Phước Thiện Bố Thí (Dānakusala)

Phước Thiện Bố Thí (Dānakusala)

    NỀN-TẢNG-PHẬT-GIÁO (MŪLABUDDHASĀSANA)

    QUYỂN V

    PHƯỚC-THIỆN (PUÑÑA-KUSALA)

    Soạn giả:
    Tỳ-khưu Hộ-Pháp
    (Dhammarakkhita Bhikkhu)
    (Aggamahāpaṇḍita)

     

    PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ (DĀNAKUSALA)

    Dānakusala: Phước-thiện bố-thí

    Định-nghĩa Dāna:

    Dīyati etenāti dānaṃ:

    Thí-chủ bố-thí với tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm tạo phước-thiện bố-thí gọi là dānakusala: phước-thiện bố-thí

    Trong kinh Sappurisadānasutta (1) Đức-Phật dạy người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí có 5 pháp, được tóm lược như sau:

    - Này chư tỳ-khưu!

    1- Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí với đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, người ấy sẽ được quả báu là có nhiều của cải tài sản, giàu sang, phú quý, còn có quả báu đặc biệt đó là người có sắc thân rất xinh đẹp, có màu da mịn màng trắng trẻo, đáng được mọi người ngưỡng mộ.

    2- Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí với đại- thiện-tâm cung-kính người thọ-thí và vật-thí được phát sinh một cách hợp pháp và trong sạch, người ấy sẽ được quả báu là có nhiều của cải tài sản, giàu sang phú quý, còn có quả báu đặc biệt đó là trong gia đình: vợ, các con, các cháu, bạn bè, các thuộc hạ, những người làm và những người thân đều cung-kính nghe lời dạy bảo của người thiện-trí ấy.

    3- Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí hợp thời, đúng lúc (như bố-thí đến tỳ-khưu khách, tỳ-khưu sắp đi xa, tỳ-khưu bệnh, sa-di hoặc tỳ-khưu nuôi tỳ-khưu bệnh, người đang đói khát, hoặc trong buổi lễ dâng y kathina, v.v...), người ấy sẽ được quả báu là có nhiều của cải tài sản, giàu sang phú quý, còn có quả báu đặc biệt đó là có thứ của cải mà người khác khó có, được thứ của cải mà người khác khó được, khi cần thứ của cải nào thì sẽ được thứ ấy như ý.

    4- Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí với đại-thiện-tâm tế độ những người thọ-thí, người ấy sẽ được quả báu là có nhiều của cải tài sản, giàu sang phú quý, còn có quả báu đặc biệt đó là người thiện-trí ấy hướng tâm đến hưởng sự an-lạc trong của cải của mình.

    5- Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí không tự làm khổ mình và không làm khổ mọi người, người ấy sẽ được quả báu là có nhiều của cải tài sản, giàu sang phú quý, còn có quả báu đặc biệt đó là mọi thứ của cải tài sản không bị lửa đốt cháy, không bị nước lụt cuốn trôi, không bị kẻ trộm cướp chiếm đoạt, không bị nhà nước tịch thu, không bị người không ưa thích làm chủ.

    - Này chư tỳ-khưu! Đó là 5 cách tạo phước-thiện bố- thí của người thiện-trí và quả báu của mỗi cách bố-thí.

    CHI-PHÁP CỦA PHƯỚC BỐ-THÍ

    Để thành tựu phước-thiện bố-thí cần hội đủ 3 chi-pháp:

    1- Cetanādāna: Tác-ý đại-thiện-tâm bố-thí. Người thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm tạo phước-thiện bố-thí đến cho người thọ-thí.

    2- Vatthudāna: Vật bố-thí. Các vật thí của người thí- chủ như y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh, v.v...

    3- Paṭiggāhaka: Người thọ-thí nhận vật thí của thí-chủ.

    Giảng giải

    CETANĀDĀNA: TÁC-Ý TRONG ĐẠI-THIỆN-TÂM BỐ-THÍ TRẢI QUA 3 THỜI-KỲ

    1- Pubbacetanādāna: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trước khi tạo phước-thiện bố-thí.

    Người thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện- tâm hoan-hỷ trước khi tạo phước-thiện bố-thí (thời gian chuẩn bị tạo phước-thiện bố-thí).

    Thời-kỳ trước khi tạo phước-thiện bố-thí lâu hoặc mau tùy thuộc vào thí-chủ và ngày, giờ làm lễ phước- thiện bố-thí ấy.

    2- Muñcacetanādāna: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm khi đang tạo phước-thiện bố-thí.

    Người thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm hoan-hỷ khi đang tạo phước-thiện bố-thí với vật thí ấy, và đồng thời người thọ-thí đang nhận vật thí ấy của thí-chủ (thời gian hiện tại khi đang tạo phước- thiện bố-thí đến cho người thọ-thí đang nhận vật thí).

    3- Aparacetanādāna: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí xong.

    Người thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm hoan-hỷ sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí xong. Thời gian sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy không có hạn định thời gian, có thể sau nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Nếu mỗi khi thí-chủ niệm tưởng đến phước-thiện bố-thí ấy thì lại phát sinh đại-thiện-tâm hoan-hỷ trong phước-thiện bố-thí ấy.

    Khi thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện- tâm tạo phước-thiện bố-thí đầy đủ cả 3 thời-kỳ tác-ý như vậy thì phước-thiện bố-thí ấy có cơ hội cho quả tốt, quả an-lạc rất phong phú trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị- lai, mỗi kiếp được hưởng quả báu trong 3 thời: thời ấu- niên, thời trung-niên và thời lão-niên đối với thí-chủ ấy.

    Trong bài kinh Chaḷaṅgadānasutta (2) được tóm lược những điểm chính như sau:

    Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jeta- vana, gần kinh-thành Sāvatthi. Khi ấy, cận-sự-nữ Nandāmātā là người dân xứ Veḷukaṇḍakī tạo phước- thiện bố-thí cúng dường đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng có Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta và Ngài Đại-Trưởng- lão Mahāmoggallāna chủ trì.

    Đức-Thế-Tôn biết rõ bằng nhãn thông thấy cận-sự-nữ Nandāmātā là người dân xứ Veḷukaṇḍakī tạo phước- thiện bố-thí cúng dường đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng có Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta và Ngài Đại-Trưởng- lão Mahāmoggallāna chủ trì, hợp đủ 6 chi-pháp, nên Đức-Thế-Tôn truyền dạy chư tỳ-khưu rằng:

    - Này chư tỳ-khưu! Cận-sự-nữ Nandāmātā là người dân xứ Veḷukaṇḍakī tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng, có Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta và Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna chủ trì, hợp đủ 6 chi-pháp.

    Phước-thiện bố-thí cúng dường hợp đủ 6 chi-pháp như thế nào?

