại-vương Vedeha, Đại-vương đã từ xa ngự đến, bổn vương rất hân hạnh đón tiếp. Xin Đại-vương chọn giờ tốt lành, bổn vương sẽ đưa Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của bổn vương, được trang điểm đầy đủ các đồ trang sức quý giá đến gặp Đại-vương, rồi cho phép làm lễ thành hôn Đại- vương với Công-chúa Pañcālacandī, để Công-chúa Pañcālacandī trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của Đại-vương.”

    Sứ giả của Đức-vua Vedeha đem đáp thư của Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta dâng lên Đức-vua Vedeha.

    Xem đáp thư của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, Đức- vua Vedeha vô cùng hoan hỷ dâng tấu thư đến Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngay rằng:

    “Tâu Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta, bổn vương chọn ngày hôm nay là ngày tốt lành. Kính xin Đại-vương đưa Công-chúa Pañcālacandī của Đại-vương đến, rồi cho phép làm lễ thành hôn Công-chúa Pañcālacandī với bổn vương, để Công-chúa Pañcālacandī trở thành Chánh- cung Hoàng-hậu của bổn vương hôm nay.”

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đáp tấu thư rằng:

    “Xin chuẩn tấu, ngày hôm nay, bổn vương sẽ đưa Công-chúa Pañcālacandī đến, rồi cử hành lễ thành hôn Đại-vương với Công-chúa.”

    Sau khi gởi đáp tấu thư lừa Đức-vua Vedeha như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta liền truyền lệnh cho 101 Đức-vua chư hầu chuẩn bị các đội binh gồm 18 Akkhobhinī chờ lệnh xuất quân.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng: “Cuối đêm nay, ta sẽ truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita, đem chém đầu.

    Ngày mai, chúng ta sẽ tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng. Ta sẽ là Đức-vua cao cả nhất, làm bá chủ tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này”.

    Tuân theo lệnh Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta, 101 Đức-vua chư hầu, các tướng sĩ chuẩn bị sẵn sàng các đội binh gồm 18 Akkhobhinī chờ lệnh xuất quân bao vây cung điện mới của Đức-vua Vedeha.

    Trước khi xuất trận, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đến chầu Mẫu-hậu Calākadevī, rồi truyền gọi Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcāla- canda và Công-chúa Pañcālacandī, để cả bốn vị hoàng thân ngự chung trong phòng của Mẫu-hậu Calākadevī, có quân lính bảo vệ nghiêm ngặt. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đảnh lễ Mẫu-hậu, rồi xin phép lui ra, thân chinh dẫn đầu đoàn quân xuất trận.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cung kính đảnh lễ Đức-vua Vedeha, tiếp đãi, ăn uống xong thỉnh Đức-vua vào nghỉ ngơi trên long sàng trong căn phòng cao sang, bốn vị quân-sư: Senaka, Pukkasa, Kāminda và Devinda, mỗi vị nghỉ ngơi trong mỗi căn phòng sang trọng, các quan mỗi người mỗi phòng nghỉ. Các đoàn binh hộ giá ăn uống, no say xong đều nằm ngủ say, vì đi đường xa mệt mỏi.

    Cung Điện Mới Của Đức-Vua Vedeha Bị Vây Hãm

    Bên ngoài cung điện mới của Đức-vua Vedeha, Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta thân chinh dẫn đầu 101 Đức- vua chư hầu cùng các đội binh gồm 18 Akkhobhinī bao vây xung quanh cung điện 3 vòng, cầm đèn thắp sáng cả vùng, chờ lệnh tiến quân vào chiếm cung điện mới, bắt Đức-vua V edeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita chém đầu.

    Những người lính điệp viên của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita báo cho biết tình hình bên ngoài như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita liền gọi 300 người lính anh dũng của mình đến ra lệnh rằng:

    - Này các ngươi! Các ngươi hãy đi theo đường hầm vào cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, mở miệng hầm dưới cầu thang, lên trên lâu đài của lệnh bà Calākadevī, Mẫu-hậu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, rồi tâu thỉnh Mẫu-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, ngự lên chiếc xe sang trọng đi theo con đường hầm dẫn đến phòng lớn nghỉ. Các ngươi hãy phục vụ chu đáo, chờ lệnh của ta.

    Tuân theo lệnh quan Thừa-tướng Mahosadha, nhóm 300 người lính anh dũng đem chiếc xe sang trọng theo con đường hầm đến cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, mở tấm ván cửa hầm tại cầu thang lên lâu đài của Hoàng- thái-hậu Calākadevī, bắt các người lính gác, các cô tỳ nữ trói lại, nhét khăn vào miệng, đem giấu nơi kín đáo.

    Họ lấy vật thực ăn uống no đủ xong, lên trên phòng Hoàng-thái-hậu Calākadevī gọi cửa, Bà truyền hỏi rằng:

    - Các ngươi gọi có chuyện gì?

    Những người lính tâu rằng:

    - Muôn tâu Lệnh bà Calākadevī, Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta của chúng ta đã chém đầu Đức-vua Vedeha và sứ giả Mahosadhapaṇḍita xong rồi. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua chư hầu, các quan, các tướng sĩ, các đội binh tổ chức đại lễ, uống rượu ăn mừng chiến thắng vinh quang, suy tôn Đại- vương Cūḷanī Brahmadatta là Đại-vương cao cả nhất, làm bá chủ trong toàn cõi Nam-thiện bộ-châu này.

    - Muôn tâu Lệnh bà Calākadevī, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh cho chúng thần đến thỉnh Lệnh bà Calākadevī cùng Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī ngự đến dự đại lễ mừng chiến thắng vinh quang này.

    Nghe nhóm lính tâu rõ như vậy, tin đó là sự thật, nên

    Hoàng-thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī đi theo nhóm lính bước xuống cầu thang lâu đài xuống con đường hầm, ngự lên chiếc xe thật sang trọng, suốt con đường hầm có đèn sáng choang rực rỡ, có thể nhìn dọc theo hai bên vách tường hầm, thấy những bức tranh đẹp tuyệt vời, do tài khéo tay của các họa sĩ nổi danh, làm cho người xem không thấy chán. Hoàng-thái-hậu Calākadevī truyền hỏi rằng:

    - Này các ngươi! Ta ngự ở đây lâu năm rồi, ta chưa từng ngự đi con đường hầm được trang hoàng xinh đẹp, tuyệt vời như thế này? Vậy, con đường gọi tên là gì?

    - Muôn tâu Lệnh Bà, con đường này gọi là “Con đường hạnh-phúc an-lạc”. Hôm nay, ngày đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng hoàn toàn trên cõi Nam-thiện-bộ- châu. Cho nên, Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh cho phép mở con đường hầm này.

    Kính thỉnh Lệnh Bà, Chánh-cung Hoàng-hậu, Thái- tử và Công-chúa ngự đi dự đại lễ chiến thắng vinh quang này.

    Nghe lời tâu của nhóm lính như vậy, Hoàng-thái-hậu Calākadevī tin rằng đó là sự thật. Một số lính thỉnh bốn vị hoàng thân đi theo con đường hầm, còn một số lính trở lại cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mở các kho báu, người nào có khả năng lấy được bao nhiêu báu vật quý giá thì lấy đem đi, phần báu vật còn lại họ đem rải rác trên sàn lâu đài, mở các cửa bỏ trống rồi đi ra, xuống theo con đường hầm trở về chỗ của mình.

    Số lính thỉnh bốn vị hoàng thân đến một căn phòng rộng lớn, được trang hoàng lộng lẫy như căn phòng khách trên cõi trời. Hoàng-thái-hậu Calākadevī tưởng rằng: Đây là căn phòng để đón tiếp các Đức-vua đến dự đại lễ mừng chiến thắng.

    Họ mời bốn vị hoàng thân nghỉ ngơi tại căn phòng ấy, có nhiều người tỳ-nữ rất xinh đẹp đến tận tình hầu hạ phục vụ khéo léo, chu đáo làm cho bốn vị hoàng thân không có hoài nghi gì cả.

    Một số lính đến trình báo cho quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita biết, họ đã thi hành hoàn thành nhiệm vụ xong.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita hoan hỷ nghĩ rằng: “Bây giờ, điều mong ước của ta lâu nay đã trở thành hiện thực.”

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha nằm không nghỉ được, vì nóng lòng chờ đợi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đưa Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên- nữ đến ban cho mình. Đức-vua Vedeha ngồi dậy, ngự đi ra khỏi phòng, đứng tại cửa sổ, nhìn xuống phía dưới, thấy hằng trăm ngàn cây đèn tỏa sáng cả một vùng xung quanh cung điện, thấy rõ các đội binh mặc áo giáp, tay cầm khí giới trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Đức-vua Vedeha không biết có sự việc gì sẽ xảy ra, nên Đức-vua truyền gọi bốn vị quân-sư và quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đến, truyền hỏi họ rằng:

    - Này quý vị quân-sư! Quý vị nhìn thấy hằng trăm ngàn cây đèn tỏa sáng cả một vùng xung quanh cung điện, thấy rõ các đội binh mặc áo giáp, tay cầm khí giới trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

    Vậy, quý vị quân-sư thấy thế nào? Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đang biểu diễn gì vậy?

    Vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ chớ nên lo nghĩ, hằng trăm ngàn cây đèn tỏa sáng rực rỡ xung quanh cung điện của chúng ta, để Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đưa Công-chúa Pañcālacandī đến làm lễ thành hôn Bệ-hạ với Công-chúa xinh đẹp tuyệt trần.

    Vị quân-sư Pukkusa tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền các đội bộ binh đến canh gác, giữ gìn sự an toàn cho Bệ-hạ và những người khách quý như chúng ta.

    Cả bốn vị quân-sư nghĩ, rồi tâu theo ý nghĩ riêng của mình. Khi bốn vị quân-sư đang tâu như vậy, thì Đức-vua Vedeha nghe rõ tiếng truyền lệnh của các tướng lĩnh rằng:

    - Các đội binh chớ nên dể duôi, tay cầm khí giới, sẵn sàng chờ lệnh!

    Đức-vua Vedeha cảm thấy sợ hãi về sự an toàn, nên truyền hỏi hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Hằng trăm ngàn cây đèn toả sáng xung quanh cung điện của chúng ta, các đội binh: đội tượng binh, đội mã binh, đội quân xa, đội bộ binh mặc áo giáp, tay cầm khí giới trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

    Vậy, các đội binh ấy chuẩn bị sẵn sàng làm gì vậy?

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền hỏi như vậy, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Trước tiên, ta tâu sự thật làm cho Đức-vua Vedeha đang say mê sắc đẹp của Công-chúa Pañcālacandī phát sinh tâm hoảng sợ, kinh hồn, khiếp vía, rồi sau đó ta tâu lời an ủi để cho Đức- vua an tâm”. Nghĩ vậy, nên Đức-Bồ-tát tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương đã bị mắc mưu kế thâm độc “mỹ-nhân-kế” của quân-sư Kevaṭṭa, lừa Đại-vương ngự đến đất nước của họ, để dễ dàng bắt Đại-vương đem ra chém đầu, chứ không phải để làm lễ thành hôn Đại-vương với Công-chúa Pañcālacandī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đâu!

    - Tâu Đại-vương, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101 Đức-vua chư hầu cùng với các đội binh hùng hậu gồm có 18 Akkhobhinī đang vây hãm xung quanh cung điện của Đại-vương.

    Đêm nay, hằng trăm ngàn cây đèn tỏa sáng cả một vùng canh giữ nghiêm ngặt không để Đại-vương trốn thoát ra được, chờ đến lúc rạng đông, sẽ tiến quân xâm nhập vào cung điện bắt Đại-vương đem ra chém đầu.

    Ngày mai, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101 Đức- vua chư hầu cùng các quan, các tướng sẽ làm đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng, suy tôn Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là vị Đại-vương cao cả nhất, làm bá chủ cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha cảm thấy vô cùng hoảng sợ, kinh hồn khiếp vía vì sợ chết, nên than vãn rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Thân tâm của Trẫm cảm thấy run sợ như chiếc lá non trước gió lớn, cổ của Trẫm khô khan không còn chút nước miếng, Trẫm như bị thiêu đốt giữa ban ngày trời nắng nóng. Tòan thân tâm của Trẫm đang nóng như thiêu như đốt, khổ tâm cùng cực bởi vì quá sợ chết.

    Nghe Đức-vua Vedeha than vãn như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Bởi vì nghe diễn tả Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, nên Đức-vua Vedeha phát sinh tâm tham-ái say mê sắc đẹp của Công-chúa ấy. Vì vậy, Đức-vua không chịu nghe lời khuyên can của ta ngày trước, nên ngày nay, Đức-vua phải chịu nóng nảy khổ thân, khổ tâm cùng cực như vậy.”

    Nghĩ xong Đức-Bồ-tát tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương là người dể duôi (thất niệm), tin theo lời tâu của sứ-giả Kevaṭṭa và nghe lời tâu nịnh của bốn vị quân-sư thiểu trí si mê, nên Đại-vương đã phát sinh tâm tham-ái say mê sắc đẹp của Công-chúa Pañcālacandī.

    Hạ thần đã thấy rõ, biết rõ mưu kế thâm độc “mỹ- nhân-kế” của sứ-giả Kevaṭṭa rất độc ác. Cho nên, ngày trước hạ thần đã khuyên can Đại-vương không nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla này, nhưng Đại-vương không nghe theo lời khuyên can của hạ thần mà nghe theo lời tâu nịnh của bốn vị quân-sư thiểu trí si mê.

    Nay, Đại-vương đã mắc mưu mỹ-nhân-kế, nên lâm vào cảnh khốn cùng này. Xin Đại-vương hãy nhờ bốn vị quân-sư trổ tài ra giải cứu Đại-vương thoát nạn.

    Ví như con nai ham ăn cỏ non của người thợ săn, nên bị mắc vào bẫy của người thợ săn.

    Cũng như vậy, Đại-vương là người dể duôi (thất niệm), do tâm tham-ái say mê sắc đẹp của Công-chúa Pañcālacandī, Đại-vương đã bị mắc lừa, nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla này, nay Đại-vương đã bị mắc bẫy của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rồi.

    Ví như con cá ham ăn miếng mồi ngon của người câu cá, nên con cá bị nuốt phải lưỡi câu vào bụng.

    Cũng như vậy, Đại-vương là người dể duôi, do tâm tham-ái say mê sắc đẹp của Công-chúa Pañcālacandī, Đại-vương đã bị lừa, nên ngự đến kinh-thành Uttara- pañcāla này, nay Đại-vương sẽ bị chém đầu chết thê thảm tại đất nước người.

    - Tâu Đại-vương, kẻ ác như sứ-giả Kevaṭṭa, như con rắn độc mà bậc thiện-trí không nên gần gũi thân cận, không nên tin theo lời của kẻ ác, bởi vì thân cận với kẻ ác chỉ đem lại sự khổ cho mình trong kiếp hiện-tại và những kiếp vị-lai mà thôi.

    - Tâu Đại-vương, bậc thiện-trí là bậc có giới đức, bậc đa văn túc trí. Vậy, Đại-vương nên gần gũi thân cận với bậc thiện-trí ấy, bởi vì thân cận với bậc thiện-trí chỉ đem lại sự an-lạc cho mình trong kiếp hiện-tại và những kiếp vị-lai mà thôi.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita muốn tâu cho Đức-vua Vedeha thức tỉnh, để về sau không còn mắc mưu như vậy nữa, nên tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương đã truyền bảo rằng:

    “- Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là con trai sống trong xóm nhà vùng lúa, chỉ biết cày ruộng mà thôi. Làm sao ngươi có thể biết được sự hạnh phúc an-lạc đế vương như sứ giả Kevaṭṭa và bốn vị quân-sư của Trẫm được.

    Mahosadhapaṇḍita này làm cản trở sự hạnh phúc an lạc của Trẫm, cản trở Trẫm làm lễ thành hôn với Công- chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Vậy, các khanh hãy tống cổ nó ra khỏi nơi này, các khanh hãy đuổi nó ra khỏi đất nước của Trẫm, bởi Mahosadhapaṇḍita không giúp Trẫm làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, mà còn cản trở không muốn Trẫm ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla.”

    Đại-vương đã truyền lệnh cho bốn vị quân-sư ấy tống cổ hạ thần ra khỏi đất nước của Đại-vương, bởi vì hạ thần thấy rõ, biết rõ mưu kế thâm độc, “mỹ-nhân-kế” của sứ- giả Kevaṭṭa, nên hạ thần đã khuyên can Đại- vương không nên tin lời sứ-giả ấy, khuyên can Đại- vương không nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, nguy hiểm đến sinh-mạng này.

    Đêm nay, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101 Đức- vua chư hầu cùng với 18 akkhobhinī đang bao vây hãm bên ngoài cung điện của Đại-vương. Chờ đến rạng đông, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh tiến quân vào cung điện này, để bắt Đại-vương đem ra chém đầu tại nơi này.

    Bây giờ, Đại-vương có bốn vị quân-sư này là nơi nương nhờ của Đại-vương.

    Vậy, Đại-vương nên nhờ họ tìm phương giải cứu Đại- vương thoát khỏi nạn chém đầu lần này. Tại sao Đại- vương lại truyền hỏi hạ thần?

    Nghe nhắc lại những lỗi lầm trước của mình, Đức-vua Vedeha cảm thấy hổ thẹn, bèn truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita con yêu quý! Chư bậc thiện-trí không nhắc lại lỗi lầm đã qua của người khác, sao con lại nhắc lại lỗi lầm đã qua của Phụ-vương?

    - Này Mahosadhapaṇḍita con yêu quý! Nếu con có con đường nào cứu nguy cho Phụ-vương được thì con nên giải cứu Phụ-vương thoát khỏi đại nạn này, bằng con đường ấy. Con là nơi nương nhờ của Phụ-vương trong lúc này. Ngoài con ra, Phụ-vương không còn biết nương nhờ nơi người nào khác nữa.

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền bảo như vậy, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita tâu làm cho Đức-vua càng kinh hoàng, hoảng sợ hơn nữa rằng:

    - Tâu Đại-vương, sứ-giả Kevaṭṭa đã lừa Đại-vương ngự đến trong đất nước của họ, cốt để bắt Đại-vương đem ra chém đầu, rồi họ sẽ tổ chức đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng. Hạ thần không có khả năng giải cứu Đại-vương bằng con đường trên hư không, đưa Đại- vương trở về kinh-thành Mithilā được.

    Kính xin Đại-vương cảm thông cho hạ thần vậy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha hoàn toàn thất vọng, càng kinh hoàng hoảng sợ hơn nữa vì sợ chết, cho nên không truyền được lời nào nữa.

    Khi ấy, vị quân-sư Senaka hạ mình khẩn khoản, năn nỉ Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Kính thưa Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đại-nhân, quan Thừa-tướng là bậc đại tài đại trí hơn hẳn bốn vị quân-sư chúng tôi và các quan trong triều đình, quan Thừa-tướng có nhiều mưu kế kỳ diệu phi thường. Như ngày trước, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và 101 Đức- vua chư hầu cùng với các đội binh gồm có 18 Akkhobhinī vây hãm kinh-thành Mithilā chờ xâm nhập vào kinh-thành giết sạch chúng tôi. Thế mà quan Thừa- tướng đại-nhân đã khéo dùng mưu kế làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu và các đội binh gồm có 18 Akkhobhinī hoảng sợ bỏ chạy mình trần, không kịp mang theo một thứ gì bên mình cả.

    Nhờ vậy mà cứu chúng tôi sống đến ngày nay.

    Nay, chúng tôi khẩn khoản cầu xin quan Thừa-tướng đại-nhân giải cứu Đức-vua và tất cả chúng tôi thoát khỏi chết trong tay Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Nghe vị quân-sư Senaka khẩn khoản như vậy, Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita thưa rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đang ở trong đất nước của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tôi không có khả năng đưa quý vị thoát khỏi nơi này bằng con đường trên hư không trở về kinh-thành Mithilā được. Cho nên, quý vị khó mà thoát khỏi chết được.

    Đức-vua Vedeha nghĩ rằng: “Ta nên truyền hỏi xem bốn vị quân-sư có mưu kế gì hay, để giải thoát khỏi nơi này”, nên truyền hỏi quân-sư Senaka rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đã thấy tai họa sắp xảy đến với Trẫm.

    Vậy, quân-sư có kế hay nào giải cứu Trẫm. Xin tâu cho Trẫm rõ.

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền hỏi như vậy, vị quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ truyền lệnh lấy lửa đốt từ cửa vào cung điện này, biến cung điện này thành giàn hỏa thiêu, rồi chịu chết thiêu hoặc rút gươm đâm chém lẫn nhau chết ngay tức thì, không nên để cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bắt hành hạ Bệ-hạ và chúng thần đến chết, chịu đau khổ lâu dài.

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua vô cùng thất vọng về ông, tiếp đến Đức-vua truyền hỏi vị quân-sư Pukkasa rằng:

    - Thưa quân-sư, quân-sư đã thấy tai họa sắp xảy đến với Trẫm.

    Vậy, quân-sư có kế hay nào giải cứu Trẫm. Xin tâu cho Trẫm rõ?

    Quân-sư Pukkasa tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ và chúng thần nên uống thuốc độc cực mạnh chết ngay tức khắc, không nên để Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta giết Bệ-hạ và chúng thần bằng các cực hình.

    Quân-sư Kāminda tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ và chúng thần nên lấy dây treo cổ chết lẹ, hoặc nhảy xuống hồ nước sâu trùm mình chết, không nên để Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bắt hành hạ Bệ-hạ và chúng thần đến chết.

    Quân-sư Devinda không nghĩ ra kế nào, nên lặp lại kế của quân-sư Senaka rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, xin Bệ-hạ truyền lệnh lấy lửa đốt từ cửa vào cung điện này, biến cung điện này thành giàn hỏa thiêu, rồi chịu chết thiêu hoặc rút gươm đâm chém lẫn nhau chết ngay tức thì, không nên để cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bắt hành hạ Bệ-hạ và chúng thần đến chết, chịu đau khổ lâu dài.

    Tiếp theo quân-sư Devinda tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, Bệ-hạ và chúng thần khẩn khoản cầu xin quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita giải cứu Bệ-hạ và chúng thần thoát chết.

    Nếu quan Thừa-tướng không giải cứu Bệ-hạ và chúng thần được thì xin Bệ-hạ truyền lệnh thi hành theo kế của quân-sư Senaka vậy.

    Nghe bốn vị quân-sư tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng thất vọng về họ. Đức-vua nhớ lại đã từng đối xử không tốt với Mahosadhapaṇḍita, cho nên không dám truyền bảo lời nào, đành than vãn rằng:

    - Người đi tìm lõi cây trong vườn chuối, không có được lõi cây như thế nào, cũng như ta tìm kế hay để giải thoát ra cảnh khốn cùng này trong bốn vị quân-sư si mê cũng như thế ấy. Thân tâm của ta nóng nảy như bị thiêu đốt giữa buổi trưa nắng. Thật là khổ thân, khổ tâm cùng cực quá!

    Nhìn thấy Đức-vua Vedeha than vãn như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Đức-vua Vedeha đã phát sinh nỗi khổ thân, khổ tâm khốn cùng như vậy, nếu ta không tâu lời an ủi thì Đức-vua có thể vỡ tim, băng hà tại đây”, nên tâu lời an ủi rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương chớ quá lo âu, hạ thần sẽ giải cứu Đại-vương ra khỏi vòng vây của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta như vị chư thiên giải cứu mặt trời, mặt trăng ra khỏi oai lực của vị chư thiên Rāhu, như cứu con voi chúa lên khỏi vũng lầy, như cứu Đức Long-vương ra khỏi nanh vuốt của Điểu-vương, như cứu con cá lớn ra khỏi lưới bao bọc, như cứu Điểu- vương ra khỏi lồng sắt, v.v...

    Hạ thần có phương kế làm cho Đức-vua Cūḷanī Bramadatta và 101 Đức-vua chư hầu cùng với các đội binh hùng mạnh gồm có 18 akkhobhinī đang vây hãm xung quanh cung điện của Đại-vương trở thành vô hiệu quả, rồi lặng lẽ rút quân trở về.

    Nếu hạ thần, Mahosadhapaṇḍita này không giải cứu được Đại-vương trong cảnh khốn cùng nguy hại đến sinh-mạng của Đại-vương, thì trí-tuệ của kẻ hạ thần này còn có ích lợi gì đâu!

