Phật Ngôn về giới Luật

Phật Ngôn về giới Luật

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA

    -----

    LUẬT XUẤT GIA TÓM TẮT
    (PABBAJITA VINAYA SAṄKHEPA)

    Quyển thượng

    Soạn giả

    Trưởng Lão Hòa Thượng Hộ Tông
    (Vaṅsarakkhita Mahāthera)

    Pl.2510 – Dl.1966

     

    PHẬT NGÔN

    1) Tỳ khưu có 5 chi(77) hằng sa địa ngục: tỳ khưu tư vị vì thương; tỳ khưu tư vị vì ghét; tỳ khưu tư vị vì dốt nát; tỳ khưu tư vị vì sợ; tỳ khưu dùng của tăng như của mình.

    2) Tỳ khưu có đủ 4 chi mới đáng gọi là tỳ khưu: phải hằng niệm tưởng đức của Phật; phải hằng có tâm bác ái (mettā); phải hằng tham thiền đối tưởng tử thi (asubha); phải hằng niệm tưởng sự chết (maranasati).

    3) Sa-môn có đủ 4 chi mới gọi là Sa-môn: phải có tâm nhẫn nại; phải thận trọng trong việc phước đức; phải dứt bỏ lợi danh và phiền não; không bận lòng về thế sự.

    4) Người sớm tới đi vào địa ngục có 3 hạng: người không phải hành đạo cao thượng mà tư xưng là hành đạo cao thượng; người cáo gian bậc phạm hạnh; người nói ngũ dục không có tội, rồi hằng thọ dụng ngũ dục.

    5) Lời nói cao thượng có 4: không thấy, nói không thấy; không nghe, nói không nghe; không trúng, nói rằng không trúng; không biết rõ rệt, nói rằng không biết rõ rệt

    6) Tỳ khưu có giới đáng tôn kính có 4 chi: không tư vị vì thương, không tư vị vì ghét, không tư vị vì si mê, không tư vị vì sợ.

    7) Đệ tử đối với thầy có 5 pháp: phải hết lòng thương yêu thầy, phải hết lòng tin tín thực thầy, phải hết lòng hổ thẹn tội lỗi, phải hết lòng tôn trọng thầy, phải hết lòng nhớ tưởng thầy.

    8) Thầy đáng cho đệ tử nương tựa có 7 pháp: phải có tâm bác ái bình đẳng, phải có giới tinh nghiêm, đáng cho trò tôn kính, phải nhẫn nại khi trò bất bình và biết tùy cơ cảm hoá trò, phải biết đạo lý cao siêu và biết giảng giải theo sức trò, phải ngăn trò không cho làm điều vô ích tội lỗi, phải tìm phương pháp để chỉ dẫn trò cho mau tiến hoá.

    9) Bậc minh tuệ có 4 chi (panditā) là bậc đáng nương tựa: biết ơn người đã làm đến mình (kataññū), biết làm cho mình được trong sạch (attasuddhi), biết làm cho người được trong sạch (parasuddhi), tế độ người tế độ (saṅgho).

    10) Bậc tịnh giả (thiện trí thức) có 7 chi: biết nhân, biết quả, biết mình, biết tiết độ, biết thì giờ, biết nơi hội hợp, biết người.

    Ba bậc trên đây (8, 9, 10) là hạng người đáng nương tựa, thân cận thì sẽ được hưởng thụ 4 quả báu: hằng làm cho giới được tăng tiến cao thượng, hằng làm cho định được tăng tiến cao thượng, hằng làm cho tuệ được tăng tiến cao thượng, hằng làm cho sự giải thoát được tăng tiến cao thượng.

    Tỳ khưu có 7 pháp đáng cho hàng phạm hạnh thương mến: không mong được lợi, không mong được danh giá, không ngã chấp, hổ thẹn tội lỗi, ghê sợ tội lỗi, không ganh tỵ, không bỏn xẻn (đáng thân cận).

    Tỳ khưu có 7 pháp không đáng cho hàng phạm hạnh thương mến: mong được lợi, mong được danh giá, ngã chấp, không thẹn tội lỗi, không ghê sợ tội lỗi, ganh tỵ, bón rít (không nên gần gũi).

    Sáu đặc tính của kẻ si mê: mong được người ca tụng, mong được đứng đầu trong hàng tỳ khưu, mong được làm cả trong chùa, mong được thiện tín cúng dường, mong được người ưa thích việc của kẻ khác làm mà nói là của mình, mong được kẻ khác ở dưới quyền mình trong tất cả mọi việc. Những kẻ có đặc tính như thế là người hèn hạ không nên thân cận

    Sáu hạng xuất gia: xuất gia của người dốt nát, xuất gia của người hay giận, xuất gia của người chơi giỡn, xuất gia của người thu góp của cải, xuất gia của người để nuôi sống, xuất gia của người muốn được thoát khổ (chỉ có hạng người xuất gia thứ 6 mới gọi là chơn chánh).

    ‒ Dứt tác phẩm 1. Luật xuất gia – quyển thượng (Pl.2510-Dl.1966)‒

    -oo0oo-

    (77) Chi: cái duyên ở một thể chia ra.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.