    Người thí-chủ có đủ 3 chi-pháp và Bậc thọ-thí có đủ 3 chi-pháp.

    Người thí-chủ có đủ 3 chi-pháp

    1- Thí-chủ là người có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ trước khi tạo phước- thiện bố-thí.

    2- Thí-chủ là người có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ khi đang tạo phước- thiện bố-thí, cúng dường đến chư Đại-đức-Tăng thọ-thí.

    3- Thí-chủ là người có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ sau khi đã tạo phước- thiện bố-thí cúng dường đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng xong rồi.

    Và sau khi niệm tưởng đến phước-thiện bố-thí ấy, thí- chủ lại phát sinh đại-thiện-tâm vô cùng hoan-hỷ nữa.

    Bậc thọ-thí có đủ 3 chi-pháp

    1- Trong Phật-giáo này, bậc thọ-thí là Bậc không còn tâm tham-ái, hoặc đang thực-hành để diệt tận được tâm tham-ái.

    2- Bậc thọ-thí là bậc không còn tâm sân-hận, hoặc đang thực-hành để diệt tận được tâm sân-hận.

    3- Bậc thọ-thí là bậc không còn tâm si-mê, hoặc đang thực-hành để diệt tận được tâm si-mê.

    Phước-thiện bố-thí cúng dường hợp với 6 chi-pháp này là dòng phước, dòng thiện vô lượng, có quả báu lớn lao vô lượng, có sự an-lạc vô lượng không sao kể được.

    Đó là trường hợp tạo phước-thiện bố-thí cúng dường mà 2 bên đều trong sạch: người thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch trong 3 thời-kỳ, và bậc thọ-thí là chư Thánh-Tăng là bậc Thánh A-ra- hán trong sạch thanh-tịnh.

    VATTHUDĀNA: VẬT BỐ-THÍ

    * Vật bố-thí theo Tạng Kinh Pāḷi có 10 thứ cần thiết trong cuộc sống như:

    1- Annadāna: bố-thí cơm.
    2- Pānadāna: bố-thí nước.
    3- Vatthadāna: bố-thí vải, quần áo.
    4- Yānadāna: bố-thí giày dép, xe cộ.
    5- Mālādāna: bố-thí hoa, vòng hoa.
    6- Gandhadāna: bố-thí vật thơm.
    7- Vilepana: bố-thí vật thoa.
    8- Seyyādāna: bố-thí giường, chỗ nằm.
    9- Āvasathagharadāna: bố-thí chỗ ở, nơi trú ngụ.
    10- Padīpeyyadāna: bố-thí đèn cầy, đèn dầu, đèn điện.

    * Vật bố-thí theo Tạng Luật Pāḷi có 4 thứ vật dụng cần thiết đối với tỳ-khưu, sa-di là:

    1- Cīvaradāna: bố-thí cúng dường y phục.
    2- Piṇḍapātadāna: bố-thí cúng dường vật thực.
    3- Senāsanadāna: bố-thí cúng dường chỗ ở.
    4- Bhesajjadāna: bố-thí cúng dường thuốc trị bệnh.

    * Vật bố-thí theo Tạng Vi-Diệu-Pháp có 6 loại là:

    1- Rūpadāna: bố-thí cúng dường đối-tượng sắc.
    2- Saddadāna: bố-thí cúng dường đối-tượng thanh.
    3- Gandhadāna: bố-thí cúng dường đối-tượng hương.
    4- Rasadāna: bố-thí cúng dường đối-tượng vị.
    5- Phoṭṭhabbadāna: bố-thí cúng dường đối-tượng xúc.
    6- Dhammadāna: bố-thí cúng dường đối-tượng pháp.

    * 10 vật thí theo Tạng Kinh Pāḷi là những thứ cần thiết dùng trong cuộc sống hằng ngày của tất cả mọi người tại gia cư-sĩ.

    Nếu thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí các vật thí ấy đến người tại gia cư-sĩ thì được phước-thiện bình thường, và có được quả báu bình thường.

    * 4 vật thí theo Tạng Luật Pāḷi là 4 thứ vật dụng cần thiết đối với những bậc xuất-gia tỳ-khưu, sa-di.

    Nếu thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí cúng dường 4 thứ vật dụng cần thiết ấy đến chư tỳ-khưu-Tăng thì được nhiều phước-thiện cao quý vô lượng, và có được quả báu cao quý lớn lao vô lượng.

    * 6 vật thí theo Tạng Vi-Diệu-Pháp Pāḷi là 6 đối- tượng thuộc chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) vô cùng vi-tế.

    Nếu muốn cúng dường 6 đối-tượng này thì thí-chủ hướng đại-thiện-tâm đến đối-tượng nào cúng dường đến Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo gọi là sự cúng dường vật thí theo Tạng Vi-Diệu-Pháp thật là vô cùng vi-tế.

    PAṬIGGĀHAKA: NGƯỜI THỌ-THÍ NHẬN VẬT THÍ CỦA THÍ- CHỦ CÓ 2 HẠNG

    - Pāṭipuggalikadāna: Cá-nhân thọ-thí, có 14 hạng.

    - Saṃghikadāna: Chư tỳ-khưu-Tăng thọ-thí, có 7 trường hợp.

    * Pāṭipuggalikadāna: Cá-nhân thọ-thí có 14 hạng:

    Thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến cá-nhân thọ-thí (pāṭipuggalikadāna) có 14 hạng người từ bậc thấp cho đến bậc cao và hưởng được quả báu như sau:

    1- Tạo phước-thiện bố-thí đến loài súc-sinh (chim, chó, mèo,...) hưởng được 5 quả báu (sống lâu, sắc đẹp, an-lạc, sức mạnh, trí-tuệ) 100 kiếp.

    2- Tạo phước-thiện bố-thí đến người phàm nhân không có giới, hưởng được 5 quả báu 1.000 kiếp.

    3- Tạo phước-thiện bố-thí đến phàm nhân có giới, hưởng được 5 quả báu 100 ngàn kiếp.

    4- Tạo phước-thiện bố-thí đến hành-giả chứng đắc các bậc thiền và ngũ-thông, hưởng được 5 quả báu 100 ngàn tỉ kiếp.

    5- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến hành-giả thiện-trí phàm nhân đang thực-hành pháp-hành thiền- tuệ để chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh- quả, và Niết-bàn, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp.

    6- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh Nhập-lưu, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến hành-giả thiện-trí phàm nhân đang thực-hành pháp-hành thiền-tuệ...

    7- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh Nhập-lưu đang thực-hành pháp-hành thiền-tuệ để chứng đắc Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả và Niết- bàn, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh Nhập-lưu.

    8- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh Nhất-lai, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh Nhập-lưu đang thực-hành pháp-hành thiền-tuệ ...