    Hơn nữa, kẻ hạ thần này đã được Đại-vương nhận làm hoàng-tử, Đại-vương là Đức Phụ-vương đã nuôi dưỡng con từ khi mới lên bảy tuổi. Đức Phụ-vương đã ban cho con chức quan Thừa-tướng cao nhất trong triều.

    Vậy, con phải làm tròn bổn phận người con chí hiếu đối với Đức Phụ-vương và làm tròn phận sự của vị quan Thừa-tướng chí trung đối với Đại-vương và đất nước Videharaṭṭha.

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, kính xin Đức Phụ-vương an tâm, con sẽ giải cứu Đức Phụ-vương ra khỏi vòng vây của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, và điều mong ước của Đức Phụ-vương chắc chắn cũng sẽ được trở thành hiện thực như ý, rồi Đức Phụ-vương sẽ ngự trở về kinh-thành Mithilā được an toàn.

    Nghe hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức- vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tin tưởng rằng: “Ta chắc chắn sẽ còn sống!”

    Bốn vị quân-sư cũng hoan hỷ thưa rằng:

    - Thưa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, chúng tôi cũng được giải cứu phải không?

    - Thưa chư vị quân-sư, tôi cũng sẽ giải cứu không chỉ bốn vị quân-sư, mà còn tất cả binh lính hộ giá và toàn thể công nhân xây dựng, tất cả đều sẽ thoát ra khỏi vòng vây của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, trở về kinh-thành Mithilā được an toàn.

    Khi ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh những người lính của mình rằng:

    - Này các người lính trẻ! Các ngươi hãy đi mở cửa đường hầm, mở tất cả phòng lớn và 101 phòng nhỏ bằng máy tự động và các ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ suốt con đường hầm.

    Tuân lệnh quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, những người lính trẻ thi hành xong, đến trình cho quan Thừa- tướng biết, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu với Đức-vua Vedeha rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, đến giờ, kính thỉnh Đức Phụ- vương ngự xuống lâu đài.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu thỉnh như vậy, Đức-vua Vedeha ngự xuống lâu đài, ngự vào con đường hầm rộng rãi và cao, Đức-vua bước lên chiếc long xa ngự đi trước, theo sau có xe Đức-Bồ-tát Mahosadha, xe bốn vị quân-sư và xe các quan quân theo hộ giá. Đức-vua Vedeha ngự đi trong con đường hầm rộng rãi và cao, có các ngọn đèn sáng chói rực rỡ, có thể nhìn thấy rõ hai bên vách hầm có những bức tranh đẹp tuyệt vời của các nhà họa sĩ tài hoa, nổi tiếng trong đất nước Videha.

    Đức-vua Vedeha ngự đến căn phòng lớn được trang hoàng lộng lẫy như trên cõi trời, có các tượng hình thiên-nữ như thật đứng chầu trong phòng lớn ấy. Đức- vua Vedeha ngự lên trên ngai vàng có chiếc lọng che, các quan ngồi hai bên theo cấp bậc.

    Đại Lễ Thành Hôn

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita truyền bảo những người lính anh dũng mời bốn vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là Hoàng thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī đến yết kiến Đức-vua Vedeha.

    Khi yết kiến Đức-vua Vedeha, nhìn thấy quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita, bốn vị hoàng thân mới biết mình đã bị bắt ở trong tay của người khác. Họ phát sinh tâm sợ hãi, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī khóc lớn lên thành tiếng vang lên mặt đất.

    Trong khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bố trí chỗ trọng yếu chặn đường Đức-vua Vedeha chạy trốn theo đường sông Gaṅgā, nên khi nghe tiếng khóc của Chánh- cung Hoàng-hậu Nandādevī vọng ra trong đêm thanh vắng, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta hoàn toàn không tin đó là sự thật, mà nghĩ rằng:

    “Đó chỉ là ảo tưởng mà thôi.”

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita thỉnh mời Công- chúa Pañcālacandī ngự lên chỗ ngồi làm bằng thất báu để làm lễ thành hôn với Đức-vua Vedeha.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương ngự đến kinh- thành Uttarapañcāla này với ý nguyện tha thiết mong ước được thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī.

    - Muôn tâu Đại-vương, với sự hiện diện chứng minh của ba hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là Hoàng thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī và Thái-tử Pañcālacanda. Kính xin Đại- vương cử hành đại lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, và kính xin Đại-vương tấn phong Công- chúa lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu của Đại-vương.

    Sau khi cử hành đại lễ thành hôn xong, quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, 300 chiếc thuyền đã chờ sẵn, kính thỉnh Đại-vương Vedeha và Chánh-cung Hoàng- hậu Pañcālacandī ngự lên chiếc thuyền rồng.

    Kính thỉnh Lệnh bà Hoàng thái-hậu Calākadevī, Lệnh bà Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī và Hoàng Thái- tử Pañcālacanda cùng ngự lên chiếc thuyền rồng.

    Và mời bốn vị quân-sư cùng lên chiếc thuyền rồng ấy. Các quan và quân lính theo hầu đều bước lên các chiếc thuyền khác đi theo hộ giá.

    Đức-vua Vedeha ngự lên chiếc thuyền rồng cùng Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī với ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đứng trên bờ sông Gaṅgā tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, từ nay, Đại-vương là phò mã của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī. Như vậy,

    * Hoàng Thái-hậu Calākadevī là nhạc Hoàng Thái- hậu của Đại-vương.

    * Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là nhạc Phụ-vương của Đại-vương.

    * Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī là nhạc Mẫu- hậu của Đại-vương.

    * Hoàng Thái-tử Pañcālacanda là nhạc Hoàng-huynh của Đại-vương.

    - Muôn tâu Đại-vương Vedeha, kính xin Đại-vương làm tròn bổn phận của mình đối với mỗi vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Nghe lời tâu của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita, để cho hoàng-tử an tâm, Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, hoàng-nhi yêu quý! Phụ- vương hứa chắc chắn sẽ làm tròn bổn phận đối với mỗi vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Đức-vua Vedeha muốn thuyền rồng mau rời khỏi bến sông Gaṅgā để thoát khỏi vòng vây của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và cũng sợ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta biết được đuổi theo bắt lại, nên truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, hoàng-nhi yêu quý! Sao con còn đứng trên bờ, con hãy mau mau bước xuống thuyền, để rời khỏi bến ngay bây giờ.

    Nghe Đức-vua Vedeha truyền bảo như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần là vị Thừa-tướng thống lĩnh các đoàn quân lính thi hành các công việc suốt bốn tháng nay, có nhóm bị bệnh hoạn, có nhóm đang nghỉ ngơi, có nhóm đang làm phận sự, v.v... nên hạ thần không thể bỏ họ ở lại, dù chỉ một người. Cho nên, hạ thần phải trở lại với họ, hạ thần sẽ dẫn các đoàn binh lính ấy trở về kinh-thành Mithilā sau.

    - Này Mahosadhapaṇḍita, hoàng-nhi yêu quý! Con có số quân lính ít ỏi, làm sao con chống cự lại với các đội binh hùng mạnh, đông đảo của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta được. Con ở thế yếu, làm sao có thể chống cự lại với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có thế mạnh gấp trăm ngàn lần được!

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, một vị tướng lĩnh có tài-trí hơn người, có mưu kế hay, dù có quân lính ít ỏi cũng vẫn thắng được vị tướng lĩnh kém tài, vô mưu, dù có quân lính nhiều vô số vẫn bị thua.

    Cũng ví như mặt trời mọc lên sáng chói, làm tiêu tan được bóng tối khắp mọi nơi.

    - Tâu Đại-vương, hạ thần xin đảnh lễ Đại-vương, kính thỉnh Đại-vương truyền lệnh cho thuyền rồng rời khỏi bến ngay bây giờ.

    Giải Cứu Đức-Vua Vedeha Và Đoàn Người Hộ Giá

    Khi chiếc thuyền rồng rời khỏi bến, Đức-vua Vedeha nhớ tưởng đến ân đức của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita nên nghĩ rằng:

    “Ta đã thoát khỏi tay của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, là ta đã thoát khỏi chết lần này, và điều mong ước thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cũng đã trở thành hiện thực như ý. Tất cả đều do nhờ trí-tuệ siêu-việt của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita.”

    Nghĩ xong, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương ân đức của hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita với vị quân-sư Senaka rằng:

    - Này quân-sư! Gần gũi, thân cận với bậc đại-trí mới đem lại sự hạnh phúc an-lạc thật sự.

    Nhờ Mahosadhapaṇḍita giải cứu chúng ta thoát khỏi tay của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, như người thả bầy chim ra khỏi lồng, thả đàn cá ra khỏi đáy lưới.

    Thật ra, nhờ Mahosadhapaṇḍita giải cứu mà chúng ta thoát khỏi chết trong tay của Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta, chúng ta còn sống được như thế này là nhờ trí-tuệ siêu-việt của Mahosadhapaṇḍita.

    Vậy, ân đức của Mahosadhapaṇḍita đối với chúng ta thật là vô lượng! Đúng vậy phải không quân-sư?

    Nghe Đức-vua Vedeha tán dương, ca tụng Mahosadha- paṇḍita như vậy, quân-sư Senaka cũng tán dương, ca tụng rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, thật vậy, gần gũi, thân cận với bậc đại- trí mới đem lại sự hạnh phúc an-lạc thật sự.

    Nhờ quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita giải cứu mà Bệ-hạ và chúng thần thoát khỏi chết từ tay của Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta, như người thả bầy chim ra khỏi lồng, thả đàn cá ra khỏi đáy lưới.

    Chiếc thuyền rồng đi qua hết con sông Gaṅgā cập bến, Đức-vua Vedeha, Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcāla- candī, cùng ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự lên bờ cùng các quan quân đến ngôi nhà nghỉ mà quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đã xây dựng sẵn dành để đón tiếp Đức-vua Vedeha và Chánh- cung Hoàng-hậu Pañcālacandī cùng phái đoàn hộ giá.

    Tại ngôi nhà nghỉ, Đức-vua Vedeha, Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī cùng phái đoàn hộ giá ăn uống vật thực ngon lành, bổ dưỡng, rồi Đức-vua Vedeha và Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī ngự lên chiếc long xa có đôi ngựa báu, ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cũng ngự lên chiếc long xa có đôi ngựa báu, còn các quan quân khác lên ngựa, voi, xe tiếp tục lên đường trở về kinh-thành Mithilā.

    Đường đi đến kinh-thành Mithilā dài 100 do tuần, cứ mỗi do tuần, quan Thừa-tướng Mahosadha có xây dựng một trạm, có ngôi nhà nghỉ để đón tiếp Đức-vua Vedeha và Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī cùng phái đoàn hộ giá nghỉ ngơi, ăn uống vật thực ngon lành, bổ dưỡng, rồi thay đổi chiếc long xa, ngựa, voi khỏe mạnh khác.

    Nhờ vậy mà Đức-vua Vedeha và Chánh-cung Hoàng- hậu Pañcālacandī cùng ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đến kinh-thành Mithilā được an toàn và được khoẻ mạnh.

    Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita Với Đức-Vua Cūḷanī Brahmadatta

    Sau khi Đức-vua Vedeha cùng đoàn hộ giá đã rời khỏi bến sông Gaṅgā, trên đường hồi cung trở về kinh-thành Mithilā, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita trở lại đến cửa hầm, cởi thanh gươm báu ra, đào đất chôn giấu tại cửa hầm, rồi đi vào con đường hầm trở lại cung điện mới, bước lên lâu đài, tắm rửa sạch sẽ, ăn uống thức ăn ngon lành, bổ dưỡng, vào nằm trên giường sang trọng.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita hồi tưởng:

    “Từ ngày đến đất nước Kapilaraṭṭha này, ta đã điều hành, thi công xây dựng một Cung Điện Mới, đặc biệt là một Con Đường Hầm kỳ diệu và đã thực hiện điều mong ước của Đức Phụ-vương của ta trở thành hiện thực, Đức-vua Vedeha đã làm đại lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, rồi tấn phong lên ngôi Chánh- cung Hoàng-hậu của Đức-vua Vedeha.

    Đức Phụ-vương của ta đã thành tựu được như ý, vậy là ta đã đền đáp một phần công ơn của Đức Phụ-vương.

    Nay, Đức Phụ-vương cùng Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī và đoàn hộ giá trên đường hồi cung, ngự trở về kinh-thành Mithilā.”

    Hồi tưởng như vậy xong, Đức-Bồ-tát phát sinh đại- thiện-tâm vô cùng hoan hỷ, rồi nằm ngủ say.

    Bên ngoài cung điện mới của Đức-vua Vedeha, suốt đêm cho đến lúc rạng đông, Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta đi duyệt các đội binh hùng mạnh gồm 18 akkhobhinī quân lính vây hãm cung điện. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh tất cả tướng sĩ chớ nên dể duôi, chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh lúc rạng đông, xâm nhập vào cung điện mới, để bắt sống Đức-vua Vedeha và quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita là kẻ thù xưa, đem ra chém đầu. Và sau đó sẽ làm lễ ăn mừng chiến thắng hoàn tòan, rồi lên ngôi Đại-vương cao cả trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Rạng sáng hôm sau, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thân chinh mặc áo giáp đặc biệt, ngự trên voi báu, tay cầm cây cung đã nạp sẵn tên, giục voi tiến đến cung điện mới của Đức-vua Vedeha, đằng sau, một đoàn quân anh dũng thiện chiến theo hộ giá. Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta nghĩ rằng:

    “Này Vua Vedeha hiếu sắc, ngươi chớ hòng nhìn thấy Công-chúa Pañcālacandī của ta. Ngày trước, vây hãm kinh-thành Mithilā, chúng ta bị mắc mưu, thua kế của Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita phải bỏ chạy, cho nên ngày ấy Ngươi mới thoát khỏi chết.

    Nay, Ngươi đã bị mắc mưu mỹ-nhân-kế của chúng ta, Ngươi đã đem mạng đến nạp trên đất nước của ta, ví như cá đã vào đáy lưới. Dù cho Ngươi có cánh, Ngươi cũng không thể thoát khỏi làn tên mũi giáo của ta.

    Lần này, chính ta sẽ bắt sống Ngươi và Mahosadha- paṇḍita, chính ta sẽ chặt đầu Ngươi và Mahosadha- paṇḍita tại nơi cung điện mới của Ngươi.

    Sáng ngày hôm nay, ta sẽ tổ chức đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng.”

    Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta giục voi báu tiến đến gần cung điện mới ấy. Quân lính canh gác, bảo vệ cung điện vội đến trình báo cho quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita biết. Quan Thừa-tướng mới thức dậy, tắm rửa sạch sẽ, dùng bữa sáng bằng những món ăn ngon lành, bổ dưỡng, mặc trang phục vải xứ Kāsi đắt giá, cầm cây gậy cẩn bằng thất báu, mang đôi hia bằng vàng, đứng bên cửa sổ trên lâu đài, có các cô gái xinh đẹp như thiên-nữ cầm cây quạt lông phe phẩy.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đi qua đi lại trên lâu đài như Đức-vua trời Sakka trên cõi trời Tam-thập- tam-thiên, để cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhìn thấy.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngồi trên voi báu, nhìn thấy quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita có các tướng tốt của bậc đại-nhân, nhưng Đức-vua không phát sinh đức-tin trong sạch nơi quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita, bởi vì Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đang nổi cơn thịnh nộ, chỉ muốn vào bắt sống quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita mà thôi.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta muốn xông vào bắt sống Đức-vua Vedeha và ta, nhưng Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta không biết ta đã cho lính mời bốn vị hoàng thân của Đức-vua là Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcāla- canda và Công-chúa Pañcālacandī đem dâng Đức-vua Vedeha, đang trên đường hồi cung ngự trở về kinh-thành Mithilā rồi.

    Ta nên lộ mặt ra để cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhìn thấy.”

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita bước ra tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bằng giọng nói nửa đùa nửa thật rằng:

    - Tâu Đại-vương, sao Đại-vương nổi cơn thịnh nộ vội vã giục con voi báu ngự đến như vậy. Lẽ ra, Đại-vương phải vui mừng hớn hở, bởi vì âm mưu “mỹ-nhân-kế” của Đại-vương đã được thành tựu như ý rồi, phải không, Đại-vương?

    - Tâu Đại-vương, xin Đại-vương trao cây cung cho lính hầu cầm, Đức-vua cầm làm gì cho nặng, có ích lợi gì đâu!

    Xin Đại-vương cởi chiếc áo giáp đặc biệt ra khỏi long thể cho nhẹ nhàng, bởi vì Đại-vương đã mặc nó từ tối hôm qua, chỉ làm cho long thể của Đại-vương khó chịu mà thôi!

    Đại-vương ngự đến cung điện mới của hạ thần từ sáng sớm, chắc có chuyện việc gì quan trọng đây?

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu với giọng nói ngọt ngào êm tai, gương mặt tươi cười, vui vẻ và sáng ngời, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là người có màu da vàng trong sáng, gương mặt rạng rỡ, tươi cười vui vẻ, có lời nói ngọt ngào êm tai. Đó là trạng thái được biểu hiện nơi người sắp chết như ngươi.

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Hôm nay, chính ta sẽ bắt Vua Vedeha và ngươi, rồi ta sẽ chặt đầu hai ngươi cùng một lúc. Cũng hôm nay, ta sẽ tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng vinh quang trong toàn cõi Nam- thiện-bộ-châu này.

    Khi quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita và Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối đáp với nhau, các đội binh của Đức-vua nhìn thấy thân hình của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita có các tướng tốt của bậc đại-nhân, nên phát sinh đức-tin trong sạch, kính phục, ngưỡng mộ quan Thừa-tướng.

    Họ nhìn thấy Đức-vua của họ với quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đang bàn bạc chuyện với nhau.

    Nghe Đức-vua truyền bảo lời hăm dọa như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta không biết ta là Mahosadhapaṇḍita.”

    Nghĩ xong, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita bèn tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, những lời hăm dọa của Đại-vương chẳng làm cho tôi có cảm giác sợ chút nào cả, Đại- vương nên biết rằng: “Chuyện bí mật mà quân-sư Kevaṭṭa bàn tính với Đại-vương trên lâu đài trong phòng ngủ của Đại-vương. Tôi đã biết và những người khác cũng đều biết cả rồi!”

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương không có khả năng bắt được Đức-vua Vedeha của tôi đâu?

    Đức-vua Vedeha đã rời khỏi cung điện mới này, trên đường hồi cung ngự trở về kinh-thành Mithilā rồi.

    Ví như con ngựa báu Sindhava phi nhanh, làm sao con ngựa què quặt đuổi theo kịp được!

    Đức-vua Vedeha đã biết trọng dụng tôi ví như con ngựa báu Sindhava phi nhanh. Còn Đại-vương chỉ biết dùng quân-sư Kevaṭṭa ví như con ngựa què quặt thì làm sao sánh với con ngựa báu Sindhava phi nhanh được!

    - Tâu Đại-vương, Đức-vua Vedeha không chỉ ngự đi một mình mà còn bốn nhân vật thượng khách, các quân-sư, các quan, quân lính theo hộ giá cùng đi theo Đức-vua Vedeha, đã vượt qua con sông Gaṅgā từ tối hôm qua rồi.

    Dù Đại-vương muốn đuổi theo cũng không kịp nữa, ví như con quạ già sức yếu làm sao bay đuổi theo con thiên nga trẻ, khỏe mạnh được!

    - Tâu Đại-vương, những điều mơ ước, hy vọng của Đại-vương đã biến thành tro bụi, mây khói cả rồi!

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī nghĩ rằng:

    “Nếu Mahosadhapaṇḍita, con của phú hộ đã biết chuyện bí mật của ta, nó đã dõng dạc, khẳng khái dám nói như vậy thì chắc chắn nó đã giải cứu Vua Vedeha thoát ra khỏi cung điện mới này rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng bằng cách nào?

    Ta nhớ rõ, trước đây ta đem quân vây hãm kinh-thành Mithilā, chờ xâm nhập vào kinh-thành bắt giết Vua Vedeha, nhưng ta đã bị mắc mưu kế của Mahosadha- paṇḍita, làm cho ta phải bỏ chạy thẳng một mạch như điên. Bây giờ, Vua Vedeha đã ngự đến đất nước của ta, như ở trong tay của ta rồi, thế mà Mahosadhapaṇḍita này cũng giải cứu Vua Vedeha thoát ra khỏi tay của ta được, chính Mahosadhapaṇḍita này làm cho ta tiêu tan mộng làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.”

    Nghĩ như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nổi cơn lôi đình thịnh nộ, truyền lệnh rằng:

    - Này các tướng sĩ! Các ngươi hãy bắt Mahosadha- paṇḍita, rồi chặt hai tay, hai chân, cắt hai lỗ tai, lỗ mũi của y, vì tội giải cứu Vua Vedeha, kẻ thù của Trẫm đã thoát khỏi tay của Trẫm trở về kinh-thành Mithilā.

    Các ngươi hãy lấy cây lao đâm Mahosadhapaṇḍita, đem đặt trên giàn lửa thiêu đốt sống, vì tội giải cứu Vua Vedeha... kinh-thành Mithilā.

    Các ngươi hãy lấy cây móc, móc da thịt của Mahosadhapaṇḍita, dùng gươm đâm chém Mahosadha, vì tội giải cứu Vua Vedeha ... kinh-thành Mithilā.

    Các ngươi hãy giết chết Mahosadhapaṇḍita ... vì tội giải cứu vua Vedeha, kẻ thù của Trẫm đã thoát khỏi tay của Trẫm trở về kinh-thành Mithilā.

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh cho các tướng sĩ của mình, quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita phát ra tiếng cười lớn khanh khách vang xa làm cho các đội binh của Đức-vua nghe rõ.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Nếu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta biết ta đã ra lệnh cho lính mời bốn vị hoàng thân của Đức-vua là Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī đem dâng Đức-vua Vedeha rồi.

    Nay, bốn vị hoàng thân ấy của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng ngự theo Đức-vua Vedeha đến kinh- thành Mithilā, thì Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta càng nổi cơn lôi đình thịnh nộ có thể bắn ta với cung tên trong tay.

    Vậy, ngay bây giờ ta nên tâu cho Đức-vua biết rõ, để làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta phát sinh khổ tâm cùng cực”, nên quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, nếu Đại-vương truyền lệnh chặt hai tay, hai chân, cắt hai lỗ tai, lỗ mũi của tôi như thế nào, thì Đức-vua Vedeha cũng truyền lệnh chặt hai tay, hai chân, cắt hai lỗ tai, lỗ mũi của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda, Công-chúa Pañcāla- candī của Đại-vương cũng như thế ấy.

    Nếu Đại-vương truyền lệnh lấy cây giáo đâm tôi, đem đặt trên giàn lửa thiêu đốt sống như thế nào, thì Đức- vua Vedeha cũng truyền lệnh lấy cây giáo đâm Chánh- cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda, Công-chúa Pañcālacandī của Đại-vương, đem đặt trên giàn lửa thiêu đốt sống cũng như thế ấy.

    Nếu Đại-vương truyền lệnh lấy cây móc, móc da thịt của tôi, dùng gươm đâm chém tôi như thế nào, thì Đức- vua Vedeha cũng truyền lệnh lấy cây móc, móc da thịt của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcāla-canda, Công-chúa Pañcālacandī của Đại-vương, dùng gươm đâm chém cũng như thế ấy.

    Nếu Đức-vua truyền lệnh giết tôi như thế nào, thì Đức-vua Vedeha cũng truyền lệnh giết Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda, Công- chúa Pañcālacandī của Đại-vương cũng như thế ấy.

    - Tâu Đại-vương, tôi và Đức-vua Vedeha đã bàn bạc, thoả thuận bí mật với nhau rằng: “Hễ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối xử với hạ thần như thế nào thì xin Đại-vương cũng đối xử với Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda, Công-chúa Pañcāla-candī cũng như thế ấy.”

    - Tâu Đại-vương, Đức-vua Vedeha đã cam kết chắc chắn với tôi như vậy. Đó là diệu kế để bảo vệ sinh-mạng của tôi. Cho nên, dù muốn dù không Đại-vương cũng không thể truyền lệnh bắt tôi, hành hạ tôi, chắc chắn không để tôi phải chịu một cực hình nào cả!

    - Tâu Đại-vương, Mahosadhapaṇḍita là một bề tôi một lòng một dạ trung thành với Đức-vua Vedeha, có bổn phận phụng sự, để đem lại sự hạnh phúc an-lạc cho Đức-vua Vedeha, bảo vệ Đức-vua Vedeha, ngăn cản mọi kẻ thù không thể làm hại đến Đức-vua Vedeha.

    Và tôi còn phải giúp Đức-vua Vedeha trị vì đất nước Videharaṭṭha được phồn thịnh, thần dân thiên hạ được an cư lạc nghiệp. Vì vậy, tôi đã phá hoại mọi mưu kế thâm độc “mỹ-nhân-kế” của quân-sư Kevaṭṭa bằng diệu kế của tôi.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng:

    “Tại sao Mahosadhapaṇḍita con của phú hộ nói xàm như vậy, nếu ta đối xử với y như thế nào thì Đức-vua Vedeha cũng sẽ đối xử với Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda, Công-chúa Pañcāla- candī của ta cũng như thế ấy?

    Y không biết rằng trước khi ta thân chinh xuất trận, ta đã truyền bảo ba vị hoàng thân của ta ngự đến ở chung với Mẫu-hậu Calākadevī và được lính canh gác bảo vệ an toàn tuyệt đối rồi.

    Bây giờ, có lẽ Mahosadhapaṇḍita biết mình sắp chết, vì sợ chết nên nói xàm, nói bậy như vậy, ta không thể nào tin theo lời nói của y được.”

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng ta sợ chết nên nói xàm, nói bậy.

    Vậy, ta sẽ tâu cho Đức-vua biết rõ.”

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita bèn tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính thỉnh Đại-vương ngự trở về nhìn xem trên lâu đài Mẫu-hậu Calākadevī của Đại-vương. Bây giờ, tại nơi ấy như bãi tha ma vắng vẻ, không có một ai cả, bởi vì tôi đã ra lệnh nhóm lính anh dũng của tôi đi theo con đường hầm đến cung điện của Đại-vương, lên lâu đài Mẫu-hậu Calākadevī của Đại- vương, thỉnh mời Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh- cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī ngự đi theo con đường hầm đem đến dâng lên Đức-vua Vedeha của tôi rồi.

    Khi Đức-vua Vedeha ngự trở về kinh-thành Mithilā, có thỉnh theo bốn vị hoàng thân của Đại-vương cùng ngự đến kinh-thành Mithilā rồi.

    Nghe lời tâu dõng dạc đanh thép của quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng:

    “Mahosadhapaṇḍita, con của phú hộ, tâu mạnh dạn, khẳng khái như vậy, đêm qua chính tai ta cũng nghe tiếng khóc giống như tiếng khóc của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī vọng ra gần bên bờ sông Gaṅgā. Biết đâu rằng lời tâu của y là sự thật thì sao?”

    Nghĩ vậy, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta liền phát sinh nỗi khổ tâm sầu não, truyền lệnh cho vị quan thân tín của mình trở về cung điện ngay tức khắc rằng:

    - Này khanh! Khanh hãy cởi ngựa phi nhanh trở về cung điện, để biết rõ thực hư thế nào, rồi hãy mau trở lại tâu cho Trẫm rõ.

    Tuân lệnh Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, vị quan thân tín ấy trở về cung điện, lên lâu đài của Hoàng Thái-hậu Calākadevī, thấy cửa bỏ trống, các người lính gác, bảo vệ đều bị trói tay chân, bịt miệng, mở mắt nằm một đống, không cử động được. Vị quan mở trói tay chân một người, rồi người ấy giúp mở trói những người khác.

    Vị quan ấy bước lên tầng trên lâu đài, thấy cửa mở, sang phòng bên nhìn thấy các tỳ nữ đều bị trói tay chân, bịt miệng, mở mắt nằm không cử động. Vị quan mở trói tay chân một cô tỳ nữ, rồi cô tỳ nữ ấy giúp mở trói cho các cô khác.

    Vị quan ấy vào bên trong phòng, nhìn thấy ngọc ngà châu báu rải rác trên sàn, mà không nhìn thấy Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandā- devī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī đâu cả.

    Vị quan ấy vội vàng trở xuống lâu đài, cỡi ngựa phi nhanh trở lại tâu Đức-vua rằng:

    - Tâu Đại-vương, những điều mà Mahosadhapaṇḍita tâu như thế nào đều đúng sự thật như thế ấy. Phía dưới lâu đài, các người lính gác, bảo vệ đều bị trói tay chân, bịt miệng, mở mắt nằm một chỗ, không cử động được.

    Phía trên lâu đài, bên ngoài các cô tỳ nữ đều bị trói tay chân, bịt miệng, mở mắt nằm không cử động.

    Bên trong phòng, các ngọc ngà châu báu rải rác trên sàn, căn phòng trống không, vắng vẻ, không có Lệnh bà Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Lệnh bà Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công- chúa Pañcālacandī của Đại-vương đâu cả.

    Nghe vị quan thân tín tâu rõ sự thật như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta phát sinh nỗi khổ tâm cùng cực, bởi vì những người thân yêu nhất trong đời bị Mahosadha- paṇḍita ra lệnh cho lính bắt đem đi dâng lên Đức-vua Vedeha, kẻ thù của mình.

    Đức-vua nghĩ rằng: “Nỗi khổ tâm cùng cực của ta là do Mahosadhapaṇḍita, con của phú hộ này.” Vì vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nổi cơn lôi đình, thịnh nộ kinh khủng đối với Mahosadhapaṇḍita.

    Nhìn thấy Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nổi cơn tức giận dữ dội như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta phát sinh tâm sân hận dữ dội có thể hại ta được.

    Vậy, ta nên diễn tả sắc đẹp tuyệt trần của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī. Khi Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta nghe đến sắc đẹp tuyệt trần ấy, rồi phát sinh tâm tham-ái nhớ thương Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī làm dịu bớt lại cơn sân hận mà suy nghĩ lại rằng:

    “Nếu ta giết Mahosadhapaṇḍita thì chắc chắn ta sẽ không còn có cơ hội nhìn thấy lại Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī của ta được nữa.”

    Nghĩ xong, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đứng trên lâu đài, tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, bốn vị hoàng thân của Đại-vương là Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda và Công-chúa Pañcālacandī được thỉnh mời ngự trên một cỗ long xa sang trọng, đi dọc theo con đường hầm rất kỳ diệu, ra đến bờ sông Gaṅgā, cả bốn vị hoàng thân cùng ngự trên chiếc thuyền rồng sang trọng lộng lẫy, bởi vì họ là thượng khách của Đức-vua Vedeha.

    - Tâu Đại-vương, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī là một nữ báu, có màu da rất xinh đẹp tuyệt trần, thân hình không cao không thấp, thật cân xứng, xinh đẹp như một thiên-nữ, ...

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đã khéo tả sắc đẹp thân thể của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghe. Đức-vua lắng nghe từng lời, từng câu tả về sắc đẹp ấy nên phát sinh tâm tham-ái, nỗi nhớ thương da diết nơi Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī. Quan Thừa-tướng tâu tiếp rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương là bậc có đại phước, đại duyên nhất trong thiên hạ mới có được một Chánh-cung Hoàng-hậu như bà Nandādevī, chẳng lẽ Đại-vương bằng lòng để cho Chánh-cung Hoàng-hậu xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ chết thảm thiết hay sao?

    Bởi vì, nếu Đại-vương giết tôi chết như thế nào thì Đức-vua Vedeha của tôi cũng sẽ giết Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī chết như thế ấy.

    - Tâu Đại-vương, nếu tôi chết thì Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī cũng chết như tôi. Kiếp sau của tôi với kiếp sau của Chánh-cung Hoàng-hậu hy vọng sẽ gặp lại nhau. Nếu được như vậy thì dù sao sau khi tôi chết, kiếp sau của tôi cũng không có gì đáng buồn cả.

    Vấn: Tại sao Đức-Bồ-tát khéo tả sắc đẹp tuyệt trần của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī mà không đề cập đến Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Thái-tử Pañcāla- canda và Công-chúa Pañcālacandī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta?

    Đáp: Thông thường, con người thương nhớ đến người vợ yêu quý nhất của mình hơn người khác. Vì vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita khéo tả sắc đẹp tuyệt trần của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī với giọng nói truyền cảm, ngọt ngào làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhớ thương da diết đến Chánh-cung Hoàng-hậu xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, nên phát sinh tâm tham-ái, nỗi nhớ thương Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī.

    Nghe lời tâu của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita xong, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng:

    “Ngoài Mahosadhapaṇḍita ra, không có ai có khả năng đưa Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī yêu quý nhất trở lại với ta được.”

    Hiểu biết được tâm trạng nhớ thương da diết đến Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nên quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu lời an ủi Đức-vua:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương an tâm, Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandā- devī, Thái-tử Pañcālacanda, Công-chúa Pañcālacandī là các vị thượng khách của Đức-vua Vedeha. Bốn vị hoàng thân của Đại-vương chắc chắn được trọng đãi đặc biệt, được an hưởng mọi sự an-lạc trong cung điện của Đức-vua Vedeha.

    - Tâu Đại-vương, trước đây Đại-vương đã hứa ban Công-chúa Pañcālacandī cho Đức-vua Vedeha, để làm lễ thành hôn, trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức- vua Vedeha.

    Như vậy, Công-chúa Pañcālacandī đã trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Vedeha ngự tại kinh-thành Mithilā. Còn lại ba vị hoàng thân của Đại- vương, tôi hứa chắc chắn với Đại-vương rằng: “Sau khi tôi trở lại kinh-thành Mithilā, tôi sẽ tiễn đưa ba vị hoàng thân ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla sớm nhất.”

    Kính xin Đại-vương tin tưởng nơi tôi.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita hứa chắc chắn như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cảm thấy vô cùng hoan hỷ, an tâm chờ đợi ngày đoàn tụ gia đình. Đức-vua nghĩ rằng:

    “Trước khi cầm binh xuất trận, ta đã giao phó những đoàn quân anh dũng ở lại bảo vệ kinh-thành Uttara- pañcāla, cung điện và đặc biệt bảo vệ Mẫu-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda, Công-chúa Pañcālacandī của ta rất nghiêm ngặt, rồi ta mới thân chinh xuất trận.

    Thế mà Mahosadhapaṇḍita có khả năng ra lệnh cho lính của mình xâm nhập vào cung điện, lên lâu đài thỉnh bốn vị hoàng thân của ta ngự theo con đường hầm, dẫn đến dâng lên Vua Vedeha, từ chiều hôm qua và suốt đêm nay, ta và 101 Đức-vua chư hầu cùng với các đội binh gồm 18 akkhobhinī quân lính bao vây xung quanh cung điện mới của Đức-vua Vedeha ba vòng nghiêm ngặt như vậy, Mahosadhapaṇḍita đã có khả năng đặc biệt giải cứu Đức-vua Vedeha ra khỏi vòng vây, rồi ngự trở về kinh-thành Mithilā cùng với đoàn hộ giá, còn đưa bốn vị hoàng thân của ta ngự đi theo mà ta hoàn toàn không hay biết.

    Vậy, chắc chắn Mahosadhapaṇḍita biết phép thần (dibbamayā) hoặc phép che mắt mọi người (cakkhu- mohana) ta nên truyền hỏi Mahosadhapaṇḍita cho rõ.”

    Nghĩ xong, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là người biết phép thần hay phép che mắt mọi người có phải không?

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, trong đời này, bậc thiện-trí có trí- tuệ là phép thần (dibbamayā), nhờ phép thần mà bậc thiện-trí có khả năng tự giải cứu mình thoát ra khỏi cảnh khốn quẫn và cũng có khả năng giải cứu cho những người khác thoát ra khỏi cảnh khốn quẫn ấy.

    Như hạ thần đã giải cứu Đức-vua Vedeha trong cảnh khốn quẫn, cùng các quan quân trong đoàn hộ giá của Đức-vua Vedeha thoát ra khỏi vòng vây hãm của Đại- vương, bằng con đường hầm mà hạ thần đã ra lệnh cho những người lính tài giỏi của hạ thần đã đào sẵn, và bốn vị hoàng thân của Đại-vương cũng được thỉnh mời ngự đi bằng con đường hầm ấy.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu về con đường hầm mà Đức-vua Vedeha ngự đi thoát ra khỏi vòng vây của mình, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta muốn tận mắt nhìn thấy con đường hầm ấy như thế nào.

    Biết ý Đức-vua muốn tận mắt nhìn thấy con đường hầm ấy, nên quan Thừa-tướng tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính thỉnh Đại-vương cùng 101 Đức-vua chư hầu ngự đi xem con đường hầm rất kỳ công bằng trí-tuệ của hạ thần. Hạ thần đã sử dụng các người thợ tài giỏi, các họa sĩ nổi danh, các nhà điêu khắc tài ba, các nhà nghệ thuật xuất sắc trong nước, tập trung làm con đường hầm kỳ diệu này. Con đường hầm này dài 15 cây số, rộng rãi, cao 14 cùi tay, có 80 cửa lớn, có 64 cửa nhỏ, có 2 căn phòng rộng lớn được trang hoàng lộng lẫy làm nơi hội triều, có 101 phòng nhỏ, có các ngọn đèn sáng rực rỡ suốt con đường hầm.

    Nghe diễn tả con đường hầm với lời thỉnh mời của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu ngự vào cung điện mới của quan Thừa-tướng, cùng với các đoàn lính hộ giá.

    Khi ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho lính của mình mở cửa đường hầm, mở các cửa lớn nhỏ và mở các ngọn đèn. Quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita từ trên lâu đài bước xuống đón rước Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đảnh lễ Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta, rồi thỉnh Đức-vua ngự lên chiếc long xa sang trọng, cùng 101 Đức-vua chư hầu ngự vào con đường hầm, theo sau có các đoàn lính hộ giá. Suốt con đường hầm có đèn sáng chói rực rỡ, hai bên vách đường hầm có nhưng bức tranh tuyệt đẹp, xen vào có những tượng chư thiên đứng như thật, tất cả được trang hoàng đẹp đẽ như cõi trời.

    Nhìn thấy con đường hầm được trang hoàng lộng lẫy xem không biết chán, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tán dương ca tụng quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là bậc đại trí có trí- tuệ siêu-việt sống trong ngôi nhà nào, phục vụ trong triều đình nào, trong đất nước nào, thì trong ngôi nhà ấy, trong triều đình ấy, trong đất nước ấy có được con người quý báu vô giá, đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài cho nơi ấy. Gia đình ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, Đức-vua Vedeha, đất nước Videharaṭṭha có được ngươi thì thật là một diễm phúc lớn lao nhất trong đời.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự trên chiếc long xa, nhìn thấy hai bên vách tường con đường hầm có những bức tranh đẹp tuyệt vời, những bức phù điêu sắc sảo do các nghệ nhân khéo tay, những tượng hình chư thiên đứng như thật, v.v... Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đi trước cùng với quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ra khỏi cửa hầm.

    Biết 101 Đức-vua chư hầu cùng đoàn tùy tùng theo hộ giá Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đang ở trong con đường hầm, say mê nhìn những bức tranh, bức phù điêu, tượng chư thiên, ... chưa một ai đi theo kịp. Quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho lính đóng cửa hầm và đóng 80 cửa lớn, 64 cửa nhỏ đồng thời cùng một lúc, tắt tất cả các ngọn đèn suốt con đường hầm tối tăm như cõi địa ngục Lokantarikanaraka, 101 Đức-vua chư hầu và đoàn binh lính hộ giá bị nhốt trong con đường hầm tối tăm, tất cả đều sợ chết ở trong con đường hầm ấy.

    Khi ấy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita lấy thanh gươm báu được chôn dưới đất chỗ cửa hầm đêm hôm trước, nhảy cao lên hư không 18 cùi tay, rồi đáp xuống đất, đưa thanh gươm báu kề vào cổ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, làm cho Đức-vua hoảng sợ, quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita hỏi rằng:

    - Tất cả ngai vàng trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này thuộc về của ai?

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta hoảng sợ truyền rằng:

    - Tất cả ngai vàng trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này thuộc về Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita. Xin quan Thừa-tướng hãy tha tội chết cho Trẫm.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương chớ nên hoảng sợ. Hạ thần cầm thanh gươm báu làm như vậy, không có tác ý sát hại Đại-vương mà hạ thần chỉ biểu hiện oai lực trí-tuệ của hạ thần mà thôi.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita nâng thanh gươm báu bằng đôi tay rồi tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, nếu Đại-vương muốn giết hạ thần thì Đại-vương giết hạ thần bằng thanh gươm báu này. Nếu Đại-vương muốn tha tội chết cho hạ thần thì xin Đại-vương ban sinh-mạng lại cho hạ thần.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Trẫm tha tội chết cho ngươi thật sự. Xin ngươi hãy an tâm.

    Biến Thù Thành Bạn

    Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita, cả hai vị cầm thanh gươm thề với nhau rằng:

    “Từ nay về sau, hai chúng ta sẽ không bao giờ giết hại lẫn nhau.”

    Đức-vua truyền bảo với quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là bậc đại-trí có đủ tài-đức, có trí-tuệ siêu-việt không ai bằng, có mưu kế siêu phàm. Tại sao ngươi không chiếm lấy ngai vàng lên làm vua trị vì thiên hạ.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, nếu hạ thần muốn được ngai vàng thì ngay hôm nay hạ thần có thể giết chết 101 Đức-vua trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, hạ thần sẽ trở thành Đại-vương Ekarājā, Đức-vua độc nhất làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, nhưng giết vua để lên ngôi vua, đó là điều mà chư bậc thiện-trí không bao giờ làm, cũng không tán dương, ca tụng. Vì vậy, hạ thần không bao giờ nghĩ đến việc ấy.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho lính mở cửa hầm và mở tất cả các cửa lớn nhỏ, mở tất cả các ngọn đèn đồng thời cùng một lúc, làm cho đường hầm sáng chói rực rỡ như trước.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita thỉnh Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự vào trong căn phòng lớn được trang hoàng lộng lẫy như cõi trời, ngự lên ngai vàng có lọng che, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ngồi phía dưới ra lệnh cho lính thỉnh 101 Đức-vua chư hầu vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Khi ấy, 101 Đức-vua chư hầu và đoàn quân lính hộ giá Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vui mừng, reo hò, cùng nhau đến gặp quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đang ngồi trong phòng lớn có Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự trên ngai vàng, họ thưa rằng:

    - Kính thưa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, quan Thừa-tướng là nơi nương nhờ của chúng tôi, vì tất cả chúng tôi được cứu sống trong ngày hôm nay là nhờ quan Thừa-tướng, nếu quan Thừa-tướng không mở các cửa, không cho đèn sáng thì tất cả chúng tôi đều sẽ chết trong con đường hầm này.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu quý Đức-vua, sự thật, tôi không những cứu sống quý Đức-vua hôm nay, mà trước đây, tôi cũng đã từng cứu sống quý Đức-vua. Cho nên, quý Đức-vua còn sống cho đến ngày hôm nay cũng do nương nhờ nơi tôi nữa.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, các Đức-vua thưa hỏi rằng:

    - Kính thưa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, trước đây trong trường hợp nào vậy? Thưa quan Thừa-tướng?

    - Tâu quý Đức-vua, nếu quý Đức-vua muốn biết thì tôi xin tâu nhắc lại rằng:

    “Quý vị còn nhớ, khi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thu phục được 101 kinh-thành, quý Đức-vua đã thần phục Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta (trừ Đức-vua Vedeha). Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla, 101 Đức-vua cùng ngự đi theo. Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng tại vườn thượng uyển”, quý vị còn nhớ hay không?

    Các Đức-vua đều truyền đáp lại rằng:

    - Kính thưa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, các Trẫm nhớ rõ, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có truyền lệnh tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng, nhưng các hũ rượu và đồ ăn bị nhóm lính gây gổ với nhau, đập bể các hũ rượu và đổ tất cả các đồ ăn, cho nên đại lễ đó uống rượu ăn mừng không thành tựu.

    - Tâu quý Đức-vua, trong thời kỳ ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta gần gũi thân cận với vị quân-sư Kevaṭṭa, nghe theo mưu kế của quân-sư, tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng. Nhân dịp đại lễ mừng chiến thắng ấy sẽ đầu độc 101 Đức-vua chư hầu bằng chất độc pha trộn trong các hũ rượu và các món đồ ăn.

    Khi ấy, biết được ý đồ độc ác của quân-sư Kevaṭṭa, nên tôi nghĩ rằng: “Khi ta đang hiện hữu trên cõi đời này, ta quyết không để cho 101 Đức-vua chư hầu ấy phải bị băng hà do mưu kế độc ác của vị quân-sư Kevaṭṭa.

    Vậy, ta sẽ là nơi nương nhờ của 101 Đức-vua ấy.”

    Nghĩ xong, tôi ra lệnh cho một đoàn quân anh dũng nhanh nhẹn đến xâm nhập vào vườn thượng uyển, làm bộ gây gổ với những người lính đang chuẩn bị cho đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng, rồi nhân cơ hội ấy, đập phá bể các hũ rượu có pha trộn chất độc và đổ bỏ các món đồ ăn có trộn chất độc, phá tan mưu kế giết chết 101 Đức-vua chư hầu, để cứu sinh-mạng của 101 Đức-vua của các nước ấy.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu lại chuyện đã từng xảy ra như vậy, 101 Đức-vua chư hầu vô cùng sửng sốt bèn tâu hỏi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta, chuyện mà quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, có thật hay không?

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Này quý Đức-vua! Chuyện mà quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu là hoàn toàn đúng sự thật.

    Bởi vì nghe theo mưu kế của quân-sư Kevaṭṭa, nên Quả-nhân chấp thuận đầu độc quý Đức-vua trong ngày đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng bằng cách pha trộn chất độc trong các hũ rượu và các món đồ ăn, để 101 Đức-vua phải bị băng hà trong ngày hôm ấy.

    Đó là chuyện hoàn toàn đúng theo sự-thật.

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền xác nhận sự thật như vậy, các Đức-vua đều ôm choàng quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita truyền bảo rằng:

    - Kính thưa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita kính mến! Chính quan Thừa-tướng là nơi nương nhờ của tất cả chúng tôi, tất cả chúng tôi được cứu sống là do nương nhờ nơi quan Thừa-tướng.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, xin Đại-vương chớ nên hối hận, lỗi lầm ấy là do gần gũi thân cận với người ác. Xin Đại- vương truyền bảo quý Đức-vua chư hầu bỏ lỗi lầm cũ.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Này quý Đức-vua! Quả-nhân đã mắc phải những lỗi lầm như vậy, bởi vì nghe lời của người ác, đó là điều sai lầm tội lỗi của Quả-nhân.

    Vậy, xin quý Đức-vua bỏ lỗi cho Quả-nhân. Từ nay về sau, Quả-nhân chắc chắn không làm điều ác như vậy nữa.

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo như vậy, 101 Đức-vua đều hoan hỷ bỏ lỗi, rồi mỗi Đức-vua đều xin lỗi lẫn nhau, sống trung thực, tin tưởng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, 101 Đức-vua đều vui mừng hoan hỷ sống chung hoà bình với nhau trong tình thân thiện.

    Khi ấy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền lệnh đem đồ ăn, đồ uống đủ các món, truyền các ban nhạc, các đoàn nhảy múa hát, ... đến trình diễn tại trong căn phòng lớn trong đường hầm suốt bảy ngày đêm.

    Đến ngày thứ bảy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu hoan hỷ làm lễ ban những tặng phẩm quý giá đến quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tại căn phòng lớn ấy. Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tha thiết truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Trẫm sẽ ban cho ngươi gấp đôi mỗi thứ mà Đức-vua Vedeha ban cho ngươi và những thứ của cải quý báu khác, ban cho ngươi một tỉnh thành để lấy thuế. Ngươi được phép sử dụng tùy theo sở thích, hưởng mọi sự an-lạc trong đời.

    Trẫm tha thiết chân thành mời Ngươi ở lại với Trẫm, xin đừng trở lại kinh-thành Mithilā nữa, có được hay không?

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tha thiết truyền bảo như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita chân thành tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, nếu người nào từ bỏ bậc đã nuôi dưỡng mình, bởi vì tham muốn của cải, danh lợi thì người ấy tự chê trách mình và cũng bị bậc thiện-trí chê trách nữa.