    9- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh Nhất-lai đang thực-hành pháp-hành thiền-tuệ để chứng đắc Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh Nhất-lai.

    10- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh Bất-lai, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh Nhất-lai đang thực- hành pháp-hành thiền-tuệ ...

    11- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh Bất-lai đang thực-hành pháp-hành thiền-tuệ để chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả và Niết-bàn, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh Bất-lai.

    12- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến bậc Thánh A-ra-hán, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh-Bất-lai đang thực-hành pháp-hành thiền-tuệ ...

    13- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Đức- Phật Độc-Giác hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến bậc Thánh A-ra-hán.

    14- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Đức- Phật Chánh-Đẳng-Giác, hưởng được 5 quả báu vô số kiếp nhiều hơn cúng dường đến Đức-Phật Độc-Giác.

    * Chư tỳ-khưu-Tăng-thí (Saṃghikadāna) (3)

    Thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến chư tỳ-khưu-Tăng thọ-thí (saṃghikadāna) có 7 trường-hợp, có quả báu từ cao đến thấp theo tuần tự như sau:

    1- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư tỳ- khưu-Tăng và chư tỳ-khưu-ni-Tăng có Đức-Phật chủ trì.

    2- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư tỳ- khưu-Tăng và chư tỳ-khưu-ni-Tăng, sau khi Đức-Phật đã tịch diệt Niết Bàn.

    3- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư tỳ- khưu-Tăng.

    4- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư tỳ- khưu-ni-Tăng.

    5- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến một số tỳ- khưu-Tăng và một số tỳ-khưu-ni-Tăng.

    6- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến một số tỳ- khưu-Tăng.

    7- Tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến một số tỳ- khưu-ni-Tăng.

    Thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư tỳ-khưu-Tăng chắc chắn có phước-thiện cao quý vô lượng, có quả báu cao quý vô lượng trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai, đặc biệt làm nhân-duyên hỗ trợ cho các pháp-hạnh ba-la-mật được thành tựu, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.

    Thí-chủ với người thọ-thí

    Thí-chủ với bậc thọ-thí có 4 trường hợp: (4)

    1- Thí-chủ có giới-đức trong sạch với người thọ-thí không có giới:

    Nếu thí-chủ là người có giới-đức trong sạch, hành thiện-pháp, tạo phước-thiện bố-thí đến người thọ-thí không có giới, hành ác-pháp, thì được phước-thiện bố- thí nhiều, có quả báu nhiều.

    Như trường hợp Đức-vua Bồ-Tát Vessantara tạo phước-thiện bố-thí hoàng-tử Jāli và công-chúa Kaṇhājinā đến bà-la-môn Jūjaka không có giới, hành ác-pháp. Ngay khi ấy, do năng lực của pháp-hạnh bố-thí ba-la-mật làm cho mặt đất rung chuyển, toàn thể chư thiên hoan-hỷ đồng thanh tán dương ca tụng pháp-hạnh bố-thí ba-la-mật ấy của Đức-vua Bồ-Tát Vessantara.

    2- Thí-chủ không có giới với người thọ-thí có giới- đức trong sạch, hành thiện-pháp:

    Nếu thí-chủ là người không có giới, hành ác-pháp, tạo phước-thiện bố-thí đến người thọ-thí có giới-đức trong sạch, hành thiện-pháp, thì có được phước-thiện không nhiều, có quả báu không nhiều.

    Như trường hợp ngư dân ở bên bờ sông Kalyāṇanadī, tạo phước-thiện bố-thí cúng dường ba lần đến Ngài Trưởng-lão Dīghasoma có giới-đức.

    Ngư dân đến lúc lâm chung, phước-thiện bố-thí cúng dường ấy hiện ra, ngư dân nói rằng: “Nhờ phước-thiện bố-thí cúng dường đến Ngài Trưởng-lão Dīghasoma nâng đỡ tôi lên cõi trời.”

    3- Thí-chủ không có giới và người thọ-thí cũng không có giới:

    Nếu thí-chủ là người không có giới, hành ác-pháp, tạo phước-thiện bố-thí đến người thọ-thí cũng không có giới, hành ác-pháp, thì được phước-thiện không đáng kể.

    Như trường hợp người thợ săn thú rừng tạo phước-thiện bố-thí đến vị tỳ-khưu phá-giới (dussīla) đến ba lần. Mỗi lần đều hồi-hướng phần phước-thiện ít ỏi ấy đến thân quyến đã quá vãng là hạng chúng-sinh ngạ-quỷ, nhưng ngạ-quỷ ấy than vãn rằng: “Tỳ-khưu phá-giới ấy đã phá hoại phước-thiện của ta rồi!”

    Về sau, người thợ săn tạo phước-thiện bố-thí đến vị tỳ-khưu có giới-đức trong sạch, hành thiện-pháp, rồi hồi-hướng phần phước-thiện ấy đến thân quyến là ngạ- quỷ ấy. Khi ngạ-quỷ ấy hoan-hỷ thọ nhận phần phước- thiện ấy nên được thoát khỏi kiếp ngạ-quỷ, được tái-sinh lên cõi thiện-giới ngay khi ấy.

    4- Thí-chủ có giới-đức trong sạch, hành thiện-pháp và người thọ-thí cũng có giới-đức trong sạch, hành thiện-pháp:

    Nếu thí-chủ là người có giới-đức trong sạch, hành thiện-pháp, tạo phước-thiện bố-thí đến Bậc có giới-đức trong sạch, có thiện-pháp cao thượng, thì chắc chắn được phước-thiện bố-thí lớn lao vô lượng cho mình, rồi hồi- hướng đến tất cả thân bằng quyến thuộc cùng tất cả chúng-sinh trong muôn loài cũng đều được phước-thiện vô lượng.

    (Tóm lược từ bài Kinh Dakkhiṇāvibhaṅgasutta.)

    PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ CÚNG DƯỜNG TẤM CHOÀNG

    Tích Bà-la-môn Cūḷekasāṭaka (5)

    Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthi, đề cập đến tích Bà-la- môn tên Cūḷekasāṭaka. Tích này được tóm lược như sau:

    * Trong quá khứ, thời-kỳ Đức-Phật Vipassī xuất hiện trên thế gian. Có một Bà-la-môn tên là Mahā Ekasāṭaka.

    * Trong thời hiện-tại, thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, có một vị bà-la-môn khác có tên là Cūḷekasāṭaka sống tại kinh-thành Sāvatthi.

    Sở dĩ ông bà-la-môn có tên Cūḷekasāṭaka là vì 2 vợ chồng bà-la-môn chỉ có một tấm choàng trên người duy nhất mà thôi. Hằng ngày, nếu khi ông chồng đi ra ngoài thì ông mặc tấm choàng này, bà vợ ở trong nhà, và nếu khi bà vợ đi ra ngoài thì bà mặc tấm choàng này, ông chồng phải ở trong nhà.