    - Tâu Đại-vương, lúc hạ thần mới lên bảy tuổi, Đức- vua Vedeha nhận hạ thần làm hoàng-tử, và hạ thần tôn kính Đức-vua Vedeha là Đức Phụ-vương. Cho nên, Đức- vua Vedeha còn sống đến ngày nào thì hạ thần vẫn một lòng trung thành phụng sự Đức-vua Vedeha cho đến ngày ấy, hạ thần không bao giờ từ bỏ Đức-vua Vedeha được.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita dõng dạc khẳng định, tuyệt đối trung thành với Đức-vua Vedeha như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng kính phục quan Thừa-tướng, nên truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita, Trẫm rất kính phục khanh. Khanh là một hiền thần một lòng trung thành tuyệt đối với Đức-vua Vedeha.

    Tuy nhiên, Trẫm tha thiết yêu cầu khanh rằng: “Sau khi Đức-vua Vedeha băng hà, xin khanh hứa với Trẫm rằng khanh sẽ trở lại kinh-thành Uttarapañcāla giúp Trẫm.”

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, đến khi ấy, nếu hạ thần còn sống thì hạ thần hứa sẽ trở lại kinh-thành Uttarapañcāla phụng sự Đại-vương.

    Nghe quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita hứa như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ truyền bảo rằng: Lành thay! Lành thay!

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban cho quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita 1.000 thỏi vàng, 80 xóm nhà trong vùng Kāsi để lấy thuế hằng năm, 400 người tớ gái, 100 người vợ, rồi truyền bảo rằng:

    - Trẫm chúc khanh dẫn các đội quân trở về kinh- thành Mithilā được an toàn.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương an tâm, hạ thần đã từng tâu với Đức-vua Vedeha rằng: “Tâu Đại-vương Vedeha, bây giờ Đại-vương đã trở thành phò mã của Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta rồi, Đại-vương phải nên có bổn phận:

    * Đối xử với Hoàng Thái-hậu Calākadevī trên ngôi vị nhạc Hoàng Thái-hậu của Đại-vương.

    * Đối xử với Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta trên ngôi vị nhạc Phụ-vương của Đại-vương.

    * Đối xử với Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī trên ngôi nhạc Mẫu-hậu của Đại-vương.

    * Đối xử với Thái-tử Pañcālacanda trên ngôi vị nhạc Hoàng-huynh của Đại-vương.

    * Đối xử với Công-chúa Pañcālacandī trên ngôi vị Chánh-cung Hoàng-hậu của Đại-vương.”

    - Tâu Đại-vương, sau khi về đến kinh-thành Mithilā, hạ thần sẽ tổ chức đại lễ tiễn đưa Lệnh bà Hoàng Thái- hậu Calākadevī, Lệnh bà Chánh-cung Hoàng-hậu Nandā- devī và Thái-tử Pañcālacanda của Đại-vương ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla sớm nhất.

    Kính xin Đại-vương an tâm, tin tưởng nơi hạ thần.

    Lễ Tiễn Biệt Quan Thừa-Tướng

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita bái biệt Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta cùng với 101 Đức-vua trở về kinh-thành Mithilā, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta gửi những tớ gái, tớ trai, ngọc ngà châu báu, voi, ngựa, xe đến ban cho Công-chúa Pañcālacandī và truyền lệnh ban cho nhiều đồ ăn cho đàn voi, đàn ngựa để cho đàn voi, đàn ngựa có đủ sức mạnh đi đường xa.

    Buổi lễ tiễn đưa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đầy lưu luyến, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng 101 Đức-vua chư hầu trở về kinh-thành Uttarapañcāla.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita dẫn đầu các bộ binh trở về kinh-thành Mithilā, với số lượng đông hơn trước, bởi vì có đoàn binh lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tiễn đưa đến kinh-thành Mithilā.

    Xung quanh ngoại thành Mithilā, vị quân-sư Senaka đặt những người lính canh gác, quan sát, hễ có quân lính của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta xâm nhập phải báo ngay cho quân-sư ngay.

    Quan Thừa-Tướng Trở Về Kinh-Thành Mithilā

    Khi đoàn quân rất đông đảo đi đến gần kinh-thành Mithilā, những người lính của vị quân-sư Senaka nhìn thấy quan Thừa-tướng Mahosadha dẫn đầu đoàn quân đông đảo trở về, liền thưa báo cho vị quân-sư Senaka biết.

    Quân-sư Senaka đến chầu Đức-vua Vedeha tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, quan Thừa-tướng Mahosadha dẫn đầu đoàn quân rất đông đảo đang trở về kinh-thành Mithilā.

    Nghe vị quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua Vedeha nghĩ rằng:

    “Đoàn quân của Mahosadhapaṇḍita trước đây có ít, bây giờ rất đông đảo. Vậy, có phải Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bắt buộc Mahosadhapaṇḍita dẫn đầu kéo quân đến tấn công kinh-thành Mithilā này hay không?”

    Nghĩ vậy, nên Đức-vua Vedeha lo sợ, truyền hỏi các vị quân-sư rằng:

    - Thưa quý quân-sư, đoàn quân của Mahosadha- paṇḍita trước đây có ít, bây giờ rất đông đảo đang kéo vào kinh-thành Mithilā như vậy. Quý vị quân-sư nghĩ thế nào?

    Quân-sư Senaka tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ vui mừng, không có gì đáng ngại cả, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đã làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta kính phục, nên Đức-vua đã cho các đội binh theo tiễn đưa quan Thừa- tướng Mahosadha đến kinh-thành Mithilā được an toàn.

    Nghe quân-sư Senaka tâu như vậy, Đức-vua vô cùng hoan hỷ truyền lệnh dân chúng trong kinh-thành Mithilā trang hoàng kinh-thành đẹp đẽ để đón rước quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita cùng đoàn quân trở về kinh- thành Mithilā được an toàn.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita vào kinh-thành đến cung điện chầu Đức-vua Vedeha, đảnh lễ Đức-vua, tâu trình lên Đức-vua xong, ngồi một nơi hợp lẽ.

    Khi ấy, Đức-vua Vedeha từ trên ngai vàng đứng dậy, đến ôm choàng hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita với tấm lòng nhớ thương, rồi dắt lên cùng ngồi chung trên ngai vàng, truyền hỏi rằng:

    - Này Hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Con ở lại trong tay của kẻ thù là Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, con đã sử dụng phép thần kế nào mà con không chỉ thoát ra khỏi tay của kẻ thù, mà còn làm cho Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta kính phục con, ban thưởng cho con nhiều phẩm vật quý giá đến thế?

    Hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức Phụ-vương, con đã chống đỡ việc làm của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta kẻ thù, bằng việc làm của con. Con đã chống đỡ ý nghĩ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta kẻ thù, bằng ý nghĩ của con. Chỉ có một mình con đã chống đỡ được Đức-vua Cūḷanī Brahma datta cùng 101 Đức-vua chư hầu.

    Sau đó, hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu thuật lại cuộc khẩu chiến giữa quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, và chinh phục được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, cho Đức-vua Vedeha nghe lại đầy đủ.

    Nghe hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu thuật lại đầy đủ như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ, tán dương, ca tụng trí-tuệ siêu-việt của hoàng-tử.

    Khi ấy, hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu lên Đức-vua Vedeha về những quà của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tặng hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita như sau:

    - Tâu Đức Phụ-vương, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban tặng cho con 1.000 thỏi vàng, 80 xóm nhà trong vùng Kāsi, 400 người tớ gái, 100 người vợ.

    Con đã đưa các đội binh, các công nhân, các nhà nghệ thuật đầy đủ trở về an toàn.

    Đức-vua Vedeha truyền lệnh cho phép thần dân thiên hạ trong toàn đất nước Videharaṭṭha ăn mừng, vui chơi, ca hát, nhảy múa suốt bảy ngày đêm. Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Những người nào có lòng tôn kính Trẫm, thì những người ấy hãy nên đem phẩm vật đến kính biếu Maho- sadhapaṇḍita hoàng-nhi của Trẫm.

    Từ lâu, phần đông các quan, quân trong triều đình, các hoàng thân của Đức-vua Vedeha, dân chúng trong kinh-thành Mithilā, dân chúng ngoại thành, dân chúng bốn xóm nhà bốn vùng lúa mạch bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc cho đến dân chúng các vùng biên địa đều có lòng ngưỡng mộ Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Nay, Đức-vua Vedeha truyền lệnh cho phép thần dân thiên hạ trong toàn đất nước Videharaṭṭha được phép đem phẩm vật đến kính biếu Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita. Đó là cơ hội tốt cho tất cả mọi người được gần gũi thân cận với Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Trong cung điện, từ Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbara- devī của Đức-vua Vedeha là đại tỷ của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, đem những phẩm vật quý giá đến biếu người em trai là Mahosadhapaṇḍita, rồi thứ đến các Hoàng-hậu, thứ-phi, cung-phi mỹ-nữ, các vị trong hoàng gia, hoàng-tử, công-chúa, quan trong triều, tướng lĩnh, binh lính triều đình, các Bà-la-môn, phú hộ, các thương gia, dân chúng trong kinh-thành, dân chúng ngoại thành, dân chúng trong bốn vùng lúa mạch, cho đến dân chúng vùng biên địa, lũ lượt kéo nhau đem những phẩm vật quý giá của xứ sở của mình đến kính biếu Đức-Bồ-tát.

    Tất cả mọi người đều vô cùng hoan hỷ được chiêm ngưỡng, gần gũi, thân cận với Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita. Tất cả mọi người đều tán dương, ca tụng Maho- sadhapaṇḍita là bậc đại-thiện-trí, luôn luôn đem lại sự hạnh phúc an-lạc cho mọi người.

    Toàn thể dân chúng vui mừng đại lễ hội suốt bảy ngày xong, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, xin Đại-vương truyền lệnh tổ chức đại lễ tiễn đưa ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh- cung Hoàng-hậu Nandādevī và Thái-tử Pañcālacanda ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla nhanh nhất.

    Đức-vua Vedeha truyền bảo rằng:

    - Này hoàng-nhi Mahosadha yêu quý! Lành thay! Chúng ta nên tổ chức đại lễ tiễn đưa ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta một cách trọng thể nhất.

    Lễ Tiễn Đưa Ba Vị Hoàng Thân

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ra lệnh cho các đoàn quân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đã tiễn đưa Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ngày trước, nay, các đoàn quân ấy cùng với đoàn quân của Đức-Bồ-tát trở thành đoàn quân hộ giá ba vị hoàng thân của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dẫn 100 người vợ, 400 tớ gái mà Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đã ban cho Đức- Bồ-tát trước đây, nay Đức-Bồ-tát kính xin dâng đến Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đem về lo hầu hạ, phục vụ cho Bà.

    Khi ấy, trong buổi lễ tiễn đưa, Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī ôm Công-chúa Pañcālacandī vào lòng, hôn trên đầu, rồi truyền bảo rằng:

    - Mẫu-hậu ngự trở về cố quốc, con ở lại đây với Đức- vua Vedeha.

    Công-chúa Pañcālacandī cảm động khóc vì phải xa Mẫu-hậu của mình.

    Sau đó, ba vị hoàng thân: Hoàng Thái-hậu Calāka- devī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī và Thái-tử Pañcālacanda của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự lên chiếc long xa sang trọng trở về kinh-thành Uttarapañcāla với đoàn quân hộ giá đông đảo.

    Ba vị hoàng thân ngự trên chiếc long xa sang trọng ra khỏi kinh-thành Mithilā với lòng lưu luyến, bởi vì Đức- vua Vedeha đối xử với họ một lòng tôn kính suốt trong những ngày họ ngự tại cung điện của Đức-vua Vedeha.

    Ba Vị Hoàng Thân Ngự Về Đến Cố Quốc

    Quân lính giữ biên giới đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, ba vị hoàng thân của Đại-vương cùng đoàn quân hộ giá đông đảo đang ngự đến gần kinh-thành Uttarapañcāla.

    Nghe tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cùng các quan ngự ra ngoài kinh-thành Uttarapañcāla chờ đón rước Hoàng Thái-hậu Calākadevī, Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī và Thái-tử Pañcālacanda.

    Nhìn từ xa, thấy chiếc long xa sang trọng chở ba vị hoàng thân của mình đang đến, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng vui mừng, hoan hỷ giục con voi báu lại đón rước họ, rồi Đức-vua dẫn đầu đoàn người ngự vào kinh-thành Uttarapañcāla đến cung điện, thỉnh Hoàng Thái hậu Calākadevī, theo sau là Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī và Thái-tử Pañcālacanda lên lâu đài.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Hoàng Thái hậu Calākadevī rồi tâu rằng:

    - Tâu Mẫu-hậu, Đức-vua Vedeha đối xử với Mẫu-hậu như thế nào?

    - Này hoàng-nhi yêu quý! Đức-vua Vedeha đối xử với Mẫu-hậu, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, Thái-tử Pañcālacanda như những người trong hoàng gia của mình. Đức-vua Vedeha đặt Mẫu-hậu lên ngôi vị nhạc Hoàng Thái-hậu, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī lên ngôi vị nhạc Mẫu-hậu, Thái-tử Pañcālacanda lên ngôi vị nhạc hoàng-huynh và Công-chúa Pañcālacandī lên ngôi vị Chánh-cung Hoàng-hậu.

    Đức-vua Vedeha hết lòng sủng ái Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī. Ngày đêm, Đức-vua Vedeha đối xử làm tròn bổn phận đối với Mẫu-hậu, Chánh-cung Hoàng-hậu, Thái-tử và Công-chúa của con.

    Nghe Mẫu-hậu truyền bảo như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ khen ngợi Đức-vua Vedeha là Đức-vua chí hiếu chí tình.

    Về sau, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thường truyền sai sứ giả đem những phẩm vật quý giá ban cho Đức-vua Vedeha, vị phò mã của mình. Và Đức-vua Vedeha cũng thường truyền sai sứ giả đem những phẩm vật quý giá kính dâng lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, Đức nhạc Phụ-vương của mình.

    Từ đó về sau, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta với Đức- vua Vedeha trở thành người thân quyến với nhau, dân chúng hai kinh-thành Uttarapañcāla và kinh-thành Mithilā thân mật với nhau, toàn thể dân chúng hai đất nước Kapilaraṭṭha và đất nước Videharaṭṭha cũng thân thiện với nhau, sống chung hòa bình thịnh vượng, an cư lạc nghiệp với nhau.

    Đức-Vua Vedeha Băng Hà

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī được Đức-vua sủng ái nhất, đến năm thứ nhì, Bà sinh hạ được một hoàng-tử. Khi hoàng-tử lên 10 tuổi, Đức-vua Vedeha băng hà. Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita làm đại lễ đăng quang cho hoàng-tử nối ngôi vua cha, cũng ngự tại kinh-thành Mithilā, trị vì đất nước Videharaṭṭha.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu với Đức- vua trẻ rằng:

    - Tâu Đại-vương, hạ thần xin đi đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, Đức-vua ngoại của Bệ-hạ tại kinh-thành Uttarapañcāla.

    Đức-vua trẻ truyền bảo rằng:

    - Thưa quan Thừa-tướng, Trẫm còn thơ dại, Trẫm cần nương nhờ nơi quan Thừa-tướng. Kính xin quan Thừa- tướng không nên rời khỏi Trẫm đi trong lúc này.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī cũng khẩn khoản van xin quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ở lại, vì Đức-vua còn thơ dại và triều đình rất cần quan Thừa-tướng, để làm nơi nương nhờ. Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

    - Tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, hạ thần đã từng hứa với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, cho nên hạ thần phải giữ lời hứa ấy. Xin tâu Lệnh Bà rõ.

    Đức-Bồ-Tát Giã Từ Kinh-Thành Mithilā

    Mặc dù Đức-vua trẻ, Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcālacandī, các quan trong triều đình, các tướng lĩnh, quân lính, dân chúng trong kinh-thành Mithilā khóc than thật đáng thương, khẩn khoản xin Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita ở lại triều đình, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn không thay đổi ý định. Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dẫn nhóm 1000 người bạn thuộc hạ của mình rời khỏi kinh-thành Mithilā đi đến kinh-thành Uttarapañcāla, chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta như lời đã hứa năm xưa. Vị quan gác cửa thành vào tâu trình lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, quan Mahosadhapaṇḍita cùng đoàn tùy tùng thuộc hạ đến kinh-thành Uttarapañcāla, xin vào yết kiến Đại-vương.

    Nghe vị quan tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahma- datta vô cùng hoan hỷ truyền bảo rằng:

    - Này khanh! Khanh hãy mời quan Mahosadha- paṇḍita cùng đoàn thuộc hạ vào cung điện.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng nhóm bạn vào yết kiến Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tại cung điện, đảnh lễ, vấn an Đức-vua xong, Đức-Bồ-tát tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đức-vua Vedeha đã băng hà, hạ thần đã làm tròn bổn phận xong. Để giữ gìn lời hứa năm xưa với Đại-vương, hạ thần cùng nhóm bạn thuộc hạ đến chầu Đại-vương.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadha tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ truyền bảo rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Khanh cùng nhóm bạn đến đây, Trẫm rất hài lòng vô cùng hoan hỷ. Nay, triều đình có thêm những bậc hiền tài giúp Trẫm.

    Vậy, Trẫm xin ban cho các khanh chỗ ở, và những nhu cầu cần thiết, ban cho khanh 80 xóm vùng Kāsi để thâu thuế.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita cùng nhóm bạn 1000 người hết lòng phục vụ cho triều đình Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nhưng họ không được đãi ngộ xứng đáng.

    Bậc Đại-Thiện-Trí Gặp Bậc Đại-Thiện-Trí

    Khi ấy, một nữ tu-sĩ Bherī phiêu lãng (paribbājikā) thường đến thọ nhận vật thực trong cung điện của Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta. Nữ tu-sĩ Bherī là bậc đại-thiện- trí, có trí-tuệ sắc bén, chưa từng gặp Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, chỉ nghe danh tiếng Đức-Bồ-tát là bậc đại-thiện-trí, có trí-tuệ siêu-việt, đến phục vụ Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta, và Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita cũng chưa từng gặp nữ tu-sĩ Bherī, chỉ nghe danh tiếng nữ tu-sĩ Bherī là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ sắc bén, thường đến thọ nhận vật thực trong cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī không hài lòng nơi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bởi vì chính Đức- Bồ-tát là người bày ra kế bắt Công-chúa Pañcālacandī yêu dấu của Bà thành hôn với Đức-vua Vedeha tại kinh- thành Mithilā, làm cho Bà phải xa lìa Công-chúa yêu dấu của Bà. Cho nên, Bà truyền bảo 500 tỳ nữ theo dõi, tìm lỗi của Đức-Bồ-tát, rồi tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, để làm kế ly gián.

    Tuân lệnh Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, hằng ngày, nhóm tỳ nữ luôn luôn theo dõi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Một hôm, nữ tu-sĩ Bherī thọ thực xong, từ cung điện trở về, nhìn thấy Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita từ ngoài đi vào làm việc trong cung điện. Hai vị gặp nhau tại sân bên ngoài cung điện.

    Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dừng lại, chắp hai tay lễ bái vị nữ tu-sĩ Bherī. Vị nữ tu-sĩ Bherī nghĩ rằng:

    “Nghe danh tiếng Mahosadhapaṇḍita là bậc đại- thiện-trí, có trí-tuệ siêu-việt, ta muốn biết y là bậc đại- thiện-trí hay không. Vậy, ta nên hỏi những câu hỏi bằng cách ra dấu bằng tay.”

    Vị nữ tu-sĩ Bherī dừng lại, nhìn về phía Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, rồi ngửa bàn tay phải, có nghĩa là:

    - Này quan Mahosadhapaṇḍita! Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời ông từ nước ngoài đến giúp triều đình, Đức-vua có ban nhiều ân huệ cho ông không?

    Nhìn thấy nữ tu-sĩ Bherī ngửa bàn tay phải, Đức-Bồ- tát Mahosadhapaṇḍita hiểu rõ ý nghĩa câu hỏi của nữ tu- sĩ Bherī, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đưa tay phải nắm chặt lại, có nghĩa là:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời tôi đến giúp triều đình. Đã từng hứa sẽ ban cho tôi nhiều ân huệ, đến nay Đức-vua vẫn còn nắm chặt tay, chưa ban những ân huệ ấy cho tôi.”

    Hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời của Đức-Bồ-tát Maho- sadhapaṇḍita, nên vị nữ tu-sĩ Bherī đưa bàn tay vuốt trên đầu của mình, có nghĩa là:

    - Này quan Mahosadha-paṇḍita! Nếu ông sống trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy, thì xin ông nên đi xuất gia như bần đạo vậy!”

    Hiểu rõ ý nghĩa vị nữ tu-sĩ Bherī khuyên đi xuất gia như bà, nên Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đưa tay sờ vào bụng của mình, có nghĩa là:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, tôi còn có vợ con và nhóm bạn hữu thuộc hạ, cần phải lo nuôi dưỡng, nên tôi chưa có thể xuất gia như bà được.”

    Vị nữ tu-sĩ Bherī hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời của Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, bà thông cảm hoàn cảnh khổ của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Hai bậc đại-thiện-trí: nữ tu-sĩ Bherī và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita vấn đáp với nhau bằng cách ra dấu bằng bàn tay, mà chỉ có hai người mới có thể thông hiểu rõ ý nghĩa của nhau mà thôi.

    Nữ tu-sĩ Bherī đi về chỗ ở của mình, còn Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đi vào cung điện phục vụ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

    Nhóm nữ tỳ của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī theo dõi nhìn thấy nữ tu-sĩ Bherī và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có cử chỉ ra dấu bằng tay ấy, họ nghĩ rằng: “Đó là cái lỗi mà nhóm nữ tỳ đã nhìn thấy nơi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.”

    Nhóm nữ tỳ đến tâu lên Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī những điều đã nhìn thấy về Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita và nữ tu-sĩ Bherī.

    Nghe nhóm nữ tỳ đến tâu như vậy, Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī truyền bảo họ đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu theo cách suy diễn của Bà.

    Tuân theo lệnh của Chánh-cung Hoàng-hậu, họ đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

    - Tâu Hoàng-thượng, chúng tiện nữ nhìn thấy vị quan Mahosadhapaṇḍita với nữ tu-sĩ Bherī gặp nhau tại sân trước cung điện, bàn tính với nhau chiếm đoạt ngai vàng của Hoàng-thượng.

    Như vậy, Mahosadhapaṇḍita và nữ tu-sĩ Bherī là kẻ thù của Hoàng-thượng.

    Nghe nhóm nữ tỳ ấy tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi rằng:

    - Này các nữ tỳ! Các ngươi thấy hoặc nghe gì mà dám tâu như vậy?

    Nhóm nữ tỳ ấy tâu rằng:

    - Tâu Hoàng-thượng, nhóm tiện nữ nhìn thấy nữ tu-sĩ Bherī, sau khi thọ thực xong, từ cung điện ra về, nữ tu-sĩ Bherī gặp vị quan Mahosadhapaṇḍita từ bên ngoài đi vào, hai người đứng khoảng cách xa tại sân trước cung điện của Hoàng-thượng.

    Khi ấy, nữ tu-sĩ Bherī làm dấu ngửa bàn tay, có nghĩa là:

    “- Này Mahosadha! Ngài có khả năng nắm Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta trong bàn tay của Ngài, rồi chờ cơ hội chiếm lấy ngai vàng vào trong tay của Ngài chưa?”

    Vị quan Mahosadhapaṇḍita đưa tay phải nắm chặt lại, có nghĩa là:

    “- Thưa nữ tu-sĩ Bherī, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nằm trong tay của tôi rồi, tôi chờ cơ hội giết Đức-vua.”

    Nữ tu-sĩ Bherī đưa bàn tay vuốt trên đầu của mình, có nghĩa là:

    “- Này Mahosadhapaṇḍita! Ngài nên chặt đầu Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta.”

    Vị quan Mahosadhapaṇḍita đưa tay sờ vào bụng của mình, có nghĩa là:

    “- Thưa nữ tu-sĩ Bherī, tôi không chỉ chặt đầu Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta mà còn đâm vào bụng của Đức-vua nữa.”

    - Tâu Hoàng-thượng, kính xin Hoàng-thượng chớ nên dể duôi, xin Hoàng-thượng truyền lệnh giết chết vị quan Mahosadhapaṇḍita trước. Đó là thượng sách.

    Nghe lời tâu của nhóm tỳ nữ của Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nghĩ rằng:

    “Ta và Mahosadhapaṇḍita đã từng hứa chắc chắn với nhau không bao giờ giết hại lẫn nhau nữa. Cho nên, ta tin tưởng chắc chắn vị quan Mahosadhapaṇḍita không bao giờ giết hại ta. Nhưng ta muốn biết rõ sự thật về cuộc đàm thoại bằng cách ra dấu tay như thế nào?

    Vậy, ta nên hỏi vị nữ tu-sĩ Bherī. Bởi vì bậc xuất gia tôn trọng sự thật.”

    Đức-Bồ-Tát Được Thăng Chức Quan Thừa-Tướng

    Sáng hôm sau, khi nữ tu-sĩ Bherī thọ thực tại cung điện xong, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đến gặp bà, truyền hỏi rằng:

    - Kính thưa nữ tu-sĩ Bherī, bà đã gặp vị quan Mahosadhapaṇḍita hay chưa?

    - Tâu Đại-vương, hôm qua, sau khi thọ thực xong, bần đạo từ trên lâu đài bước xuống ra về, đi ra đến sân, nhìn thấy vị quan Mahosadhapaṇḍita từ ngoài đi vào làm việc trong cung điện, ông dừng lại cách một khoảng, đứng chắp hai tay lễ bái bần đạo.

    Bần đạo nghĩ rằng: “Nghe danh tiếng vị quan Maho- sadhapaṇḍita là bậc đại-thiện-trí, có trí-tuệ siêu-việt, ta muốn biết ông là bậc đại-thiện-trí hay không.

    Vậy, ta nên hỏi ông những câu hỏi theo cách ra dấu bằng tay.”

    Bần đạo dừng lại, nhìn về phía quan Mahosadha- paṇḍita rồi ngửa bàn tay phải, nghĩa là:

    “- Này quan Mahosadhapaṇḍita! Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời ông từ nước ngoài đến giúp triều đình, Đức-vua có ban nhiều ân huệ cho Ngài hay không?”

    Nhìn thấy bần đạo ngửa bàn tay phải, vị quan Maho- sadhapaṇḍita hiểu rõ ý nghĩa câu hỏi của bần đạo, nên ông đưa tay phải nắm chặt lại, nghĩa là:

    “- Thưa nữ tu-sĩ Bherī, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời tôi đến giúp, đã từng hứa sẽ ban cho tôi nhiều ân huệ. Đến nay Đức-vua vẫn nắm chặt tay, chưa ban những ân huệ ấy cho tôi.”

    Hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời của vị quan Mahosadha- paṇḍita, nên bần đạo đưa bàn tay vuốt trên đầu của mình, nghĩa là:

    “- Này quan Mahosadhapaṇḍita! Nếu ông sống trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy, thì ông nên đi xuất gia như bần đạo vậy!”

    Hiểu rõ ý nghĩa bần đạo khuyên đi xuất gia, nên ông đưa tay sờ vào bụng của mình, nghĩa là:

    “- Thưa nữ tu-sĩ Bherī, tôi còn có vợ con và nhóm bạn hữu thuộc hạ, cần phải lo nuôi dưỡng, nên tôi chưa có thể xuất gia như bà được.”

    Bần đạo hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời ấy của vị quan Mahosadhapaṇḍita, nên thông cảm hoàn cảnh khổ hiện tại của ông.

    - Tâu Đại-vương, bần đạo gặp vị quan Mahosadha- paṇḍita chỉ hỏi và đáp với nhau theo cách ra dấu bằng tay mà thôi, không có nói với nhau lời nào.

    Hỏi và đáp theo cách ra dấu bằng tay này chỉ có bậc đại-thiện-trí với bậc đại-thiện-trí, mới có thể thông hiểu rõ ý nghĩa của nhau được mà thôi.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi rằng:

    - Thưa vị nữ tu-sĩ Bherī, vị quan Mahosadhapaṇḍita có phải là bậc đại-thiện-trí hay không?

    - Tâu Đại-vương, bậc đại-thiện-trí như vị quan Maho- sadhapaṇḍita không dễ có trong đời này. Vậy, vị quan Mahosadhapaṇḍita ấy đích thực là bậc đại-thiện-trí cao thượng nhất trong đời này.

    Nghe nữ tu-sĩ Bherī tâu thuật lại cuộc đàm thoại lý thú giữa bà và Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, và được bà khẳng định rằng:

    Vị quan Mahosadhapaṇḍita đích thực là bậc đại- thiện-trí cao thượng nhất trong đời này.”

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ được gần gũi, thân cận với bậc đại-thiện-trí ấy, Đức-vua đảnh lễ nữ tu-sĩ Bherī, rồi ngự trở về lâu đài của mình.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đi vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, làm phận sự trong triều đình như thường lệ. Đức-vua truyền hỏi rằng:

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Khanh có gặp nữ tu-sĩ Bherī hay chưa?

    - Tâu Đại-vương, hôm qua, đang đi vào cung điện, hạ thần đã gặp vị nữ tu-sĩ Bherī tại sân, trước cung điện.

    - Này Mahosadhapaṇḍita! Khanh có nói chuyện với vị nữ tu-sĩ Bherī hay không?

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu Đức-vua rằng:

    - Tâu Đại-vương, ban đầu hạ thần dừng lại, đứng cách một khoảng, chắp hai tay cung kính lễ bái vị nữ tu- sĩ Bherī. Bà ngửa bàn tay phải ra có nghĩa là hỏi hạ thần phục vụ trong triều đình, được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban nhiều ân huệ hay không?

    Hiểu rõ ý nghĩa nữ tu-sĩ Bherī hỏi, nên hạ thần đưa tay phải nắm chặt lại.

    Bà hiểu rõ Đại-vương chưa ban nhiều ân huệ, nên hạ thần đang sống trong hoàn cảnh thiếu thốn.

    Bà đưa bàn tay vuốt trên đầu của bà.

    Hiểu rõ ý nghĩa bà khuyên hạ thần nên đi xuất gia như bà, thì hạ thần đưa tay sờ vào bụng của mình.

    Vị nữ tu-sĩ Bherī hiểu rõ hạ thần còn có bổn phận lo nuôi dưỡng vợ con và nhóm bạn hữu của mình.

    Bà thông cảm hoàn cảnh của hạ thần. Sau đó, hạ thần xin bái biệt bà.

    - Tâu Đại-vương, đó là cuộc vấn đáp theo cách ra dấu bằng tay, mà chỉ có hạ thần với nữ tu-sĩ Bherī hiểu biết rõ với nhau mà thôi, không nói bằng lời như vậy.

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu trình lại cuộc đàm thoại giữa vị nữ tu-sĩ Bherī với Ngài, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vô cùng hoan hỷ phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita.

    Hôm ấy, buổi hội triều, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta trân trọng ban chức quyền cao nhất trong triều đình, Chức quan Senāpati: Chức quan Thừa-tướng đến Đức- Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giữa triều đình bá quan văn võ, đồng thời, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cũng ban cho 1.000 người bạn hữu thuộc hạ của Ngài chức tước lớn cùng một lúc.

    Sau khi được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban chức trọng quyền cao nhất trong triều đình, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

    “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta không chỉ ban cho ta chức quyền cao nhất trong triều đình, mà còn ban cho 1.000 người bạn hữu của ta chức tước lớn nữa, cùng một lúc như thế này, ta không biết Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có phải trọng dụng người tài hay không?

    Để biết Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có thật tâm trọng dụng ta, hay có ý gì khác. Người có khả năng biết được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối xử với ta như thế nào, thì chỉ có nữ tu-sĩ Bherī mà thôi, bởi vì bà có trí-tuệ sâu sắc, biết cách dò xét để tìm ra sự thật.”

    Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đem phẩm vật đến lễ bái cúng dường vị nữ tu-sĩ Bherī xong, ngồi một nơi hợp lẽ, thưa rằng:

    - Kính thưa nữ tu-sĩ Bherī, từ ngày Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ngự đến truyền hỏi chuyện với bà, bà đã tâu thuật lại cuộc đàm thoại lý thú giữa bà với tôi. Bà đã đề cao tôi với Đức-vua.

    Sau đó, Đức-vua lại truyền hỏi lại tôi về cuộc đàm thoại lý thú ấy. Nghe tôi cũng tâu thuật lại như vậy. Đức-vua đã ban cho tôi chức quyền cao nhất: “Chức quan Thừa-tướng” trong triều đình, và cùng một lúc ban chức lớn đến cho 1.000 người bạn hữu của tôi nữa.

    Tôi muốn biết Đức-vua đã ban như vậy, với đại-thiện- tâm thiện ý của Đức-vua, hay có ý gì khác.

    Vậy, tôi xin nhờ bà tìm hiểu, dò xét Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối xử với tôi như thế nào?

    Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có tâm trạng băn khoăn như vậy, vị nữ tu-sĩ Bherī nhận lời giúp làm sáng tỏ, để cho vị quan Mahosadhapaṇḍita an tâm.

    Câu Hỏi Dakarakkhasapañhā

    Một hôm, vào cung điện của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nữ tu-sĩ Bherī nghĩ ra câu hỏi gọi là Dakarakkhasapañhā: Câu hỏi Dạ-xoa dưới nước.

    Vị nữ tu-sĩ Bherī chỉ muốn hỏi riêng một mình Đức- vua Cūḷanī Brahmadatta về câu hỏi ấy mà thôi.

    Bà tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, bần đạo có một câu hỏi muốn hỏi riêng Đại-vương, kính xin Đại-vương cho cơ hội.

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo rằng:

    - Kính thưa nữ tu-sĩ Bherī, kính mời bà hỏi, nếu Quả- nhân biết thì Quả-nhân sẽ giải đáp.

    Được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cho cơ hội, nên vị nữ tu-sĩ Bherī tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, giả dụ Đại-vương đi du thuyền trên biển, trong chiếc thuyền gồm có bảy người là:

    1- Đại-vương,

    2- Mẫu-hậu Calākadevī,

    3- Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī,

    4- Hoàng đệ Tikhiṇamanti,

    5- Bạn hữu Dhanusekha,

    6- Quân-sư Kevaṭṭa,

    7- Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Một Dạ-xoa dưới nước (Dakarakkhasa) nổi lên bắt chiếc thuyền, với yêu cầu rằng:

    “- Tâu Đại-vương, trong chiếc thuyền này gồm có bảy người, xin Đại-vương ban cho tôi từng người để ta ăn thịt theo tuần tự từ Ngài.ưi thứ nhất đến người thứ sáu, tôi sẽ tha chết một người.”

    - Tâu Đại-vương, nếu Dạ-xoa dưới nước yêu cầu như vậy, thì Đại-vương ban cho Dạ-xoa ăn thịt từng người theo tuần tự từ người thứ nhất đến người thứ sáu như thế nào?

    Nghe câu hỏi mà vị nữ tu-sĩ Bherī đặt ra hỏi, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền thưa rằng:

    - Thưa vị nữ tu-sĩ Bherī, nếu Dạ-xoa dưới nước yêu cầu như vậy thì Quả-nhân sẽ ban cho Dạ-xoa ăn thịt mỗi người theo tuần tự như sau:

    1- Người thứ nhất, Mẫu-hậu Calākadevī.

    2- Người thứ nhì, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī

    3-Người thứ ba, Hoàng đệ Tikhiṇamanti.

    4- Người thứ tư, bạn hữu Dhanusekha.

    5- Người thứ năm, quân-sư Kevaṭṭa.

    6- Người thứ sáu chính là Quả-nhân.

    Khi ấy, Quả-nhân truyền bảo Dạ-xoa ấy rằng:

    - Ngươi hãy ăn thịt Quả-nhân đây!

    - Thưa vị nữ tu-sĩ Bherī, thà Quả-nhân chịu hy sinh sinh-mạng cho Dạ-xoa ăn thịt là người thứ sáu, chứ không bao giờ chịu hy sinh Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita cho Dạ-xoa ăn thịt.

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta giải đáp câu hỏi như vậy, vị nữ tu-sĩ Bherī đã biết được Đức-vua thật tâm tôn trọng quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

    Sau khi Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta giải đáp câu hỏi dakarakkhasapañhā xong, bà muốn cho các quan quân trong triều đình, những người trong hoàng gia, dân chúng trong kinh-thành Uttarapañcāla đều biết đến tài đức của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, cho nên bà tâu với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

    - Tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương truyền lệnh cho tất cả các quan quân trong triều đình, những người trong hoàng gia, dân chúng trong kinh-thành Uttara- pañcāla tụ hội tại sân rồng trước cung điện, và Đại- vương ngự trên ngai vàng.

    Khi ấy, bần đạo sẽ tâu hỏi lại câu hỏi dakarakkhasa- pañhā này, rồi kính xin Đại-vương giải đáp lại như vậy, trước tất cả mọi tầng lớp người tham dự, để cho mọi người biết đến tài đức vẹn toàn của Thừa-tướng Maho- sadhapaṇḍita được rõ ràng như vầng trăng sáng trên hư không trong đêm rằm.

    Xét Về Đức (Guṇa) Với Lỗi (Dosa)

    Lý do Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban cho Dạ-xoa ăn thịt mỗi người trong chiếc thuyền theo tuần tự từ người thứ nhất đến người thứ sáu như sau.

    1- Người thứ nhất là Thái hậu Calākadevī

    Vị nữ tu-sĩ Bherī biết câu chuyện bà Calākadevī là Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Mahācūḷanī. Bà ngoại tình với vị Bà-la-môn Chabbhi, vị quan lớn trong triều đình của Đức-vua Mahācūḷanī, bà lập mưu kế đầu độc Đức-vua Mahācūḷanī bị băng hà, rồi đưa vị Bà-la- môn Chabbhi lên ngôi vua, và bà vẫn là Chánh-cung Hoàng-hậu Calākadevī của vị Bà-la-môn Chabbhi. Khi ấy, Thái-tử Cūḷanī đang còn thơ ấu.

    Một hôm, vị Bà-la-môn Chabbhi nhìn thấy Thái-tử Cūḷanī nên nghĩ rằng: “Khi Thái-tử Cūḷanī trưởng thành, nó sẽ giết ta để trả thù, rồi lấy lại ngôi vua cha. Vậy, ta nên giết Thái-tử Cūḷanī ngay khi còn thơ ấu.”

    Nghĩ xong, vị Bà-la-môn Chabbhi bàn với Chánh-cung Hoàng-hậu Calākadevī về chuyện giết Thái-tử Cūḷanī. Chánh-cung Hoàng-hậu Calākadevī vì thương yêu Thái- tử Cūḷanī nên tâu dối rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, vì yêu Bệ-hạ nên thần thiếp đã đầu độc Đức-vua Mahācūḷanī. Nay, sá gì Thái-tử Cūḷanī, cũng nên giết nó cho xong. Thần thiếp có kế giết Thái-tử chết mà không ai biết.

    Vị Bà-la-môn Chabbhi tin theo lời tâu của Chánh- cung Hoàng-hậu Calākadevī. Bà gọi người đầu bếp của vị Bà-la-môn Chabbhi vào truyền bảo rằng:

    - Này người đầu bếp! Thái-tử Cūḷanī với con trai Dhanusekha của ngươi cùng sinh một đêm, là bạn hữu thân thiết với nhau. Nay, vị Bà-la-môn Chabbhi muốn giết Thái-tử để tránh hậu họa về sau.

    Vì vậy, ta gửi Thái-tử Cūḷanī ngủ chung với Dhanusekha trong phòng của ngươi. Ngươi đem ba bộ xương dê bỏ vào trong phòng ngủ của ngươi.

    Đến đêm khuya, mọi người đều ngủ say, ngươi dẫn Thái-tử Cūḷanī và Dhanusekha ra khỏi phòng, rồi dùng lửa đốt phòng ấy. Ngươi hãy dẫn Thái-tử Cūḷanī và con trai Dhanusekha của ngươi trốn ra cửa nhỏ, đi sang nước khác để sinh sống. Ta ban cho ngươi nhiều thứ của cải quý giá, nhờ ngươi trông nom, săn sóc nuôi dưỡng Thái-tử Cūḷanī và con trai Dhanusekha của ngươi trong đất nước khác.

    Ngươi nói Thái-tử Cūḷanī là con của ngươi, không nên tiết lộ tông tích của Thái-tử Cūḷanī.

    Tuân theo lệnh truyền của Chánh-cung Hoàng-hậu Calākadevī, người đầu bếp đem ba bộ xương dê vào để trong phòng ngủ của mình. Thi hành theo kế của Chánh- cung Hoàng-hậu Calākadevī, đêm khuya, mọi người đều ngủ say, châm lửa đốt cháy phòng ngủ, rồi người đầu bếp dẫn Thái-tử Cūḷanī và con trai Dhanusekha trốn ra khỏi kinh-thành Uttarapañcāla, đi đến kinh-thành Sāgala, đất nước Maddaraṭṭha.

    Sau đó, Chánh-cung Hoàng-hậu Calākadevī tâu dối Bà-la-môn Chabbhi rằng:

    - Tâu Đức phu quân, phòng ngủ của người đầu bếp đã bị cháy rụi. Trong phòng có ba người: Người đầu bếp, con trai của ông và Thái-tử Cūḷanī đều bị chết thiêu. Đây là bộ xương của Thái-tử Cūḷanī. Như vậy, mưu đồ của Đức phu quân đã được thành tựu như ý.

    Người đầu bếp sau đó xin vào làm bếp, được Đức-vua Madda chấp thuận. Hằng ngày, Thái-tử Cūḷanī và cậu Dhanusekha thường vào cung điện chơi với Công-chúa Nandā của Đức-vua Madda. Công-chúa Nandā đem lòng thương yêu Thái-tử Cūḷanī.

    Một hôm, Đức-vua Madda truyền gọi người đầu bếp vào hỏi rằng:

    - Này người đầu bếp! Hai đứa trẻ ấy là con của ai vậy?

    - Tâu Bệ-hạ, hai đứa trẻ ấy là con của tiện dân.

    - Này người đầu bếp! Vì sao 2 đứa trẻ không giống nhau?

    - Tâu Bệ-hạ, bởi vì hai đứa trẻ ấy khác mẹ.

    Theo dõi và để ý thấy tư cách của Thái-tử Cūḷanī, Đức-vua Madda biết chắc đứa trẻ Cūḷanī không phải là con trai của người đầu bếp, nên truyền bảo rằng:

    - Này người đầu bếp! Người hãy nói sự thật, Trẫm biết chắc rằng đứa trẻ Cūḷanī không phải con trai của ngươi. Nó là con của ai?

    Nếu ngươi không tâu thật thì Trẫm sẽ truyền lệnh chém đầu ngươi.

    Nghe Đức-vua Madda truyền bảo như vậy, người đầu bếp sợ chết nên tâu rằng:

    - Tâu Bệ-hạ, nếu như vậy thì tiện dân xin tâu chuyện này chỗ vắng vẻ.

    Đức-vua Madda cho cơ hội, người đầu bếp tâu rõ mọi sự thật về cuộc đời Thái-tử Cūḷanī. Đức-vua Madda chấp thuận cho Công-chúa Nandā kết hôn với Thái-tử Cūḷanī.

    Nữ tu-sĩ Bherī, căn cứ vào chuyện này mà tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Mẫu-hậu Calākadevī của Đại-vương là người mẹ có ân đức lớn nhất đối với Đại-vương, Bà không chỉ có công ơn sinh thành dưỡng dục Đại-vương trưởng thành, mà còn cứu sống Đại-vương bằng kế đánh lừa vị Bà-la-môn Chabbhī. Bà đem xương dê nói rằng bộ xương của Thái-tử Cūḷanī.

    Như vậy, Mẫu-hậu Calākadevī của Đại-vương đã có công ơn sinh thành dưỡng dục và bảo vệ sinh-mạng của Đại-vương. Vậy, lý do nào mà Đại-vương ban Mẫu-hậu Calākadevī cho Dạ-xoa ăn thịt người đầu tiên?

    Nghe nữ tu-sĩ Bherī trình bày như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta thưa rằng:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, thật vậy, Mẫu-hậu Calākadevī rất thương yêu Quả-nhân, có ân đức lớn nhất đối với Quả-nhân. Quả-nhân biết công ơn sinh thành dưỡng dục của Mẫu-hậu Calākadevī, Bà luôn luôn bảo vệ Quả-nhân.

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, Mẫu-hậu Calākadevī có những lỗi như sau:

    * Mẫu-hậu Calākadevī đã già rồi mà thích trang điểm lộng lẫy bằng những đồ nữ trang quý giá, thích tiếp xúc chuyện trò với các cô gái trẻ. Đó là điều không nên.

    * Mẫu-hậu Calākadevī thích chuyện trò cười cợt với những người gác cửa thành, người luyện tập voi, ngựa, cho đến quá giờ đóng cửa thành. Đó là điều không nên.

    * Mẫu-hậu tự viết chiếu chỉ với lời lẽ của Quả-nhân truyền rằng:

    “Mẫu-hậu Calākadevī của Trẫm đang độ tuổi hồi xuân. Vậy, khanh đến hầu hạ Mẫu-hậu của Trẫm.” Rồi trao lính hầu đem đến vị quan trấn nhậm tỉnh thành ấy.

    Vị quan ấy đến chầu Trẫm, rồi đọc giữa triều đình làm cho Quả-nhân vô cùng xấu hổ.

    - Thưa nữ tu-sĩ, đó là lý do mà Quả-nhân ban Mẫu- hậu Calākadevī cho Dạ-xoa ăn thịt người đầu tiên.

    2- Người thứ nhì là Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo những lỗi của Hoàng Thái-hậu Calākadevī như vậy, nữ tu-sĩ Bherī tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương ban Hoàng Thái-hậu Calākadevī cho Dạ-xoa ăn thịt người đầu tiên, bởi do những lỗi ấy cũng nên, nhưng Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī là người có ân-đức đối với Đại-vương từ khi còn nhỏ cho đến nay.

    - Tâu Đại-vương, bà Nandādevī là Chánh-cung Hoàng- hậu cao quý hơn các hoàng-hậu và các cung phi mỹ nữ khác trong triều đình. Chánh-cung Hoàng-hậu Nandā- devī xinh đẹp tuyệt trần, có giọng nói thanh tao rất hay, là người biết chiều chuộng Đại-vương, bà thường ngự chung với Đại-vương như hình với bóng. Bà rất mực thương yêu Đại-vương.

    Khi Đại-vương là cậu bé Cūḷanī đi theo người đầu bếp trốn sang kinh-thành Sāgala đất nước Maddaraṭṭha, được ở trong cung điện của Đức-vua Madda. Cậu Cūḷanī chưa lộ rõ tông tích, thường chơi với Công-chúa Nandā của Đức-vua Madda. Công-chúa Nandā đem lòng thương yêu cậu Cūḷanī.

    Một hôm nọ, cậu Cūḷanī nổi giận đánh Công-chúa Nandā, Công-chúa chỉ âm thầm khóc mà thôi, không dám cho Đức Phụ-vương biết, vì sợ Đức Phụ-vương sẽ hành phạt cậu Cūḷanī.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī là người rất thông minh, không hay giận hờn, đặc biệt biết chiều chuộng Đại-vương. Vậy, lý do nào mà Đại-vương ban Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ nhì.

    Nghe nữ tu-sĩ Bherī trình bày như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo lỗi của Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī như sau:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī biết Quả-nhân đang say đắm nơi bà. Khi ấy, Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī xin Quả-nhân ban cho bà những món đồ trang sức quý giá mà Quả-nhân đã ban cho các bà hoàng-hậu, các hoàng-tử, các công- chúa của Quả-nhân rồi. Đáng lẽ, bà không nên xin nơi Quả-nhân những món trang sức ấy, nhưng vì Quả-nhân đang say đắm nơi bà, nên Quả-nhân đã hứa sẽ ban cho bà những món trang sức ấy.

    Bà truyền bảo các bà hoàng-hậu, các hoàng-tử, các công-chúa rằng: “Những món đồ trang sức ấy, Hoàng- thượng đã ban cho ta rồi. Vậy, các ngươi hãy mang lại dâng cho ta.”

    Các hoàng-hậu, các hoàng-tử, các công-chúa phải đem những món đồ trang sức ấy đến dâng cho bà, rồi họ khóc vì tiếc món đồ trang sức của họ từ trước.