    Một hôm, nghe thông báo dân chúng trong kinh-thành Sāvatthi đi nghe Đức-Phật thuyết-pháp tại ngôi chùa Jetavana, ông bà-la-môn bảo với người vợ rằng:

    - Này em! Họ thông báo dân chúng đi nghe-pháp. Hai vợ chồng chúng ta chỉ có một tấm choàng trên người duy nhất, nên không thể cùng đi chung với nhau được. Vậy, em đi nghe-pháp ban ngày hay ban đêm?

    Nghe chồng hỏi vậy, nên bà vợ thưa rằng:

    - Thưa anh, em xin đi nghe-pháp ban ngày, còn anh nên đi nghe-pháp ban đêm.

    Bà vợ mặc tấm choàng trên thân mình đi đến ngôi chùa Jetavana, nghe Đức-Phật thuyết-pháp ban ngày.

    Ông chồng ở lại trong nhà cả ngày. Buổi chiều, sau khi nghe-pháp xong, bà vợ trở về nhà.

    Ông Bà-la-môn muốn cúng dường tấm choàng

    Ông bà-la-môn mặc tấm choàng trên người đi đến ngôi chùa Jetavana ban đêm. Đến ngồi gần Đức-Phật, ông bà-la-môn chú tâm lắng nghe Đức-Phật thuyết-pháp.

    Khi ấy, 5 pháp hỷ-lạc (6) phát sinh làm cho toàn thân tâm của ông bà-la-môn có cảm giác an-lạc chưa từng có bao giờ. Ông bà-la-môn phát sinh đại-thiện-tâm có đức- tin trong sạch nơi Đức-Phật, ông muốn cúng dường lên Đức-Phật tấm choàng đang mặc trên mình, nhưng tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng phát sinh, bởi vì ông bà-la-môn nghĩ lại rằng:

    “Nếu bây giờ ta cúng dường tấm choàng này lên Đức- Phật thì vợ ta sẽ không có mặc và ta cũng không có mặc.”

    Khi ấy, tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng phát sinh trong ông bà-la-môn, rồi đại-thiện-tâm phát sinh có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật, ông bà-la-môn lại muốn cúng dường tấm choàng này lên Đức-Phật, rồi tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng phát sinh trở lại làm cản trở đức-tin trong sạch muốn cúng dường tấm choàng lên Đức-Phật.

    Vì vậy, khi thì đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch phát sinh muốn cúng dường tấm choàng lên Đức-Phật, khi thì tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng phát sinh không muốn cúng dường tấm choàng lên Đức-Phật.

    Như vậy, đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch muốn cúng dường tấm choàng lên Đức-Phật với tham-tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng phát sinh ngăn cản.

    Giữa đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch với tham- tâm bủn xỉn keo kiệt giằng co kéo dài trải qua canh đầu đêm, đến canh giữa đêm, cuộc chiến đấu giằng co giữa 2 tâm là đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch với tham-tâm bủn xỉn keo kiệt ấy vẫn chưa phân thắng bại.

    Thắng tâm keo kiệt bằng đức-tin trong sạch

    Đến canh chót đêm, ông bà-la-môn suy xét rằng:

    “Cuộc chiến giằng co giữa đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật với ác-tâm là tham-tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng đã kéo dài trải qua hai canh rồi. Nếu ta không thắng được tham-tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng này thì kiếp sống của ta không thể thoát khỏi 4 cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), chịu quả khổ trong cõi ác-giới ấy.

    Vậy, ta phải quyết tâm chiến thắng tham-tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng này!”

    Sau khi quyết tâm như vậy, nên chế ngự được tham- tâm bủn xỉn keo kiệt trong tấm choàng, làm cho phát sinh đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch nhiều năng lực nơi Đức-Phật, nên ông bà-la-môn liền cởi tấm choàng trên người, hai tay nâng tấm choàng cung-kính đến cúng dường lên Đức-Phật, ông đặt gần dưới hai bàn chân của Đức-Phật, rồi ông sung sướng reo lên ba lần:

    “Jitaṃ me! Jitaṃ me! Jitaṃ me!”

    - Tôi đã thắng rồi! Tôi đã thắng rồi! Tôi đã thắng rồi!

    Phước-thiện bố-thí cho quả hiện-tại

    Đức-vua Pasenadi Kosala đang ngồi nghe-pháp, nghe ông bà-la-môn reo lên ba lần như vậy, nên truyền bảo vị quan đến hỏi ông bà-la-môn ấy rằng:

    “Ông đã thắng ai vậy?”

    Tuân lệnh Đức-vua, vị quan đến hỏi ông Bà-la-môn.

    - Này ông bà-la-môn! Ông đã thắng ai vậy?

    Ông bà-la-môn thưa với vị quan đầy đủ sự việc xảy ra diễn tiến suốt ba canh theo tuần tự như vậy. Vị quan đến tâu lên Đức-vua Pasenadi Kosala đầy đủ về sự việc xảy ra đối với ông bà-la-môn như vậy.

    Nghe vị quan tâu như vậy, Đức-vua Pasenadi Kosala nghĩ rằng: “Ông bà-la-môn ấy đã làm điều mà người khác khó làm được. Vậy, ta nên tế độ ông bà-la-môn ấy.”

    Đức-vua truyền bảo vị quan đem 2 tấm choàng mới ban cho ông bà-la-môn ấy.

    Sau khi nhận được 2 tấm choàng mới của Đức-vua ban, ông bà-la-môn đem 2 tấm choàng mới ấy cúng dường lên Đức-Phật.

    Thấy ông bà-la-môn cúng-dường 2 tấm choàng mới lên Đức-Phật như vậy, nên Đức-vua Pasenadi Kosala truyền bảo vị quan đem ban cho ông bà-la-môn ấy 4 tấm choàng mới khác.

    Sau khi nhận được 4 tấm choàng mới của Đức-vua ban, ông bà-la-môn đem 4 tấm choàng mới ấy cúng dường lên Đức-Phật.

    Thấy ông bà-la-môn cúng-dường 4 tấm choàng mới lên Đức-Phật như vậy, nên Đức-vua Pasenadi Kosala truyền bảo vị quan đem ban cho ông bà-la-môn ấy 8 tấm choàng mới khác.

    Cứ mỗi lần Đức-vua ban tấm choàng mới tăng gấp đôi, và sau khi ông bà-la-môn nhận được gấp đôi là 16 tấm choàng mới, 32 tấm choàng mới, ông bà-la-môn đem 32 tấm choàng mới ấy cúng dường lên Đức-Phật.