    Thấy các hoàng-hậu, các hoàng-tử, các công-chúa của Quả-nhân khóc vì tiếc như vậy, Quả-nhân cảm thấy khổ tâm.

    Đó là lý do mà Quả-nhân ban Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ nhì.

    3. Hoàng-đệ Tikhiṇamanti của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo những lỗi của bà Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī như vậy, nữ tu-sĩ Bherī tâu rằng:

    -Tâu Đại-vương, Đại-vương ban Chánh-cung Hoàng- hậu Nandādevī, cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ nhì, bởi do những lỗi ấy cũng nên, nhưng Hoàng đệ Tikhiṇamanti của Đại-vương là người có công lớn đối với Đại-vương và triều đình của Đại-vương.

    - Tâu Đại-vương, Hoàng đệ Tikhiṇamanti là người ngự đi thỉnh Đại-vương từ kinh-thành Sāgala, đất nước nhỏ Maddaraṭṭha, ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla, làm lễ đăng quang nối ngôi vua cha.

    Hoàng đệ Tikhiṇamanti có công lớn giúp Đại-vương làm phát triển đất nước, làm cho 101 Đức-vua trong toàn cõi Nam-thiện bộ-châu phải thần phục Đại-vương, làm cho đất nước Kapilaraṭṭha phồn vinh và hùng mạnh, đặc biệt Hoàng đệ Tikhiṇamanti là người có mưu trí bậc nhất.

    Khi bà Calākadevī sinh hạ hoàng tử Tikhiṇamanti trong lúc là Chánh-cung Hoàng-hậu của vị Bà-la-môn Chabbhī, nên ông tưởng rằng Tikhiṇa-manti là con của mình và hoàng-tử Tikhiṇamanti cũng tưởng rằng vị Bà- la-môn Chabbhī là phụ thân của mình. Cho nên, vị Bà- la-môn Chabbhī ban cho hoàng-tử một thanh gươm báu đặc biệt.

    Về sau, một vị quan trung thành với cố Đại-vương Mahācūḷanī tâu với hoàng-tử Tikhiṇamanti rằng:

    - Tâu hoàng-tử Tikhiṇamanti, hoàng-tử không phải là con của vị Bà-la-môn Chabbhī, bởi vì khi hoàng-tử còn là thai nhi trong bụng Chánh-cung Hoàng-hậu Calākadevī của Đức-vua Mahācūḷanī., khi ấy, Chánh-cung Hoàng- hậu Calākadevī ngoại tình với vị Bà-la-môn Chabbhī, quan lớn trong triều, khiến dùng thuốc độc giết Đại- vương Mahācūḷanī, rồi vị Bà-la-môn chiếm ngôi vua.

    Như vậy, căn cứ theo thời gian, hoàng-tử là con của cố Đại-vương Mahācūḷanī, không phải là hoàng-tử của vị Bà-la-môn.

    Nghe vị quan trung tín tâu như vậy, hoàng-tử Tikhiṇamanti nổi cơn thịnh nộ nghĩ rằng:

    “Ta sẽ giết vị Bà-la-môn Chabbhī này bằng mưu kế.”

    Một hôm, vào chầu vị Bà-la-môn Chabbhī, hoàng-tử Tikhiṇamanti trao thanh gươm báu cho vị quan giữ cửa cung điện lâu đài của vị Bà-la-môn Chabbhī, rồi đến gặp vị quan lớn thân tín trong cung điện, truyền bảo rằng:

    - Này vị quan lớn! Ngươi hãy đến gặp vị quan giữ cửa cung điện lâu đài của vị Bà-la-môn Chabbhī nói với vị quan ấy rằng:

    “Thanh gươm báu này là của tôi.”

    Hai ngươi tranh chấp lớn tiếng với nhau, rồi chờ ta gọi vào.

    Sau khi truyền bảo xong, hoàng-tử Tikhiṇamanti vào chầu vị Bà-la-môn Chabbhī. Nghe hai vị quan lớn tiếng với nhau ở bên ngoài cửa cung điện lâu đài, hoàng-tử Tikhiṇamanti truyền bảo người lính ra xem có chuyện gì mà họ lớn tiếng với nhau.

    Tuân lệnh hoàng-tử, người lính đi ra ngoài cửa cung điện lâu đài, nghe biết chuyện rồi vào thưa rằng:

    - Tâu hoàng-tử, hai vị quan ấy tranh chấp với nhau về thanh gươm báu. Vị quan lớn bảo rằng:

    “Thanh gươm báu này là của tôi.”

    Vị quan giữ cửa bảo rằng:

    “Thanh gươm báu này là của hoàng-tử Tikhiṇamanti giao tôi giữ.”

    Nghe người lính tâu như vậy, hoàng-tử Tikhiṇamanti tâu với vị Bà-la-môn Chabbhī rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, thanh gươm báu mà Đức Phụ- vương ban cho con, con giao cho vị quan giữ cửa lâu đài giữ. Nay, vị quan lớn bảo rằng: “Thanh gươm báu ấy là của ông ta.” Như vậy, sự thật như thế nào?

    Vị Bà-la-môn Chabbhī truyền bảo rằng:

    - Nếu như vậy thì hãy cho truyền gọi hai vị quan ấy đem thanh gươm báu vào, ta nhớ rõ thanh gươm báu ấy, ta sẽ phán xét.

    Khi hai vị quan đem thanh gươm báu vào, hoàng-tử Tikhiṇamanti cầm thanh gươm báu, tuốt gươm ra khỏi vỏ, trình cho vị Bà-la-môn Chabbhī, tâu rằng:

    - Tâu Đức Phụ-vương, xin Đức Phụ-vương xem kỹ thanh gươm báu này.

    Khi vị Bà-la-môn đến gần xem kỹ thanh gươm báu ấy, không thận trọng, ngay tức khắc, hoàng-tử Tikhiṇamanti đưa thanh gươm báu cắt cổ ông ta, cái đầu rơi xuống dưới chân của mình, rồi hoàng-tử Tikhiṇamanti truyền lệnh đem thi thể ra ngoài cung điện.

    Vị Bà-la-môn Chabbhī bị hoàng-tử Tikhiṇamanti giết chết, các quan trong triều đều vui mừng, bởi vì ông là vị quan phản phúc với cố Đại-vương Mahācūḷanī.

    Hoàng-tử Tikhiṇamanti truyền lệnh trang hoàng cung điện lộng lẫy và kinh-thành Uttarapañcāla cho đẹp đẽ, để tổ chức lễ đăng quang hoàng-tử Tikhiṇamanti lên nối ngôi Đức Phụ-vương Mahācūḷanī của mình.

    Khi ấy, bà Calākadevī, Mẫu-hậu của hoàng-tử Tikhiṇa- manti truyền bảo rằng:

    - Này hoàng-nhi Tikhiṇamanti yêu quý! Sự thật, con chính là hoàng-tử của Đại-vương Mahācūḷanī, không phải con của vị Bà-la-môn Chabbhī. Con còn vị Hoàng- huynh là Thái-tử Cūḷanī hiện đang còn sống ở tại kinh- thành Sāgala, đất nước Maddaraṭṭha.

    Nghe Mẫu-hậu Calākadevī truyền bảo như vậy, hoàng-tử Tikhiṇamanti dẫn đầu bốn đội quân hùng hậu ngự đến kinh-thành Sāgala, đất nước nhỏ Maddaraṭṭha, thỉnh Hoàng-huynh Cūḷanī và Công-chúa Nandā trở về kinh-thành Uttarapañcāla, làm lễ đăng quang Thái-tử Cūḷanī lên nối ngôi vua cha, trị vì đất nước Kapilaraṭṭha to lớn cho đến nay.

    Như vậy, hoàng-đệ Tikhiṇamanti là người có lòng tôn kính hỗ trợ đắc lực cho Đại-vương.

    Vậy, lý do nào mà Đại-vương ban hoàng-đệ Tikhiṇa- manti cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ ba?

    Nghe nữ tu-sĩ Bherī trình bày như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền thưa rằng:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, thật vậy, hoàng đệ Tikhiṇamanti ngự đến kinh-thành Sāgala đất nước nhỏ Maddaraṭṭha, thỉnh Quả-nhân trở về kinh-thành Uttarapañcāla lên nối ngôi vua cha, trị vì đất nước lớn Kapilaraṭṭha này.

    Hoàng-đệ Tikhiṇamanti có công lớn làm cho các vùng trong nước phát triển, chinh phục được 101 Đức-vua trong cõi Nam-thiện-bộ-châu đều thần phục Quả-nhân, làm cho đất nước Kapilaraṭṭha giàu mạnh hùng cường, đặc biệt hoàng-đệ Tikhiṇamanti là người có tài thiện xạ, có mưu trí sâu sắc, ... nhưng hoàng-đệ thường huênh hoang với mọi người rằng:

    “Hoàng huynh Cūḷanī Brahmadatta của tôi đang ngự ở kinh-thành Sāgala đất nước nhỏ bé Maddaraṭṭha, tôi đi đến thỉnh Hoàng-huynh của tôi ngự trở về kinh-thành Uttarapañcāla đất nước to lớn Kapilaraṭṭha, làm lễ đăng quang Hoàng-huynh Cūḷanī Brahmadatta lên nối ngôi vua cha, có uy quyền lớn và an hưởng mọi sự an- lạc như vậy.”

    Ngày trước, hoàng-đệ Tikhiṇamanti ngự đến chầu mỗi buổi sáng. Nhưng nay, hoàng-đệ Tikhiṇamanti có khi đến chầu, có khi không, không giữ phép luật của triều đình.

    Đó là lý do mà Quả-nhân ban hoàng đệ Tikhiṇamanti cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ ba.

    4. Bạn hữu Dhanusekha của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo về hoàng- đệ Tikhiṇamanti như vậy, vị nữ tu-sĩ Bherī tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương ban cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ ba là hoàng-đệ Tikhiṇamanti, bởi do những lỗi ấy cũng nên, nhưng bạn-hữu Dhanusekha là người bạn thân thiết tín cẩn của Đại-vương.

    Bạn-hữu Dhanusekha cùng sinh trong một đêm với Đại-vương trong kinh-thành Uttarapañcāla này, là người bạn-hữu thân thiết từ thuở nhỏ cùng khổ cùng vui với Đại-vương cho đến nay, luôn luôn đi theo Đại-vương như hình với bóng, là người bạn hữu có sự tinh-tấn không ngừng ngày đêm trong công việc mà Đại-vương giao phó, có một lòng trung thành tuyệt đối với Đại- vương. Đặc biệt, bạn-hữu Dhanusekha có tài bắn cung đệ nhất, không ai sánh được.

    Vậy, lý do nào mà Đại-vương ban bạn-hữu Dhanu- sekha cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ tư?

    Nghe nữ tu-sĩ Bherī trình bày như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền thưa rằng:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, thật vậy, bạn-hữu Dhanusekha là người bạn thân thiết từ thuở nhỏ cùng khổ cùng vui với Quả-nhân. Ngày xưa, bạn-hữu Dhanusekha hay vỗ tay cười lớn như thế nào, đến nay cũng vẫn giữ tính hay vỗ tay cười lớn như thế ấy.

    Nay, Quả-nhân là Đức-vua mà bạn-hữu Dhanusekha hành động, nói năng như ngang hàng với Quả-nhân, không biết tôn kính như Đức-vua.

    Quả-nhân có ban cho bạn-hữu Dhanusekha một ân huệ là được phép đến chầu Quả-nhân bất cứ lúc nào, nhưng khi Quả-nhân đang chuyện trò thân mật với Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī nơi kín đáo, bạn- hữu Dhanusekha đi vào không xin phép trước, không biết tôn trọng Quả-nhân.

    Đó là lý do mà Quả-nhân ban bạn-hữu Dhanusekha cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ tư.

    5. Quân-sư Kevaṭṭa của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền bảo những lỗi của bạn-hữu Dhanusekha như vậy, nữ tu-sĩ Bherī tâu:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương ban bạn-hữu Dhanu- sekha cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ tư, bởi do những lỗi ấy cũng nên. Nhưng quân-sư Kevaṭṭa là một vị thầy giỏi về các bộ môn của Bà-la-môn, hiến nhiều kế sách, có tài điều binh khiển tướng giúp Đại-vương chiến thắng dễ dàng 101 kinh-thành, bắt 101 Đức-vua trong cõi Nam- thiện-bộ-châu này đều thần phục Đại-vương, thu phục 101 nước trong cõi Nam-thiện-bộ-châu trở thành các nước chư hầu của Đại-vương. Cho nên, Đại-vương có uy quyền lớn trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Vậy, lý do nào mà Đại-vương ban vị quân-sư Kevaṭṭa cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ năm?

    Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền thưa rằng:

    - Thưa vị nữ tu-sĩ Bherī, trong các buổi hội triều, Quả-nhân ngự trên ngai vàng chủ trì, phía dưới có các quan văn võ, các khanh tướng sĩ mà vị quân-sư Kevaṭṭa trợn mắt nhìn Quả-nhân như giận giữ Quả-nhân.

    Đó là lý do mà Quả-nhân ban vị quân-sư Kevaṭṭa cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ năm.

    6- Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta

    Tiếp theo nữ tu-sĩ Bherī tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương truyền bảo rằng: “Quả- nhân ban mỗi người cho Dạ-xoa ăn thịt theo tuần tự từ người thứ nhất là Mẫu-hậu Calākadevī cho tới người thứ năm là vị quân-sư Kevaṭṭa, đến người thứ sáu cuối cùng chính là Quả-nhân.

    Quả-nhân chịu hy sinh sinh-mạng của mình cho Dạ- xoa ăn thịt người thứ sáu, chứ không chịu hy sinh quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cho Dạ-xoa ăn thịt. Quả- nhân chịu băng hà, để cho quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita sống.”

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương là một Đại-Hoàng-đế cao cả nhất trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này, có 101 Đức-vua của 101 nước nhỏ đều chịu thần phục Đại- vương làm các nước chư hầu. Đại-vương là Đại-Hoàng- đế có nhiều uy quyền nhất, thống lĩnh các đội binh hùng mạnh gồm 18 akkhobhinī quân, Đại-vương làm bá chủ trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này. Đại-vương có 16.000 cung phi mỹ nữ xinh đẹp như thiên-nữ đêm ngày hầu hạ, Đại-vương đang hưởng mọi sự an-lạc cao quý trong đời.

    - Tâu Đại-vương, sinh-mạng là nơi yêu quý nhất của mỗi chúng-sinh, Đại-vương là người cao quý nhất trong thần dân thiên hạ trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này. Sinh-mạng của Đại-vương thật là cao quý biết dường nào!

    Vậy, lý do nào mà Đại-vương dám hy sinh sinh-mạng của mình chịu cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ sáu, để bảo vệ sinh-mạng của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita?

    - Tâu Đại-vương, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita là con người như thế nào mà Đại-vương dám hy sinh sinh-mạng của mình, để bảo vệ sinh-mạng của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita vậy?

    Nghe vị nữ tu-sĩ Bherī tâu hỏi như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền thưa rằng:

    - Thưa nữ tu-sĩ Bherī, quan Thừa-tướng Mahosadha- paṇḍita từ nước khác đến giúp Quả-nhân trị vì đất nước Kapilaraṭṭha cho được phát triển mạnh, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài cho thần dân thiên hạ.

    Thật sự Quả-nhân chưa thấy, chưa phát hiện một điều lỗi nào dù chỉ là cái lỗi nhỏ của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cả.

    Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-thiện- trí có trí-tuệ siêu-việt. Cho nên, Quả-nhân dù phải hy sinh sinh-mạng của mình, để bảo vệ sinh-mạng của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita vẫn xứng đáng lắm. Bởi vì quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita còn sống có khả năng đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc lâu dài cho toàn thể hoàng tộc của Quả-nhân, trong triều đình của Quả-nhân, trong toàn cõi đất nước của Quả-nhân, trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Vì vậy, Quả-nhân không thể ban quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ sáu, mà chính Quả-nhân sẽ hy sinh sinh-mạng của mình cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ sáu vậy.

    Nghe Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tán dương ca tụng tài đức cao thượng, trí-tuệ siêu-việt của quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita ví như vầng trăng rằm sáng tỏ trên hư không trong trẻo.

    Muốn cho mọi người phát sinh đức-tin trong sạch nơi quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, nên nữ tu-sĩ Bherī khuyên những người đến tụ hội tại sân trước cung điện gồm đủ các giai cấp từ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, các Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī, các hoàng-hậu, các hoàng-tử, các công-chúa, những người trong hoàng tộc của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, 101 Đức-vua chư hầu trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu, các quan trong triều, các đoàn quân, tòan thể dân chúng trong kinh-thành Uttarapañcāla rằng:

    - Thưa tất cả quý vị, quý vị đã nghe Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta tán dương ca tụng quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-thiện-trí, có trí-tuệ siêu- việt, có khả năng đem lại cho mình và cho tất cả mọi chúng-sinh, nhất là nhân loại và chư thiên, sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài cả trong kiếp hiện-tại lẫn nhiều kiếp trong vị lai.

    Vì vậy, Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta dám hy sinh các sinh-mạng những người thân yêu của mình ban cho Dạ-xoa ăn thịt theo tuần tự từ người thứ nhất cho đến người thứ năm, rồi cuối cùng Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta hy sinh sinh-mạng của mình cho Dạ-xoa ăn thịt người thứ sáu, để bảo vệ sinh-mạng của quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita còn sống trên chiếc thuyền giữa biển.

    - Thưa tất cả quý vị, trí-tuệ là pháp cao thượng, bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ nên được mọi người, chư thiên, phạm thiên tôn kính lễ bái cúng dường.

    Như vậy, quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-thiện-trí có trí-tuệ siêu-việt, có tài đức vẹn toàn, rất xứng đáng cho mọi người chúng ta tôn kính đảnh lễ cúng dường quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita một cách cung kính.

    Nghe lời khuyên dạy của nữ tu-sĩ Bherī, mọi người đều vô cùng hoan hỷ cung kính đảnh lễ quan Thừa- tướng Mahosadhapaṇḍita với tấm lòng tôn kính.

    Tích Mahosadhajātaka, hoặc tích Umaṅgajātaka, trong tích này, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama của chúng ta, đang tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ và các pháp-hạnh ba-la-mật khác, để bồi bổ và tích lũy cho được đầy đủ 30 pháp- hạnh ba-la-mật, để trở thành Đức-Phật Chánh Đẳng Giác, có danh hiệu là Đức-Phật Gotama trong thời vị-lai.

    Như vậy, công-tử Mahosadhapaṇḍita vẫn còn là Đức- Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác có trí-tuệ siêu-việt thấy rõ, biết rõ những gì mà những người khác không thể thấy được, không thể biết được. Đó là do nhờ trí-tuệ siêu-việt mà Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đã tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ.

    Trí-tuệ siêu-việt của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita ấy có khả năng khống chế, đè bẹp những tà-kiến của người khác, dẹp bỏ những ý đồ đen tối của người khác, có khả năng phá tan các mưu kế thâm độc của các kẻ thù một cách dễ dàng, để thực hiện những điều mong ước trở thành hiện thực.

    Đức-Phật dạy rằng:

    - Này Chư tỳ-khưu, không chỉ kiếp hiện-tại Như-Lai là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có trí-tuệ siêu-việt khống chế, đè bẹp mọi tà thuyết của người khác một cách dễ dàng như vậy, mà trong các tiền-kiếp của Như-Lai khi còn là Đức-Bồ-tát cũng có trí-tuệ siêu-việt khống chế, đè bẹp những tà-kiến, dẹp bỏ những ý đồ đen tối của người khác, còn phá tan các mưu kế thâm độc của các kẻ thù, đặc biệt nhờ trí-tuệ siêu-việt nên biến kẻ thù trở thành người thân yêu của mình nữa. (Như trong tích Mahosadhajātaka).

    Sau khi lắng nghe Đức-Phật thuyết về tích Maho-sadhajātaka hoặc tích Umaṅgajātaka xong, chư tỳ-khưu phát sinh đại-thiện-tâm vô cùng hoan hỷ trong lời giáo huấn của Đức-Phật, nên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế,

    - Có số chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Nhập-lưu.

    - Có số chứng đắc đến Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Nhất-lai.

    - Có số chứng đắc đến Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Bất-lai.

    - Có số chứng đắc đến A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán cao-thượng.

    Còn có số chưa trở thành bậc Thánh-nhân nào vẫn còn là hạng phàm nhân vô cùng hoan hỷ có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức- Tăng-bảo, cố gắng tinh tấn tiếp tục thực-hành các pháp- hạnh ba-la-mật, nhất là pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật, để mong chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh- đạo, Thánh-quả và Niết-bàn trở thành bậc Thánh-nhân trong thời vị lai.

    Tích Mahosadhajātaka Liên Quan Đến Kiếp Hiện-Tại

    Trong tích Mahosadhajātaka hoặc tích Umaṅga- jātaka này, khi Đức-Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian, còn các hậu-kiếp của những nhân vật trong tích Mahosadhajātaka hoặc tích Umaṅgajātaka ấy liên quan đến kiếp hiện-tại như sau:

    - Ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, nay kiếp hiện-tại là Đức- vua Suddhodana.

    - Bà Sumanādevī, nay kiếp hiện-tại là Chánh-cung Hoàng-hậu Mahāmayādevī.

    - Đức-vua Vedeha, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng- lão Kāḷudāyaka.

    - Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī, nay kiếp hiện-tại là bà Maṅgalikā.

    - Vị quân-sư Senaka, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa.

    - Vị quân-sư Pukkusa, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng- lão Poṭṭhapāda.

    - Vị quân-sư Kāminda, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ambaṭṭha.

    - Vị quân-sư Devinda, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Pilotika.

    - Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta.

    - Vị quân-sư Kevaṭṭa, nay kiếp hiện-tại là tỳ-khưu Devadatta.

    - Bà Mẫu-hậu Calākādevī của Đức-vua Cūḷanī, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Thullanandinī.

    - Công-chúa Pañcālacandī, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Sundarī.

    - Con chim vẹt Suvapaṇḍita, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ānanda.

    - Con chim sáo Sāḷikā, nay kiếp hiện-tại là Bà Mallikādevī.

    - Nữ tu-sĩ Bherī, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā.

    - Bà Amarā, phu-nhân của Đức-Bồ-tát Mahosadha-paṇḍita, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Bimbāsundarī (Yasodharā).

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phật Gotama.

    Theo bộ Chú-giải Jātakaṭṭhakathā bản dịch chữ Thái những nhân vật trong tích Mahosadhajātaka liên quan đến kiếp hiện-tại như sau:

    - Ông phú hộ Sirivaḍḍhaka, nay kiếp hiện-tại là Đức- vua Suddhodana.

    - Bà Sumanādevī, nay kiếp hiện-tại là Chánh-cung Hoàng-hậu Mahāmayādevī.

    - Đức-vua Vedeha, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng- lão Kāḷudāyī.

    - Chánh-cung Hoàng-hậu Udumbaradevī, nay kiếp hiện-tại là Đại-đức tỳ-khưu-ni Gotamī.

    - Vị quân-sư Senaka, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại- Trưởng-lão Mahākassapa.

    - Vị quân-sư Pukkusa, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Poṭṭhapāda.

    - Vị quân-sư Kāminda, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ambaṭṭha.

    - Vị quân-sư Devinda, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Soṇadaṇḍaka.

    - Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta.

    - Vi Bà-la-môn Anukevaṭṭa, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna.

    - Hoàng đệ Tikhiṇamanti, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Nanda.

    - Bạn hữu Dhanusekha, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Rāhula.

    - Bà Mẫu-hậu Calākādevī của Đức-vua Cūḷanī, nay kiếp hiện-tại là Đại-đức tỳ-khưu-ni Thullanandikā.

    - Thái-tử Pañcālacanda, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Anuruddha.

    - Công-chúa Pañcālacandī, nay kiếp hiện-tại là Đại-đức tỳ-khưu-ni Sundarī.

    - Con chim vẹt Suvapaṇḍita, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ānanda.

    - Con chim sáo Sāḷikā, nay kiếp hiện-tại là Bà Mallikādevī.

    - Nữ tu-sĩ Bherī, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ- khưu-ni Uppalavaṇṇā.

    - Vị quân-sư Kevaṭṭa, nay kiếp hiện-tại là tỳ-khưu Devadatta.