    Đức-vua truyền bảo vị quan đem 64 tấm choàng ban cho ông bà-la-môn ấy nữa.

    Ông Bà-la-môn muốn tránh tiếng rằng: “Ông Bà-la- môn có được bao nhiêu tấm choàng của Đức-vua ban đều tạo phước-thiện bố-thí đến Đức-Phật cả thảy, không để lại cho phần của mình.”

    Vì vậy, ông bà-la-môn lấy riêng ra 4 tấm choàng: Phần của mình 2 tấm choàng và vợ 2 tấm choàng. Còn lại 60 tấm choàng, ông Bà-la-môn đem cúng dường đến Đức-Phật.

    * Trong thời quá khứ, ông bà-la-môn Mahā Ekasāṭaka cúng dường đến Đức-Phật quá khứ 7 lần, lấy 4 tấm choàng trong 128 tấm choàng.

    * Trong thời hiện-tại, ông bà-la-môn tên Cūḷekasāṭaka cúng dường đến Đức-Phật 7 lần, lấy 4 tấm choàng trong 64 tấm choàng.

    Đức-vua Pasenadi Kosala truyền bảo các quan rằng:

    - Này các khanh! Ông bà-la-môn này đã làm những điều mà người khác khó làm được. Vậy, các khanh hãy đem 2 tấm kambala dệt bằng các lông thú trong cung điện của Trẫm đến đây.

    Tuân theo lệnh của Đức-vua, các quan đem 2 tấm kambala có giá 100 ngàn đồng kahāpaṇa, ban cho ông bà-la-môn ấy.

    Sau khi nhận 2 tấm kambala ấy, ông bà-la-môn nghĩ rằng: “Hai tấm kambala này thật là vô giá chỉ có xứng đáng với Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác và chư Đại-đức- Tăng mà thôi. Vậy, ta nên đem cúng dường đến Đức- Phật.”

    Ông Bà-la-môn đem 1 tấm kambala đến Gandhakuṭi, làm trần che phía trên chỗ giường nằm cúng dường đến Đức-Phật. Còn lại 1 tấm kambala, ông làm trần che phía trên chỗ vị tỳ-khưu ngồi độ vật thực trong nhà của ông.

    Buổi chiều hôm ấy, Đức-vua Pasenadi Kosala ngự đến hầu đảnh lễ Đức-Phật tại Gandhakuṭi, nhìn lên trần, thấy tấm kambala, Đức-vua nhớ tấm kambala ấy, nên bạch với Đức-Thế-Tôn rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, ai là người làm trần nhà bằng tấm kambala này cúng dường đến Ngài?

    Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

    - Này Đại-Vương! Bà-la-môn tên Cūḷekasāṭaka làm cúng dường đến Như-Lai.

    Đức-vua Pasenadi Kosala nghĩ rằng: “Ông Bà-la-môn này tôn kính Đức-Thế-Tôn giống như ta tôn kính.”

    Đức-vua Pasenadi Kosala truyền lệnh ban cho ông bà- la-môn một trăm thứ mà mỗi thứ có 4 như sau:

    4 con voi, 4 con ngựa, 4 người đàn bà, 4 người đàn ông, 4 tớ trai, 4 tớ gái, 4 xóm làng để thâu thuế, 4000 Kahāpaṇa, v.v...

    Phước-thiện làm mau có quả hơn làm chậm

    Chư tỳ-khưu đàm đạo tại hội trường rằng: “Phước-thiện của ông bà-la-môn Cūḷekasāṭaka thật là phi thường! Chỉ có trong thời gian ngắn, phước-thiện ấy cho quả tất cả mọi thứ mà mỗi thứ có 4. Phước-thiện của ông tạo nơi Đức-Thế-Tôn, nên cho quả báu ngay trong ngày hôm ấy.”

    Khi ấy, Đức-Thế-Tôn ngự đến hội trường, truyền hỏi chư tỳ-khưu rằng:

    - Này chư tỳ-khưu! Các con đang ngồi đàm đạo về chuyện gì vậy?

    Chư tỳ-khưu bạch với Đức-Thế-Tôn về chuyện ông bà-la-môn Cūḷekasāṭaka tạo phước-thiện bố-thí và quả báu của phước-thiện như vậy.

    Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

    - Này chư tỳ-khưu! Nếu bà-la-môn Cūḷekasāṭaka ấy có khả năng cúng dường đến Như-Lai trong canh đầu đêm thì ông sẽ được tất cả mọi thứ mà mỗi thứ có 16.

    Nếu bà-la-môn ấy có khả năng cúng dường đến Như- Lai trong canh giữa đêm thì ông sẽ được tất cả mọi thứ mà mỗi thứ có 8.

    Nhưng hai canh đã trải qua, ông bà-la-môn ấy không có khả năng cúng dường được, mãi cho đến canh chót, ông mới cúng dường đến Như-Lai, nên ông được tất cả mọi thứ mà mỗi thứ chỉ có 4 mà thôi.

    Thật vậy, khi nào đại-thiện-tâm phát sinh muốn tạo phước-thiện, thì thí-chủ nên làm ngay khi ấy, không nên để đại-thiện-tâm ấy diệt mất.

    Nếu thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí chậm chạp thì có được quả báu chậm chạp và bị giảm sút.

    Cho nên, nếu thí-chủ phát sinh đại-thiện-tâm muốn tạo phước-thiện bố-thí thì nên làm ngay tức khắc khi ấy, nếu để chậm chạp thì tham-tâm bủn xỉn keo kiệt dễ phát sinh làm ngăn cản việc tạo phước-thiện bố-thí ấy.

    Đức-Phật thuyết dhammapadagāthā thứ 116 rằng:

    “Abhittharetha kalyāṇe, pāpā cittaṃ nivāraye. Dandhaṃ hi karato puññaṃ, pāpasmiṃ ramatī mano.”

    Các con nên mau chóng tạo phước-thiện, mới ngăn cản được ác-tâm tội lỗi.
    Khi các con chậm chạp tạo phước-thiện, thì ác-tâm có cơ hội phát sinh.

    Ác-tâm thường thỏa thích trong tội lỗi.

    Để mọi phước-thiện tăng trưởng nhiều, quả báu của phước-thiện vô lượng, khi thí-chủ phát sinh đại-thiện- tâm có đức-tin trong sạch trong mỗi phước-thiện, nên mau lẹ tạo phước-thiện, không nên chần chừ, do dự, không để cho ác-tâm có cơ hội phát sinh làm cản trở phước-thiện ấy, thí-chủ nên nghĩ rằng:

    “Ahaṃ pure! Ahaṃ pure!”

    - Ta là người trước tiên! Ta là người trước tiên!