    - Bà Amarā, phu-nhân của Đức-Bồ-tát Mahosadha- paṇḍita, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Bimbāsundarī (Yasodharā).

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phật Gotama.

    Mười Pháp-Hạnh Ba-La-Mật

    Tóm lược tích Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama đã tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba- la-mật bậc hạ, ngoài ra, có tám pháp-hạnh ba-la-mật phụ khác cũng đồng thời thành tựu như sau:

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tạo mọi phước thiện bố-thí, đó là pháp-hạnh bố-thí ba-la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita giữ gìn giới, đó là pháp-hạnh giữ-giới ba-la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có sự tinh-tấn không ngừng, đó là pháp-hạnh tinh-tấn ba-la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có đức-nhẫn nại, đó là pháp-hạnh nhẫn-nại ba-la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nói lời chân-thật, đó là pháp-hạnh chân-thật ba-la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita phát-nguyện bằng lời chân thật, đó là pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có tâm-từ đối với mọi người, mọi chúng-sinh, đó là pháp-hạnh tâm-từ ba- la-mật.

    - Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita có tâm-xả đối với mọi chúng-sinh, đó là pháp-hạnh tâm-xả ba-la-mật.

    Đó là 8 pháp-hạnh ba-la-mật phụ đồng thời thành tựu cùng với pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ này.

    Nhận Xét Về Đức-Bồ-Tát Mahosadhapaṇḍita

    Tích Mahosadhajātaka hoặc tích Umaṅgajātaka này, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita là tiền-kiếp của Đức- Phật Gotama, sinh làm công-tử của gia đình phú hộ Sirivaḍḍhaka, tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ (paññāpāramī).

    Từ khi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita mới lên bảy tuổi có trí-tuệ siêu-việt hơn hẳn tất cả mọi người trong đời, không có một ai sánh được.

    Pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ là một trong mười pháp-hạnh ba-la-mật bậc hạ, cũng là một trong 30 pháp-hạnh ba-la-mật mà Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác cần phải thực-hành cho được đầy đủ trọn vẹn, để trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác (Sammāsambuddha).

    Trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ đó là trí-tuệ tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm sáng suốt thấy rõ, biết rõ các pháp.

    Để trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác (Sammā- sambuddha), Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác (Sammāsam- bodhisatta) cần phải thực-hành đầy đủ ba bậc pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật: pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ, pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc trung và pháp-hạnh trí- tuệ ba-la-mật bậc thượng.

    Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác dù tạo pháp-hạnh trí- tuệ ba-la-mật bậc nào cũng chỉ đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc cho mình và cho tất cả mọi người, mọi chúng-sinh khác mà thôi.

    Trí-tuệ siêu-việt ấy có được do từ đâu?

    Trí-tuệ siêu-việt ấy có được do hai nguyên nhân:

    - Trí-tuệ siêu-việt do nhờ tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp quá-khứ hỗ trợ.

    - Trí-tuệ siêu-việt do phát sinh trong kiếp hiện-tại.

    Đức-Phật thuyết dạy trong bài kinh Paññāsutta(4) về Trí-tuệ phát sinh trong kiếp hiện-tại, được tóm lược 8 điều chính yếu. Chư tỳ-khưu, chư tỳ-khưu-ni, cận-sự- nam, cận-sự-nữ muốn có được trí-tuệ cần phải hội đủ tám nhân phát sinh trí-tuệ như sau:

    1- Tỳ-khưu đến nương nhờ nơi Đức-Phật hoặc bậc Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, làm bậc Tôn Sư của mình, hết lòng tôn kính, có tâm biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật hoặc nơi bậc Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, lắng nghe chánh-pháp của Đức-Phật. Đó là nhân thứ nhất phát sinh trí-tuệ.

    2- Tỳ-khưu lắng nghe chánh-pháp của Đức-Phật, hoặc bậc Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, thường đến hầu đảnh lễ Đức-Phật hoặc bậc Thánh thanh-văn bạch hỏi những điều chưa hiểu rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, pháp này có ý nghĩa như thế nào? Bạch Ngài.

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, pháp này thực-hành như thế nào? Bạch Ngài, v.v...

    Đức-Phật giảng giải cho hiểu rõ những pháp ấy.

    Đó là nhân thứ nhì phát sinh trí-tuệ.

    3- Khi tỳ-khưu nghe hiểu rõ những pháp ấy làm cho thân tâm thanh-tịnh.

    Đó là nhân thứ ba phát sinh trí-tuệ.

    4- Tỳ-khưu là người có giới, giữ gìn giới tỳ-khưu, thực-hành các pháp hành tỳ-khưu, biết cẩn trọng trong sáu môn (nhãn-môn, nhĩ-môn, tỷ-môn, thiệt-môn, thân-môn, ý-môn) thanh-tịnh, thường thấy tai hoạ lớn trong lỗi nhỏ, giữ gìn giới tỳ-khưu cho được trong sạch thanh-tịnh.

    Đó là nhân thứ tư phát sinh trí-tuệ.

    5- Tỳ-khưu là bậc đa văn túc trí, học nhiều hiểu rộng, ghi nhớ thuộc lòng các Pháp-học Phật-giáo, thấu suốt pháp-hành Phật-giáo, có chánh-kiến thanh-tịnh, thuyết giảng chánh-pháp hay ở phần đầu, phần giữa, phần cuối, ý nghĩa sâu sắc, văn chương lưu loát.

    Đó là nhân thứ năm phát sinh trí-tuệ.

    6- Tỳ-khưu là người có chánh tinh-tấn không ngừng diệt các bất-thiện-pháp, để các thiện-pháp phát sinh, có đức nhẫn-nại, có sự tinh-tấn không ngừng, không từ bỏ phận sự, làm tăng trưởng mọi thiện-pháp.

    Đó là nhân thứ sáu phát sinh trí-tuệ.

    7- Tỳ-khưu đi vào nơi chư tỳ-khưu-Tăng hội, không nói chuyện nhảm, không nói lời vô ích, khi thì tự mình thuyết-pháp, khi thì thỉnh mời Ngài Đại-Trưởng-lão thuyết-pháp, không thì im lặng như bậc Thánh-nhân.

    Đó là nhân thứ bảy phát sinh trí-tuệ.

    8- Tỳ-khưu thực-hành pháp-hành thiền-tuệ phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ sự sinh, sự diệt của ngũ- uẩn chấp thủ rằng:

    - Sắc-uẩn chấp thủ là như vậy, sự sinh của sắc-uẩn chấp thủ là như vậy, sự diệt của sắc-uẩn chấp thủ là như vậy.

    - Thọ-uẩn chấp thủ là như vậy, sự sinh của thọ-uẩn chấp thủ là như vậy, sự diệt của thọ-uẩn chấp thủ là như vậy.

    - Tưởng-uẩn chấp thủ là như vậy, sự sinh của tưởng- uẩn chấp thủ là như vậy, sự diệt của tưởng-uẩn chấp thủ là như vậy.

    - Hành-uẩn chấp thủ là như vậy, sự sinh của hành- uẩn chấp thủ là như vậy, sự diệt của hành-uẩn chấp thủ là như vậy.

    - Thức-uẩn chấp thủ là như vậy, sự sinh của thức-uẩn chấp thủ là như vậy, sự diệt của thức-uẩn chấp thủ là như vậy.

    Đó là nhân thứ tám phát sinh trí-tuệ.

    Trí-Tuệ Có Ba Loại

    - Sutamayapaññā: Trí-tuệ phát sinh do nghe từ các bậc thiện-trí, do học hỏi, nghiên cứu chánh-pháp.

    - Cintāmayapaññā: Trí-tuệ phát sinh do suy xét, tư duy sâu sắc đúng đắn theo chánh-pháp.

    - Bhavanāmayapaññā: Trí-tuệ thiền-tuệ phát sinh do thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới cho đến trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới đó là bốn Thánh-đạo-tuệ và bốn Thánh-quả-tuệ.

    * Trí-tuệ phát sinh do nghe như thế nào?

    Hạng thanh-văn đệ-tử có đức-tin trong sạch nơi bậc đại-thiện-trí, đến gần gũi thân cận với bậc đại-thiện-trí, lắng nghe chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí, ghi nhớ hiểu rõ chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí.

    Đó là gọi là trí-tuệ phát sinh do nghe chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí.

    Chánh pháp là những pháp nào?

    Chánh-pháp đó là 37 pháp Bodhipakkhiyadhamma:

    37 pháp phát sinh bốn Thánh-đạo như sau: * 4 pháp niệm-xứ (Satipaṭṭhāna):

    1- Niệm thân: Thân là đối-tượng của chánh-niệm và trí-tuệ-tỉnh-giác. Thân có 14 đối-tượng thuộc về sắc-pháp.

    2- Niệm thọ: Thọ là đối-tượng của chánh-niệm và trí-tuệ-tỉnh-giác. Thọ có một đối-tượng chia ra chín loại thọ, thuộc về danh-pháp.

    3- Niệm tâm: Tâm là đối-tượng của chánh-niệm và trí-tuệ-tỉnh-giác. Tâm có một đối-tượng chia ra làm 16 loại tâm thuộc về danh-pháp.

    4- Niệm pháp: Pháp là đối-tượng của chánh-niệm và trí-tuệ-tỉnh-giác. Pháp có năm loại thuộc về sắc-pháp, danh-pháp(5).

    * 4 pháp tinh-tấn (Samappadhāna):

    1- Tinh-tấn ngăn các ác-pháp chưa phát sinh, không cho phát sinh.

    2- Tinh-tấn diệt ác-pháp đã phát sinh.
    3- Tinh-tấn làm cho thiện-pháp phát sinh.
    4- Tinh-tấn làm tăng trưởng thiện-pháp đã phát sinh.

    * 4 pháp thành-tựu (Iddhipāda):

    1- Thành tựu do hài lòng. 2- Thành tựu do tinh-tấn. 3- Thành tựu do quyết tâm. 4- Thành tựu do trí-tuệ.

    * 5 pháp-chủ (Indriya):

    1- Tín pháp-chủ. 2- Tấn pháp-chủ. 3- Niệm pháp-chủ. 4- Định pháp-chủ. 5- Tuệ pháp-chủ.

    * 5 pháp-lực (Bala):

    1- Tín pháp-lực. 2- Tấn pháp-lực. 3- Niệm pháp-lực. 4- Định pháp-lực. 5- Tuệ pháp-lực.

    * 7 pháp giác-chi (Bojjhaṅga):

    1- Niệm giác-chi. 3- Tinh-tấn giác-chi. 5- Tịnh giác-chi.
    7- Xả giác-chi.

    2- Phân tích giác-chi. 4- Hỷ giác-chi.

    6- Định giác-chi.

    * 8 pháp chánh-đạo (Magga):

    1- Chánh-kiến. 2- Chánh-tư-duy. 3- Chánh-ngữ. 4- Chánh-nghiệp. 5- Chánh-mạng. 6- Chánh-tinh-tấn. 7- Chánh-niệm. 8- Chánh-định.

    Nếu trường hợp các hàng thanh-văn đệ-tử không có cơ hội trực tiếp lắng nghe bậc đại-thiện-trí, thì nên đọc sách Tam-tạng Pāḷi, Chú-giải Pāḷi, hoặc nghe máy ghi âm lời giảng giải chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí, hoặc nghiên cứu sách của bậc đại-thiện-trí, ghi nhớ hiểu rõ chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí.

    Đó cũng gọi là trí-tuệ phát sinh do nghe chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí.

    * Trí-tuệ phát sinh do suy xét, tư duy như thế nào?

    Sau khi có trí-tuệ phát sinh do nghe chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí làm nền tảng, rồi các hàng thanh-văn đệ-tử nên suy xét kỹ, tư duy sâu sắc, hiểu biết đúng đắn về chánh-pháp của bậc đại-thiện-trí.

    Đó gọi là trí-tuệ phát sinh do suy xét, do tư duy sâu sắc đúng đắn theo chánh-pháp.

    * Trí-tuệ thiền-tuệ phát sinh do thực-hành pháp-hành thiền-tuệ như thế nào?

    Sau khi có trí-tuệ phát sinh do nghe và trí-tuệ phát sinh do hiểu biết đúng đắn, suy xét, tư duy sâu sắc đúng đắn theo chánh-pháp làm nền tảng, làm nơi nương nhờ, rồi các hàng thanh-văn đệ-tử nên thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp, trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ ba trạng-thái chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc- pháp, danh-pháp, trí-tuệ thiền-tuệ phát sinh theo tuần tự từ trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới cho đến trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc bốn Thánh-đạo, bốn Thánh-quả và Niết-bàn.

    Đó gọi là trí-tuệ thiền-tuệ phát sinh do thực-hành pháp-hành thiền-tuệ như sau:

    * Hạng thanh-văn đệ-tử phàm nhân thuộc hạng người tam-nhân có giới-hạnh trong sạch trọn vẹn làm nơi nương nhờ, rồi thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được hai loại phiền-não là tà-kiến (diṭṭhi) và hoài-nghi (vicikicchā), trở thành bậc Thánh Nhập-lưu.

    * Bậc Thánh Nhập-lưu tiếp tục thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được một loại phiền-não là sân (dosa) loại thô, trở thành bậc Thánh Nhất-lai.

    PHÁP-HẠNH TRÍ-TUỆ BA-LA-MẬT BẬC HẠ TÍCH SAMBHAVAJĀTAKA (SAM-BHA-VA CHA-TÁ-KÁ)

    Trong tích Sambhavajātaka(6) Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là cậu bé Sambhavakumāra tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ (paññāpāramī).

    Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthi. Khi ấy, Đức-Phật thuyết về tích Sanbhavajātaka đề cập đến Đức-Bồ-tát Sambhavakumāra tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama tạo pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ. Tích này được bắt nguồn như sau:

    Đức-vua Dhanañcayakorabya có vị bà-la-môn thừa- tướng Sucirata là vị quân-sư của Đức-vua, dạy Đức-vua tạo mọi phước-thiện như bố-thí, thọ-trì ngũ-giới, v.v... nghiêm chỉnh thực-hành mười pháp-vương trị vì đất nước cho được thanh bình thịnh vượng, thần dân thiên hạ được sống an cư lạc nghiệp.

    Một hôm, Đức-vua Dhanañcayakorabya suy tư về câu hỏi gọi là dhammayāga: (cúng-dường pháp), nên thỉnh vị bà-la-môn thừa-tướng Sucirata lên ngồi trên pháp-tòa, cung-kính lễ bái, rồi bạch hỏi câu hỏi bằng 4 câu kệ có ý nghĩa như sau:

    - Kính bạch vị quân-sư Sucirata, Trẫm đã được lên ngôi vua cao cả trong đất nước này, Trẫm còn muốn ngôi vị cao hơn nữa, được làm lễ suy tôn lên ngôi đại-vương bá chủ trị vì trong tòan trái đất này bằng thiện-pháp, không phải là tà-pháp. Trẫm hoàn toàn không thích bằng tà-pháp.

    - Kính bạch vị quân-sư Sucirata, thật ra, thực hành theo đúng thiện-pháp, đó là phận-sự của Đấng minh-quân.

    - Kính bạch vị quân-sư Sucirata, do nhân nào Trẫm sẽ không bị chê trách trong kiếp hiện-tại này và những kiếp sau nữa, và Trẫm sẽ được tán dương ca tụng cả trong cõi người lẫn trong cõi trời dục-giới? Kính xin vị quân-sư tâu cho Trẫm biết rõ nhân ấy.

    - Kính bạch vị quân-sư Sucirata, Trẫm mong muốn thực-hành nghiêm chỉnh đúng theo attha và dhamma ấy. Trẫm đã bạch hỏi vị quân-sư rồi. Kính xin vị quân-sư tâu cho Trẫm biết rõ attha và dhamma ấy.

    Giảng Giải

    Đức-vua Dhanañcayakorabya ngự tại kinh-thành Inda- patta rộng lớn bảy do-tuần(7), trị vì vùng Kuru rộng lớn 300 do-tuần. Đức-vua còn muốn trở thành ngôi vị đại- vương bá chủ trị vì trong tòan cõi trái đất này bằng thiện- pháp, không phải tà-pháp, bởi vì Đức-vua thực-hành theo thiện-pháp thì thần dân thiên hạ cũng thực-hành thiện- pháp, cho nên, thực-hành thiện-pháp đó là phận sự của đấng minh-quân trong đời.

    Đức-vua Dhanañcayakorabya bạch hỏi vị bà-la-môn quốc-sư Sucirata rằng:

    “Trẫm nên thực-hành attha và dhamma như thế nào? Để Trẫm không bị chê trách trong kiếp hiện-tại và những kiếp vị-lai của Trẫm, không bị tái-sinh kiếp sau tronng cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh).

    Khi Trẫm trở thành Đại-vương cao cả, sẽ được tán dương ca tụng trong cõi người và cõi trời dục-giới.

    Khi Trẫm thực-hành nghiêm chỉnh đúng theo attha và dhamma ấy, sẽ dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn, và tế độ, hỗ trợ cho các chúng-sinh khác cũng chứng ngộ Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.

    Trẫm đã bạch hỏi vị quân-sư rồi. Kính xin vị quân-sư tâu cho Trẫm biết rõ attha và dhamma ấy.

    Nghĩa hai pháp attha và dhamma

    - Attha có nghĩa là phalavipāka: quả của nhân.

    - Dhamma có nghĩa là tassa atthassa hetubhūtaṃ: nhân của quả ấy.

    Sau khi vị bà-la-môn quân-sư Sucirata nghe Đức-vua Dhanañcayakorabya bạch hỏi câu hỏi như vậy, biết đó là câu hỏi vô cùng sâu sắc, câu hỏi này chỉ nên bạch hỏi đến Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác mà thôi, nếu không có Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác thì chỉ nên bạch hỏi đến Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác mà thôi.

    Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata suy xét rằng:

    “Ta không phải là Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác, nên không có khả năng giải đáp câu hỏi này được. Ta không thể tự cho mình là paṇḍita (bậc thiện-trí).”

    Biết mình không có khả năng giải đáp câu hỏi ấy của Đức-vua, cho nên, vị bà-la-môn quân-sư Sucirata tâu với Đức-vua Dhanañcayakorabya bằng câu kệ rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương muốn biết thực- hành theo attha và dhamma nào, đó là câu hỏi vô cùng sâu sắc, ngoài vị bà-la-môn Vidhura ra, không có vị nào có có khả năng chỉ dạy attha và dhamma ấy được.

    Thật ra, câu hỏi của Đức-vua Dhanañcayakorabya là câu hỏi rất sâu sắc và vô cùng vi-tế, ngoài khả năng hiểu biết của vị bà-la-môn quân-sư Sucirata. Vì vậy, vị bà-la- môn quân-sư không thấy phần khởi đầu, phần cuối cùng của câu hỏi, giống như người đi vào chỗ tăm tối. Vị bà- la-môn quân-sư biết chỉ có vị bà-la-môn Vidhura có trí-tuệ xuất sắc, là vị quan thừa-tướng của Đức-vua Bārāṇasī mới có khả năng giải đáp được câu hỏi này mà thôi.

    Ngoài vị bà-la-môn Vidhura ấy ra, không có vị nào khác có khả năng chỉ dạy attha và dhamma rõ ràng được.

    Nghe vị bà-la-môn quân-sư Sucirata tâu rõ như vậy, nên Đức-vua Dhanañcayakorabya truyền thưa rằng:

    - Kính thưa vị bà-la-môn quân-sư Sucirata, Trẫm xin phái quân-sư làm sứ giả đem theo một tấm vàng để ghi chép lời attha và dhamma của vị bà-la-môn Pháp-sư Vidhura, và 1000 thỏi vàng làm quà cúng-dường đến vị Pháp-sư. Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata ngồi trên chiếc xe sang trọng cùng với nhóm thuộc hạ rời khỏi kinh- thành Indapatta, đi thẳng đến kinh-thành Bārāṇasī.

    Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata cùng với nhóm thuộc hạ đến tư dinh của vị bà-la-môn Vidhura vào buổi sáng, thấy vị bà-la-môn Vidhura đang dùng bữa ăn sáng.

    Nhìn thấy vị bà-la-môn quân-sư Sucirata, vốn là bạn đồng môn cùng học một thầy với nhau trong thời trẻ, nên vị bà-la-môn Vidhura tỏ ra vô cùng hoan hỷ, mời dùng bữa ăn sáng với nhau.

    Sau khi dùng bữa ăn sáng xong, hai vị bà-la-môn bạn hữu hàn huyên tâm sự với nhau, vị bà-la-môn Vidhura bèn hỏi rằng:

    - Này bạn thân mến! Bạn đến thăm tôi có việc gì vậy? Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata thưa với vị bà-la-môn

    Vidhura rằng:

    - Kính thưa vị bà-la-môn Vidhura, tôi là vị bà-la-môn quân-sư của Đức-vua Dhanañcayakorabya, khi Đức-vua truyền hỏi câu hỏi về dhammayāga, tôi không có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy, tôi mới giới thiệu về bạn là người có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy, nên Đức-vua Dhanañcayakorabya phái tôi làm sứ giả tìm đến gặp bạn, xin hỏi câu hỏi về attha và dhamma.

    Bây giờ, tôi đã hỏi bạn về attha và dhamma rồi. Kính xin bạn giải đáp chỉ dạy attha và dhamma ấy cho tôi.

    Nghe vị bà-la-môn quân-sư Sucirata của Đức-vua Dhanañcayakorabya hỏi câu hỏi về attha và dhamma, vị bà-la-môn Vidhura đang bận lo công việc đại sự khác, nên không có cơ-hội giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy, nên vị bà-la-môn Vidhura thưa với vị bà- la-môn quân-sư Sucirata rằng:

    - Kính thưa vị bà-la-môn quân-sư Sucirata, tôi đang bận công việc đại sự khác, nên bây giờ không có cơ hội giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy.

    Xin bạn thông cảm, tôi có công-tử lớn tên Bhadrakāra là bậc thiện-trí có trí-tuệ hơn cả tôi, công-tử ấy có khả năng giải đáp câu hỏi về attha và dhamma ấy. Bạn hãy nên đến tư thất của nó.

    Nghe vị bà-la-môn Vidhura giới thiệu đến công-tử như vậy, vị bà-la-môn quân-sư Sucirata tìm đến tư thất của công-tử Bhadrakāra, thấy của công-tử Bhadrakāra đang ngồi trong nhà giữa nhóm người thuộc hạ.

    Nhìn thấy vị bà-la-môn quân-sư Sucirata đến, công- tử Bhadrakāra ra đón rước mời vào phòng khách tiếp đãi tử tế niềm nở, cung-kính lễ bái, rồi thưa hỏi nguyên- nhân đến gặp công-tử hôm nay.

    Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata thưa với công-tử Bhadrakāra rằng:

    - Thưa công-tử Bhadrakāra, tôi là vị bà-la-môn quân-sư của Đức-vua Dhanañcayakorabya, khi Đức-vua truyền hỏi về dhammayāga, tôi không có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy, Đức-vua Dhanañcayakorabya phái tôi làm sứ giả tìm đến gặp vị bà-la-môn Vidhura là phụ thân của công-tử, xin hỏi câu hỏi về attha và dhamma, thì phụ thân của công-tử giới thiệu đến gặp công-tử có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy.

    Bây giờ, tôi đã hỏi công-tử câu hỏi về attha và dhamma rồi. Kính xin công-tử giải đáp về attha và dhamma ấy cho tôi.

    Nghe vị bà-la-môn quân-sư của Đức-vua Dhanañcaya- korabya thưa hỏi như vậy, công-tử Bhadrakāra kính thưa rằng:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, con đang bị phiền-não khống chế hằng ngày, nên tâm của con không được sáng suốt. Vì vậy, con không thể giải đáp câu hỏi về attha và dhamma ấy cho phụ thân được. Con có người em trai tên Sañjayakumāra là bậc thiện-trí có trí-tuệ hơn con nhiều, em của con có khả năng giải đáp câu hỏi về attha và dhamma ấy cho phụ thân được. Xin phụ thân tìm đến tư thất của em con.

    Nghe công-tử Bhadrakāra giới thiệu người em như vậy, vị bà-la-môn quân-sư Sucirata rời khỏi tư thất của công-tử Bhadrakāra, tìm đến tư thất của công-tử Sañjayakumāra.

    Nhìn thấy vị bà-la-môn quân-sư Sucirata đến, công- tử Sañjayakumāra ra đón rước mời vào phòng khách tiếp đãi tử tế niềm nở, cung-kính lễ bái, rồi thưa hỏi nguyên- nhân đến gặp công-tử hôm nay.

    Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata thưa với công-tử Sañjayakumāra rằng:

    - Thưa công-tử Sañjayakumāra, tôi là vị bà-la-môn quân-sư của Đức-vua Dhanañcayakorabya, khi Đức-vua truyền hỏi về dhammayāga, tôi không có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy, Đức-vua Dhanañcayakorabya phái tôi làm sứ giả tìm đến gặp vị bà-la-môn Vidhura là phụ thân của công-tử, xin hỏi câu hỏi về attha và dhamma ấy, phụ thân của công-tử không giải đáp câu hỏi mà giới thiệu đến gặp công-tử lớn Bhadrakāra. Công-tử Bhadrakāra cũng không giải đáp câu hỏi mà giới thiệu đến gặp công-tử có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy.

    Bây giờ, tôi đã hỏi cậu về attha và dhamma ấy rồi. Kính xin cậu giải đáp câu hỏi, chỉ dạy attha và dhamma ấy cho tôi.

    Nghe vị bà-la-môn quân-sư của Đức-vua Dhanañcaya- korabya thưa như vậy, cậu Sañjayakumāra kính thưa rằng:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, con đang bị ác-nghiệp làm khổ tâm, tử thần theo dõi ngày đêm, nên tâm bị phiền-não làm ô nhiễm. Vì vậy, con không thể giải đáp câu hỏi về attha và dhamma ấy cho phụ thân được. Con có người em trai tên Sambhavakumāra mới lên 7 tuổi, nhưng là bậc thiện-trí có trí-tuệ hơn con gấp trăm lần, gấp ngàn lần, gấp trăm ngàn lần, em trai của con có khả năng giải đáp câu hỏi về attha và dhamma ấy cho phụ thân được. Xin phụ thân tìm đến gặp em của con.

    Nghe công-tử Sañjayakumāra giới thiệu người em như vậy, vị bà-la-môn quân-sư Sucirata bảo rằng:

    - Này các người! Câu hỏi về attha và dhamma này phi thường đến thế sao?

    Tôi đã từng hỏi người cha là vị bà-la-môn Vidhura là bậc thiện-trí có trí-tuệ xuất sắc không giải đáp câu hỏi, mà giới thiệu tôi tìm đến công-tử lớn tên Bhadrakāra, công-tử Bhadrakāra không giải đáp câu hỏi ấy, mà lại giới thiệu tôi tìm đến công-tử Sañjayakumāra. Tôi đã tìm đến công-tử Sañjayakumāra, công-tử cũng không giải đáp câu hỏi ấy, mà lại giới thiệu tôi tìm đến công-tử Sambhavakumāra mới lên bảy tuổi.

    Vậy công-tử trẻ Sambhavakumāra mới lên bảy tuổi mà có khả năng giải đáp câu hỏi về attha và dhamma này được hay sao?

    Nghe vị bà-la-môn quân-sư Sucirata truyền bảo như vậy, công-tử Sañjayakumāra kính thưa với vị bà-la-môn quân-sư Sucirata rằng:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, xin phụ thân không nên nghĩ rằng: “Sambhavakumāra còn thơ ấu”. Nếu phụ thân muốn nghe giải đáp câu hỏi ấy, thì phụ thân hỏi câu hỏi về attha và dhamma ấy thì sẽ biết rõ ngay.

    Công-tử Sañjayakumāra tán dương ca tụng tài đức của công-tử Sambhavakumāra em trai như sau:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, khi Ngài chưa hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì Ngài không nên nghĩ công-tử còn thơ ấu, khi Ngài hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy rồi, thì Ngài sẽ hiểu biết được attha và dhamma ấy rõ ràng.

    Như mặt trăng di chuyển trên bầu trời trong sáng không có mây che, ánh trăng tỏa sáng hơn các vì sao như thế nào, tuy công-tử Sambhavakumāra vẫn còn thơ ấu, nhưng trí-tuệ siêu-việt sáng ngời nổi bật hơn hẳn các bậc thiện-trí trong đời cũng như thế ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, khi Ngài chưa hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì Ngài không nên nghĩ công-tử còn thơ ấu, khi Ngài hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy rồi, thì Ngài sẽ hiểu biết được attha và dhamma ấy rõ ràng.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, tháng 5 trong mùa mát trời đẹp hơn các tháng khác về màu xanh của cây, và các thứ hoa như thế nào, tuy công-tử Sambhavakumāra vẫn còn thơ ấu, nhưng trí-tuệ siêu-việt sáng ngời nổi bật hơn hẳn các bậc thiện-trí trong đời cũng như thế ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, khi Ngài chưa hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì Ngài không nên nghĩ công-tử còn thơ ấu, khi Ngài hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy rồi, thì Ngài sẽ hiểu biết được attha và dhamma ấy rõ ràng.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, núi Himavanta (núi Hi-mã-lạp-sơn) gọi là gandhamādana có nhiều loại cây rừng, là chỗ trú ngụ của chư vị thiên-nam, thiên-nữ xinh đẹp có mùi hương thơm tho tỏa khắp mọi nơi với thiên dược như thế nào, tuy công-tử Sambhavakumāra vẫn còn thơ ấu, nhưng trí-tuệ siêu-việt tuyệt vời nổi bật hơn hẳn các bậc thiện-trí trong đời cũng như thế ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, khi Ngài chưa hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì Ngài không nên nghĩ công-tử còn thơ ấu, khi Ngài hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy rồi, thì Ngài sẽ hiểu biết được attha và dhamma ấy rõ ràng.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, ngọn lửa rừng cháy dữ dội, các cây nhỏ cây lớn đều làm mồi của lửa không biết chán, cháy lan lên đến đỉnh núi cao vào ban đêm, ánh sáng rực rỡ toả khắp mọi nơi trong rừng như thế nào, tuy công-tử Sambhavakumāra vẫn còn thơ ấu, nhưng trí-tuệ siêu-việt tuyệt vời nổi bật hơn hẳn các bậc thiện- trí trong đời cũng như thế ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, khi Ngài chưa hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì Ngài không nên nghĩ công-tử còn thơ ấu, khi Ngài hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy rồi, thì Ngài sẽ hiểu biết được attha và dhamma ấy rõ ràng.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, mọi người biết được ngựa báu do nhờ bốn chân ngựa phi đường xa, không phải là hình dáng màu sắc, mọi người biết được bò khỏe mạnh cao quý do nhờ chuyên chở hàng hóa trên đường xa, mọi người biết được bò sữa tốt do nhờ có nhiều sữa tốt, chư bậc thiện-trí biết được bậc thiện-trí cao thượng do nhờ đàm đạo về chánh-pháp với nhau như thế nào, tuy công-tử Sambhavakumāra vẫn còn thơ ấu, nhưng trí-tuệ siêu-việt tuyệt vời nổi bật hơn hẳn các bậc thiện- trí trong đời cũng như thế ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, khi Ngài chưa hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì Ngài không nên nghĩ công-tử còn thơ ấu, khi Ngài hỏi công-tử Sambhavakumāra câu hỏi về attha và dhamma ấy rồi, thì Ngài sẽ hiểu biết được attha và dhamma ấy rõ ràng.

    Khi công-tử Sañjayakumāra tán dương ca tụng tài đức của công-tử Sambhavakumāra em trai mới lên bảy tuồi như vậy, vị bà-la-môn quân-sư Sucirata hỏi rằng:

    - Này công-tử Sañjayakumāra! Công-tử Sambhava- kumāra em trai của công-tử hiện nay ở đâu vậy?

    Khi ấy, công-tử Sañjayakumāra đứng dậy dẫn vị bà- la-môn quân-sư Sucirata đi đến cánh cửa sổ, rồi chỉ xuống dưới có công-tử Sambhavakumāra, có màu da trong sáng như màu vàng, đang chơi đùa với các bạn trẻ gần cửa ra vào lâu đài.

    - Xin mời Ngài đi xuống gặp công-tử Sambhava- kumāra hỏi câu hỏi về attha và dhamma ấy, công-tử Sambhavakumāra sẽ giải đáp câu hỏi của Ngài, rồi Ngài sẽ hiểu biết rõ về attha và dhamma ấy.

    Sau khi nghe công-tử Sañjayakumāra chỉ dẫn như vậy, vị bà-la-môn quân-sư Sucirata bước xuống lâu đài, đi thẳng về phía công-tử Sambhavakumāra đang đứng vui chơi với các bạn trẻ.

    Thấy vị bà-la-môn quân-sư Sucirata đứng trước mặt, nên công-tử Sambhavakumāra bèn thưa rằng:

    - Kính thưa vị bà-la-môn, Ngài đến đây có việc gì không?

    Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata kính thưa rằng:

    - Kính thưa công-tử Sambhavakumāra, tôi là vị bà-la- môn quân-sư của Đức-vua Dhanañcayakorabya, khi Đức- vua truyền hỏi về dhammayāga như vậy, tôi không có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy.

    Đức-vua Dhanañcayakorabya phái tôi làm sứ giả tìm đến gặp vị bà-la-môn Vidhura là phụ thân của công-tử, xin hỏi câu hỏi về attha và dhamma ấy, thì phụ thân của công-tử không giải đáp câu hỏi mà giới thiệu đến gặp công-tử Bhadrakāra. Công-tử Bhadrakāra không giải đáp câu hỏi mà giới thiệu đến công-tử Sañjayakumāra. Công-tử Sañjayakumāra cũng không giải đáp câu hỏi mà giới thiệu đến công-tử có khả năng giải đáp được câu hỏi về attha và dhamma ấy. Đó là nguyên-nhân tôi tìm đến gặp công-tử hôm nay, kính xin công-tử giải đáp hỏi câu hỏi dhammayāga ấy.

    - Kính thưa công-tử Sambhavakumāra, Đức-vua Dhanañcayakorabya bạch hỏi tôi câu hỏi như sau:

    - “Này quân-sư Sucirata, Trẫm đã được lên ngôi vua cao cả trong đất nước này, Trẫm còn muốn ngôi vị cao hơn nữa, được làm lễ suy tôn lên ngôi đại-vương bá chủ trị vì trong toàn trái đất này bằng thiện-pháp, không phải là tà-pháp. Trẫm hoàn toàn không thích bằng tà-pháp.

    - Này quân-sư Sucirata, thật ra, thực-hành theo đúng thiện-pháp, đó là phận-sự của Đấng minh-quân.

    - Này quân-sư Sucirata, do nhân nào Trẫm sẽ không bị chê trách trong kiếp hiện-tại này và những kiếp sau nữa, và Trẫm sẽ được tán dương ca tụng cả trong cõi người lẫn trong cõi trời dục-giới? Xin vị quân-sư tâu cho Trẫm biết rõ nhân ấy.

    - Này quân-sư Sucirata, Trẫm mong muốn thực hành nghiêm chỉnh đúng theo attha và dhamma ấy. Trẫm đã bạch hỏi vị quân-sư rồi. Kính xin vị quân-sư tâu cho Trẫm biết rõ attha và dhamma ấy.”

    Đó là câu hỏi của Đức-vua Dhanañcayakorabya mà tôi không có khả năng giải đáp được, tôi cũng đã hỏi câu hỏi này đến vị bà-la-môn Vidhura là phụ thân của công-tử, đến công-tử Bhadrakāra, đến công-tử Sañjayakumāra là huynh của công-tử đều không giải đáp câu hỏi của tôi. Đó là nguyên-nhân tôi tìm đến gặp công-tử hôm nay.

    - Kính xin công-tử giải đáp câu hỏi dhammayāga ấy, chỉ rõ về attha và dhamma ấy cho tôi.

    Khi ấy, công-tử Bồ-Tát Sambhavakumāra, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama đang đứng giữa đường nhận lời sẽ giải đáp câu hỏi ấy với giọng nói phát ra âm thanh vang khắp kinh-thành Bārāṇasī khoảng 12 do-tuần. Đức- vua và các quan trong triều đình cùng tòan thể dân chúng trong kinh-thành Bārāṇasī đều đến tụ hội nghe công-tử Bồ-Tát Sambhavakumāra đứng giữa đám đông đại chúng trả lời câu hỏi ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, xin phụ thân hãy lắng nghe, tôi sẽ giải đáp câu hỏi của Ngài bằng lời của bậc thiện-trí, còn Đức-vua Dhanañcayakorabya hiểu biết được attha và dhamma ấy, rồi có thực-hành theo đúng attha và dhamma ấy được hay không, điều ấy không biết.

    Công-tử Bô-tát Sambhavakumāra giải đáp câu hỏi của vị bà-la-môn quân-sư Sucirata rằng:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, Đức-Phật Chánh-Đẳng- Giác giải đáp câu hỏi ấy như thế nào, tôi sẽ giải đáp câu hỏi ấy cũng như thế ấy, để cho Đức-vua của Ngài hiểu biết được, sau khi Đức-vua đã hiểu biết được attha và dhamma ấy, rồi Đức-vua có thự- hành hoặc không thực hành theo attha và dhamma ấy, điều ấy tùy thuộc vào khả năng của Đức-vua của Ngài, tôi không có lỗi.

    Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra, tiền-kiếp của Đức- Phật Gotam,a giải đáp câu hỏi dhammayāga bằng năm câu kệ như sau:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, nếu Đức-vua của phụ thân truyền hỏi các quan rằng:

    “Hôm nay, chúng ta nên tạo mọi phước-thiện.”

    Nếu các quan tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, ngày mai, chúng ta sẽ tạo mọi phước-thiện.

    Đức-vua của Ngài thuộc dòng dõi Yudhiṭṭhila không để cho ngày hôm ấy trôi qua với sự dể duôi (thất niệm) khi đại-thiện-tâm phát sinh. Vì vậy, Đức-vua không nên nghe theo lời tâu của vị quan ấy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, nếu khi Đức-vua truyền hỏi câu hỏi, thì phụ thân chỉ nên tâu rằng: ngũ- uẩn chấp-thủ đều có trạng-thái vô-thường mà thôi.

    Người phàm-nhân si mê không biết suy xét, nên có ác- tâm nghĩ trong tà-kiến. Còn Đức-vua của phụ thân có đại-thiện-tâm nghĩ trong chánh-kiến, chỉ nên thực-hành 10 đại-thiện-nghiệp bằng thân, khẩu, ý mà thôi.

    Phụ thân nên tâu lên Đức-vua như vậy.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, Ngài nên tâu lên Đức- vua rằng: Không nên coi thường kiếp người đang sinh sống trong cõi thiện-giới, không nên tạo ác-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong bốn cõi ác-giới, không nên hành-ác bằng thân, khẩu, ý, không nên có tà-kiến, không nên tạo mọi ác-nghiệp cho quả khổ.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, con đã giải đáp câu hỏi dhammayāga ấy, Đức-vua nào mong muốn thực- hành đúng theo attha là quả của nhân, dhamma là nhân sinh quả ấy, thì Đức-vua ấy sẽ có mọi thiện-pháp được tăng trưởng như vầng trăng sáng trong thời-kỳ trăng lên như vậy.

    Đức-vua ấy được hoàng tộc yêu mến, được các quan quân trong triều cùng với thần dân thiên hạ trong nước đều kính yêu.

    Sau khi Đức-vua ấy băng hà, đại-thiện-nghiệp ấy cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị thiên-nam cao- thượng trên cõi trời dục-giới ấy, hưởng mọi sự an-lạc cho đến khi hết tuổi thọ.

    Chú-Giải Ý Nghĩa Bài Kệ

    Trong phần Chú-giải giảng giải về ý nghĩa các bài kệ:

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, nếu Đức-vua của phụ thân truyền hỏi các quan rằng:

    “Hôm nay chúng ta nên tạo phước-thiện bố-thí, giữ- giới, thọ-trì bát-giới uposathasīla.”

    Nếu có vị quan tâu lên Đức-vua rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, hôm nay chúng ta nên sát sinh để ăn thịt, uống rượu, hưởng dục lạc, rồi ngày mai chúng ta sẽ tạo mọi phước-thiện.

    Đức-vua của Ngài thuộc dòng dõi Yudhiṭṭhila, không nên nghe theo lời tâu của vị quan ấy, không nên sống trong ngày hôm ấy mà để thời gian trôi qua với sự dể duôi (thất niệm) (taṃ divasaṃ pamādena vītināmento mā avasi), khi đại-thiện-tâm phát sinh không để cho hoại, chỉ nên cố gắng tinh-tấn làm cho mọi thiện-pháp tăng trưởng mà thôi.

    Trong kinh Bhaddekarattasutta, Đức-Phật dạy rằng:

    “Ajjeva kiccamātappaṃ, ko jaññā maraṇaṃ suve.”(8)

    Bậc thiện-trí nên tinh-tấn hoàn thành xong phận-sự ngay trong ngày hôm nay, ai biết được sự chết sẽ xảy ra trong ngày mai.

    Trong Dhammapadaṭṭhakathā, Đức-Phật dạy câu kệ về pháp dể duôi rằng:

    “Appamādo amtaṃ padaṃ, pamādo maccuno padaṃ. Appamattā na mīyanti, ye pamattā yathā matā.”(9)

    Bậc thiện-trí không có dể duôi trong mọi thiện-pháp (có chánh-niệm) là con đường dẫn đến Niết-bàn bất tử.

    Người thiểu-trí có dể duôi trong mọi thiện-pháp là con đường dẫn đến sự chết.

    Chư bậc thiện-trí nào không có dể duôi trong mọi thiện-pháp, chư bậc thiện-trí ấy dù có chết cũng như không chết.

    Những người thiểu-trí nào dể duôi trong mọi thiện-pháp, những người thiểu-trí ấy dù còn sống cũng như đã chết.

    Khi Đức-vua Dhanañcayakorabya của Ngài truyền hỏi rằng:

    - Này quân-sư Sucirata! Khi khanh hỏi câu hỏi dhammyāga, công-tử Sambhavapaṇḍita giải đáp thế nào?

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, xin Ngài tâu lên Đức- vua của Ngài về pháp bên trong đó là ngũ-uẩn chấp-thủ (sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, thức-uẩn) là pháp vô-thường có rồi lại không có bằng câu kệ rằng:

    “Sabbe saṅkhārā aniccā’ti, yadā paññāya passati. Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā.”(10)

    Khi nào hành-giả phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ rằng: tất cả các pháp-hữu-vi sắc-pháp, danh- pháp ngũ-uẩn chấp-thủ đều có trạng-thái vô-thường.

    Khi thấy rõ biết rõ sự-thật như vậy, phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ nhàm chán trong khổ-đế, trí-tuệ thiền-tuệ nhàm chán ấy là đạo thanh-tịnh giải thoát khổ.

    “Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino.

    Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho.”(11)

    Sự-thật, các pháp-hữu-vi sắc-pháp, danh-pháp đều là vô-thường, có trạng-thái sinh rồi diệt là thường.

    Sau khi sinh rồi tất cả đều diệt, sự diệt tận của các pháp ấy là an-lạc thật sự.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, hạng phàm-nhân si- mê không biết nên có mọi tà-kiến. Ngài nên tâu với Đức-vua của Ngài, Đức-vua có trí-tuệ hiểu biết, không nên có tà-kiến như vậy, nên thực-hành mười đại-thiện- nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

    Đức-vua không nên coi thường kiếp người đang sinh sống trong cõi thiện-giới, những người nào bỏ qua ba pháp hành-thiện bằng thân, khẩu, ý trong cõi người, mà tạo ba pháp hành-ác bằng thân, khẩu, ý.

    Sau khi những người ấy chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh kiếp sau trong bốn cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh). Cho nên, Đức-vua không nên tạo ba pháp hành-ác bằng thân, khẩu, ý ấy.

    Đức-vua không nên có mọi tà-kiến, không nên tạo mọi ác-nghiệp cho quả khổ.

    - Kính thưa phụ thân Sucirata, con đã giải đáp câu hỏi dhammayāga ấy, nếu Đức-vua nào mong muốn thực- hành đúng theo attha là quả của nhân, dhamma là nhân sinh quả ấy. thì Đức-vua ấy phải có giới-hạnh trong sạch trọn vẹn, có trí-tuệ sáng suốt, sẽ có được mọi phước- thiện dược tăng trưởng như vầng trăng sáng trong thời- kỳ trăng lên như vậy.

    Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra, tiền-kiếp của Đức- Phật Gotama, giải đáp câu hỏi dhammayāga của vị bà-la- môn quân-sư Sucirata của Đức-vua Dhanañcayakorabya rõ ràng ví như lời giải đáp của Đức-Phật Chánh-Đẳng- Giác, giống như mặt trăng hiện trên bầu trời trong sáng không có mây che phủ.

    Tòan thể hội chúng đều tán dương ca tụng nói lên lời sādhu vang rền cả không gian, Đức-vua Bārāṇasī cúng- dường pháp bằng những phẩm vật cao quý đến công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra, cùng với mọi người cúng- dường pháp bằng các vật quý báu của mình.

    Riêng vị bà-la-môn quân-sư Sucirata của Đức-vua Dhanañcayakorabya cúng-dường 1000 lượng vàng, liền ghi chép tòan lời giải đáp câu hỏi dhammayāga trên tấm biển vàng.

    Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata đảnh lễ, xin bái biệt công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra, rồi lên đường trở về kinh thành Indapatta, xin vào đảnh lễ yết kiến Đức-vua Dhanañcayakorabya tâu trình tấm biển vàng ghi chép tòan lời giải đáp câu hỏi dhammayāga của công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra lên Đức-vua.

    Đức-vua Dhanañcayakorabya nghiêm chỉnh thực-hành đúng theo lời dạy của công-tử Bồ-tát Sambhavapaṇḍita.

    Đức-Thế-Tôn thuyết giảng Sambhavajātaka tích công- tử Bồ-tát Sambhavakumāra tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama xong, Đức-Phật truyền dạy chư tỳ-khưu rằng:

    - Này chư tỳ-khưu! Nay kiếp hiện-tại Như-lai là Đức- Phật Chánh-Đẳng-Giác có trí-tuệ siêu việt đó không phải là điều phi thường, dù trong những tiền-kiếp của Như-lai khi còn là Đức-Bồ-tát cũng vẫn có trí-tuệ siêu-việt vậy.

    Tích Sabhavajātaka Liên Quan Đến Kiếp Hiện-Tại

    Trong tích Sambhavajātaka này, Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama sinh làm công-tử Bồ-tát Sambhava- kumāra trong thời quá khứ. Đến khi Đức-Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian, thì hậu kiếp của những nhân vật trong tích Sambhavajātaka ấy liên quan đến kiếp hiện-tại của những nhân vật ấy như sau:

    - Đức-vua Dhanañcayakorabya, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ānanda.

    - Vị bà-la-môn quân-sư Sucirata, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Anuruddha.

    - Vị bà-la-môn Vidhura, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng lão Ariyakassapa.

    - Công-tử Bhadara, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại- Trưởng-lão Mahāmoggallāna.

    - Công-tử Sañjaya, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-

    Trưởng-lão Sāriputta.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra nay kiếp hiện- tại là Đức-Phật Gotama.

    Mười Pháp-Hạnh Ba-La-Mật

    Tóm lược tích Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama mới lên bảy tuổi đã tạo pháp- hạnh trí-tuệ ba-la-mật bậc hạ, ngoài ra, có 8 pháp-hạnh ba-la-mật phụ khác cũng đồng thời thành tựu như sau:

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra tạo mọi phước thiện bố-thí pháp, đó là pháp-hạnh bố-thí ba-la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra giữ gìn giới, đó là pháp-hạnh giữ-giới ba-la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra có sự tinh-tấn không ngừng, đó là pháp-hạnh tinh-tấn ba-la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra có đức nhẫn-nại, đó là pháp-hạnh nhẫn-nại ba-la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra nói lời chân-thật, đó là pháp-hạnh chân-thật ba-la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra phát-nguyện bằng lời chân thật, đó là pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhvakumāra có tâm-từ đối với mọi người, mọi chúng-sinh, đó là pháp-hạnh tâm-từ ba- la-mật.

    - Công-tử Bồ-tát Sambhavakumāra có tâm-xả đối với mọi chúng-sinh, đó là pháp-hạnh tâm-xả ba-la-mật.

    Đó là tám phá