    Sau khi thuyết pháp xong, Đức-Thế-Tôn thuyết về tứ Thánh-đế tế độ chư tỳ-khưu. Khi ấy, có nhiều vị chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh- quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-nhân tùy theo các pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ (indriya): tín-pháp- chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ- pháp-chủ của mỗi vị thanh-văn đệ-tử.

    Sự thật, nếu thí-chủ nào là người có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, có cơ hội tạo phước-thiện bố-thí, thì đó là dịp may đối với thí- chủ ấy, bởi vì thí-chủ có nhận thức đúng đắn rằng:

    “Tiền của chỉ là của chung thật sự mà thôi, nay ta đang có quyền sở hữu tạm thời tiền của ấy, nếu ta biết sử dụng tiền của tạm thời ấy đem tạo phước-thiện bố-thí, thì chính phước-thiện ấy thuộc về đại-thiện-nghiệp trở thành của riêng ta, có tính chất vĩnh cửu đối với ta. Chính đại-thiện-nghiệp bố-thí ấy sẽ cho quả an-lạc trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.”

    PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ VẬT THỰC

    Tích Bhikkhādāyakavimāna (7)

    Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Veḷuvana gần kinh-thành Rājagaha. Khi ấy, một vị tỳ- khưu đi đường xa vất vả, đang đói, đi vào khất thực trong một xóm nhà, đến đứng trước cổng một ngôi nhà.

    Trong nhà ấy, một người đàn ông đã rửa tay sạch sẽ, rồi ngồi xuống chỗ ngồi để dùng bữa ăn, các thức ăn đã bỏ vào trong đĩa xong, người đàn ông ấy nhìn ra trước cổng, thấy vị tỳ-khưu đứng khất thực, ông vô cùng hoan- hỷ, đem đĩa cơm gồm có các thức ăn đi ra trước cổng, hoan-hỷ cung-kính cúng dường đặt hết đĩa cơm cùng các thức ăn vào trong bình bát của vị tỳ-khưu ấy.

    Mặc dù vị tỳ-khưu ấy bảo cận-sự-nam để trong bát của Ngài một phần, phần còn lại để ông dùng, nhưng ông cận-sự-nam vẫn đặt hết phần ăn của mình vào trong bát của Ngài. Vị tỳ-khưu tụng kinh chúc phúc lành đến cận-sự-nam, rồi từ giã.

    Người thí-chủ vô cùng hoan-hỷ niệm tưởng rằng:

    “Hôm nay, ta thật vô cùng hạnh phúc có được một vị tỳ-khưu đến nhà khất thực. Ta không dùng phần ăn của ta, mà đã đem tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến vị tỳ-khưu đang đói, rất cần vật thực.”

    Sau khi niệm tưởng như vậy, thí-chủ phát sinh hỷ lạc chưa từng có.

    Về sau, sau khi thí-chủ ấy chết, đại-thiện-nghiệp tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến vị tỳ-khưu ấy cho quả tái-sinh làm vị thiên-nam trong lâu đài bằng vàng cao 12 do tuần trên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy.

    Một hôm, Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna bay lên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên, gặp vị thiên nam có nhiều oai lực ấy, Ngài Đại-Trưởng-lão bèn hỏi rằng:

    - Này vị thiên-nam! Ngươi có lâu đài bằng vàng cao 12 do tuần, có 700 phòng lớn, các cột toàn bằng ngọc bích quý, lót bằng tấm thảm lộng lẫy. Ngươi có phép- thần-thông, có nhiều oai lực, các thiên-nữ xinh đẹp đờn ca múa hát quanh ngươi.

    - Này vị thiên-nam! Tiền-kiếp của ngươi sinh cõi người đã tạo phước-thiện gì, mà kiếp hiện tại sinh làm thiên-nam có nhiều oai lực, có ánh sáng hào quang tỏa khắp mọi phương hướng như vậy.

    Nghe Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna hỏi như vậy, vị thiên-nam vô cùng hoan-hỷ bạch với Ngài Đại- Trưởng-lão về phước-thiện và quả của phước-thiện của mình rằng:

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, tiền-kiếp của con sinh làm người thấy một vị tỳ-khưu đang đói đến đứng khất thực trước cổng nhà con. Khi ấy, con vô cùng hoan- hỷ đem phần ăn của con tạo phước-thiện bố-thí cung- kính cúng dường đặt bát đến vị tỳ-khưu ấy.

    Sau khi con chết, nhờ phước-thiện bố-thí cung-kính cúng dường vật thực đến vị tỳ-khưu ấy cho quả hóa-sinh làm vị thiên-nam trên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên này, con hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời, có hào quang sáng ngời tỏa ra mọi phương hướng như Ngài Đại- Trưởng-lão đã thấy.

    Nghe vị thiên-nam bạch như vậy, Ngài Đại-Trưởng- lão Mahāmoggallāna thuyết-pháp tế độ vị thiên-nam ấy cùng với nhóm thiên-nữ thuộc hạ của y, rồi Ngài Đại- Trưởng-lão trở về cõi người.

    PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ CHỖ Ở

    Tích Ambavimāna (8)

    Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthi. Khi ấy, một cận-sự-nữ trong kinh-thành Sāvatthi, nghe pháp rằng: “Phước-thiện bố-thí cúng dường chỗ ở có phước-thiện vô lượng, có quả báu nhiều vô lượng.”

    Người cận-sự-nữ phát sinh đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch muốn cúng dường chỗ ở đến chư tỳ-khưu- Tăng, nên đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn bạch rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con có nguyện vọng muốn xây dựng một ngôi chùa, để cúng dường đến chư tỳ- khưu-Tăng. Kính xin Đức-Thế-Tôn chỉ chỗ cho con.

    Nghe người cận-sự-nữ bạch như vậy, Đức-Thế-Tôn truyền bảo tỳ-khưu chỉ chỗ thích hợp cho cận-sự-nữ ấy.

    Được chư tỳ-khưu chỉ chỗ, người cận-sự-nữ thuê thợ xây dựng một ngôi chùa rất xinh đẹp, rồi cho người trồng các cây xoài xung quanh ngôi chùa ấy.

    Sau khi xây dựng ngôi chùa, trồng các cây xoài xung quanh chùa cho bóng mát và cho quả, người cận-sự-nữ cho người trang hoàng ngôi chùa rất lộng lẫy, lấy những tấm vải mới bao quanh các gốc cây xoài, làm nền sạch sẽ xung quanh ngôi chùa để chuẩn bị làm đại lễ phước- thiện bố-thí cúng dường ngôi chùa ấy.

    Mọi công việc được chuẩn bị sẵn sàng, người cận-sự- nữ vô cùng hoan-hỷ kính thỉnh chư Đại-đức tỳ-khưu- Tăng Thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật đến để làm đại lễ phước-thiện bố-thí cúng dường ngôi chùa ấy một cách rất trọng thể đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng tứ phương.

    Sau khi làm đại lễ cúng dường ngôi chùa xong, người cận-sự-nữ vô cùng hoan-hỷ đã thành tựu được nguyện vọng của mình.

    Về sau, sau khi người cận-sự-nữ chết, phước-thiện bố-thí cúng dường ngôi chùa ấy cho quả hóa-sinh làm vị thiên-nữ trên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên, trong lâu đài đồ sộ nguy nga tráng lệ, nằm giữa vườn xoài, có nhóm đông thiên-nữ hầu hạ đờn ca múa hát. Vị thiên-nữ có nhiều oai lực, hưởng mọi sự an-lạc trên cõi trời ấy.

    Một hôm, Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna bay lên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên, gặp vị thiên-nữ ấy, Ngài Đại-Trưởng-lão bèn hỏi rằng:

    - Này thiên-nữ! Vườn xoài trời của cô thật là ngoạn mục, trong vườn xoài có lâu đài đồ sộ nguy nga tráng lệ, có các tiếng đàn phát ra đường dương, từng đoàn thiên- nữ ca hát nhảy múa. Trong lâu đài có ngọn đèn lớn bằng ngọc phát ra ánh sáng ngời, xung quanh lâu đài của cô có nhiều loại cây luôn luôn cho quả thơm ngon.

    - Này thiên nữ! Tiền-kiếp của cô sinh làm người, cô đã tạo phước-thiện như thế nào mà nay kiếp hiện tại sinh làm vị thiên-nữ có nhiều oai lực, có thân hình xinh đẹp có đầy đủ mọi thứ quý giá, có hào quang sáng ngời tỏa ra khắp mọi phương hướng như vậy?

    Nghe Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna hỏi như vậy, vị thiên-nữ vô cùng hoan-hỷ bạch với Ngài Đại- Trưởng-lão về phước-thiện bố-thí của mình như sau:

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, khi tiền-kiếp của con sinh làm người trong cõi người, con có đức-tin trong sạch nơi Tam-Bảo, cho xây dựng một ngôi chùa, có trồng các cây xoài xung quanh chùa.

    Sau khi xây dựng ngôi chùa xong, để chuẩn bị khánh thành ngôi chùa, và làm đại lễ dâng cúng dường ngôi chùa đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng.

    Con bảo mọi người lấy vải mới bao xung quanh các gốc cây xoài, đốt đèn sáng xung quanh chùa.

    Con kính thỉnh chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng Thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật đến ngôi chùa, con tạo phước-thiện bố-thí cúng dường vật thực đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng. Sau đó, con vô cùng hoan-hỷ làm đại lễ phước- thiện bố-thí cúng dường ngôi chùa đến chư Đại-đức tỳ- khưu-Tăng tứ phương.

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, tiền-kiếp của con đã tạo phước-thiện bố-thí như vậy, nên kiếp hiện-tại này con có vườn xoài rất ngoạn mục, trong vườn xoài có lâu đài đồ sộ nguy nga tráng lệ, có các tiếng đàn phát ra du dương, có từng đoàn thiên-nữ ca hát nhảy múa.

    Trong lâu đài có ngọn đèn lớn bằng ngọc phát ra ánh sáng ngời, xung quanh lâu đài có nhiều loại cây luôn luôn cho quả thơm ngon.

    Đó là quả báu của phước-thiện bố-thí ấy. Con có được sắc đẹp như thế này, có hào quang sáng ngời toả ra khắp mọi nơi, có đầy đủ mọi sự an-lạc như thế này cũng đều do quả của phước-thiện bố-thí ấy.

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, tiền-kiếp của con ở cõi người đã tạo phước-thiện bố-thí như vậy, nên kiếp hiện-tại này con là thiên-nữ có nhiều oai lực, có ánh sáng hào quang sáng ngời tỏa ra khắp mọi phương hướng trong cõi trời Tam-thập-Tam-thiên này.

    PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ CỐC LÁ

    Tích Ngài Trưởng-Lão Kuṭidāyakatthera

    Ngài Trưởng-lão Kuṭidāyaka(9)thuật lại chuyện tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão tạo phước-thiện bố-thí cúng dường cốc lá đến Đức-Phật Vipassī được tóm lược như sau:

    Một thuở nọ, Đức-Phật Vipassī (10) ngự vào trong rừng ngồi dưới cội cây. Khi ấy, tôi làm một cốc lá xong, rồi làm lễ cúng dường cốc lá ấy đến Đức-Phật Vipassī.

    Thời-kỳ Đức-Phật Vipassī trong kiếp trái đất thứ 91, kể từ kiếp trái đất này, do năng lực phước-thiện bố-thí cúng dường cốc lá ấy đến Đức-Phật Vipassī, mà những tiền-kiếp tử sinh luân-hồi của tôi không hề sinh trong 4 cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), chính nhờ đại-thiện-nghiệp ấy chỉ cho quả tái-sinh trong các cõi thiện-giới là cõi người và cõi trời dục-giới mà thôi.

    Trong kiếp trái đất thứ 38, kể từ kiếp trái đất này, tôi làm Đức-vua Chuyển-luân Thánh-vương 16 lần có danh hiệu là Sabbattha Abhivassī.

    Trong thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, tôi đã xuất gia trở thành tỳ-khưu tên là Kuṭidāyaka thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán cùng với tứ tuệ-phân-tích, bát-pháp giải-thoát, lục-thông.

    Tôi đã thực-hành đúng theo lời giáo huấn của Đức- Phật, đã hoàn thành xong phận sự của bậc xuất-gia trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama.

    PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ THUỐC TRỊ BỆNH

    Tích Ngài Trưởng-lão Bākula (11)

    Ngài Trưởng-lão có tên Bākula bởi Ngài trưởng thành trong 2 gia đình phú hộ. Tích này được tóm lược như sau:

    Trong thời quá khứ, tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula sinh trong gia đình dòng dõi bà-la-môn, trước khi Đức-Phật Anomadassī xuất hiện trên thế gian.

    Khi trưởng thành, tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão theo học các bộ môn truyền thống bà-la-môn, nhưng Ngài nhận xét thấy không có lợi ích gì trong những bộ môn ấy, nên Ngài từ bỏ nhà đi xuất gia trở thành đạo-sĩ thực- hành pháp-hành thiền-định, dẫn đến chứng đắc 8 bậc thiền là 4 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới, và chứng đắc 5 phép-thần-thông tam-giới.

    Về sau, nghe tin Đức-Phật Anomadassī(12) đã xuất hiện trên thế gian, đạo-sĩ tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula đến hầu đảnh lễ Đức-Phật Anomadassī, rồi nghe Đức-Phật thuyết-pháp. Sau khi nghe-pháp xong, đạo-sĩ vô cùng hoan-hỷ xin quy-y nương nhờ nơi Đức-Phật- bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo cho đến trọn đời trọn kiếp, vẫn giữ hình thức đạo-sĩ của mình, vẫn thường đến nghe Đức-Phật Anomadassī thuyết-pháp.

    Dâng thuốc trị bệnh đến Đức-Phật Anomadassī

    Một thuở nọ, Đức-Phật Anomadassī bị lâm bệnh gió trong bụng. Khi ấy, vị đạo-sĩ đến hầu Đức-Phật Anoma- dassī, gặp vị tỳ-khưu cho biết Đức-Phật bị lâm bệnh gió trong bụng, nên vị đạo-sĩ nghĩ rằng: “Đây là cơ hội tốt cho ta tạo phước-thiện bố-thí thuốc trị bệnh đến Đức- Phật Anomadassī.”

    Vị đạo-sĩ bay đến sườn núi tìm những cây thuốc đem về dâng vị tỳ-khưu thường phụng sự Đức-Phật, vị đạo-sĩ dặn dò vị tỳ-khưu cách nấu thuốc như vậy, rồi kính dâng đến Đức-Phật Anomadassī dùng thuốc này, hy vọng sẽ khỏi bệnh.

    Thật vậy, sau khi dùng thuốc của vị đạo-sĩ, Đức-Phật Anomadassī khỏi bệnh gió trong bụng, sức khỏe trở lại bình thường. Khi ấy, vị đạo-sĩ đến hầu đảnh lễ Đức-Phật Anomadassī, rồi ngồi một nơi hợp lẽ, rồi bạch rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con đã tạo phước-thiện bố-thí cúng dường thuốc trị bệnh đến Đức-Thế-Tôn khỏi bệnh. Do nhờ phước-thiện bố-thí cúng dường thuốc trị bệnh này, cầu mong cho con là người ít bệnh hoạn ốm đau suốt trong mọi kiếp còn tử sinh luân-hồi.

    Sau khi vị đạo-sĩ chết, vô-sắc-giới thiện-nghiệp cho quả tái-sinh hóa-sinh làm phạm-thiên trên tầng trời vô- sắc-giới phạm-thiên.

    Sau khi hết tuổi thọ trên tầng trời vô-sắc-giới phạm- thiên ấy, tử sinh luân-hồi trong cõi người và các cõi trời trải qua suốt 1 a-tăng-kỳ.

    Phát nguyện trở thành tỳ-khưu ít bệnh nhất

    * Đến thời-kỳ Đức-Phật Padumuttara (13) xuất hiện trên thế gian, tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula sinh trong một gia đình tại kinh-thành Haṃsavatī. Tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula đến hầu đảnh lễ Đức-Phật Padumuttara, rồi ngồi lắng nghe Đức-Phật thuyết-pháp.

    Khi ấy, Đức-Phật Padumuttara tuyên dương một tỳ- khưu có ít bệnh nhất trong hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật.

    Thấy vị tỳ-khưu ấy như vậy, nên tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão phát nguyện muốn trở thành vị tỳ-khưu có ít bệnh nhất trong hàng Thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật trong thời-kỳ vị-lai. Và được Đức-Phật Padumuttara thọ ký xác định thời gian còn lại 100 ngàn đại-kiếp trái đất nữa, đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama sẽ xuất hiện trên thế gian. Khi ấy, tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão sẽ được thành tựu như ý.

    Sau khi được Đức-Phật Padumuttara đã thọ ký, những tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula tử sinh luân-hồi trong cõi người và các cõi trời, cố gắng tinh-tấn không ngừng tạo 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc hạ cho sớm được đầy đủ trọn vẹn.

    * Trước khi Đức-Phật Vipassī xuất hiện trên thế gian, tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula sinh trong gia đình bà-la-môn trong kinh-thành Bandhumatī. Khi trưởng thành, Ngài từ bỏ nhà đi xuất gia trở thành đạo-sĩ trú tại chân núi, thực-hành pháp-hành thiền-định, dẫn đến chứng đắc các bậc thiền sắc-giới và các phép-thần- thông trong thế gian.

    Đến khi Đức-Phật Vipassī (14) đã xuất hiện trên thế gian, Đức-Phật Vipassī ngự cùng với nhóm 6.800.000 vị Đại-đức tỳ-khưu-Tăng đến kinh-thành Bandhumatī để tế độ Đức-Phụ-vương. Đức-Phật Vipassī ngự tại vườn phóng sinh nai Khema cùng với chư Đại-đức tỳ-khưu- Tăng ấy.

    Nghe tin Đức-Phật Vipassī đã xuất hiện trên thế gian, đang ngự tại vườn phóng sinh nai Khema, vị đạo-sĩ tiền- kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula đến hầu đảnh lễ Đức- Phật Vipassī, rồi nghe thuyết-pháp. Vị đạo-sĩ phát sinh đức-tin trong sạch xin quy-y nương nhờ nơi Đức-Phật- bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, vẫn giữ hình thức đạo-sĩ của mình, thường đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, rồi nghe-pháp.

    Dâng thuốc trị bệnh đến chư tỳ-khưu

    Một thời nọ, ngoài Đức-Phật Vipassī và 2 Ngài Tối- thượng Thanh-văn ra, còn lại tất cả chư Đại-đức tỳ- khưu-Tăng đều bị mắc bệnh nhức đầu, bởi vì hít mùi hoa độc của những cây trong rừng núi Himavanta đang nở rộ.

    Khi ấy, vị đạo-sĩ tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula đến hầu đảnh lễ Đức-Phật Vipassī, biết chư Đại- đức tỳ-khưu-Tăng bị mắc bệnh đau đầu như vậy, nên nghĩ rằng: “Đây là cơ hội tốt của ta tạo phước-thiện bố- thí thuốc trị bệnh đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng.”

    Vị đạo-sĩ dùng oai lực phép thần thông bay đi tìm các thứ cây thuốc đem về làm thành thuốc, rồi đem đến tạo phước-thiện bố-thí cúng dường thuốc trị bệnh đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng. Sau khi dùng thuốc, tất cả chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng đều khỏi bệnh ngay.

    Sau khi vị đạo-sĩ tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula chết, sắc-giới thiện-nghiệp cho quả tái-sinh hóa- sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới phạm- thiên. Khi hết tuổi thọ trên tầng trời sắc-giới phạm-thiên ấy, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh trong cõi người và các cõi trời, trải qua 91 đại-kiếp trái đất.

    * Đến thời-kỳ Đức-Phật Kassapa xuất hiện trên thế gian, khi ấy, tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão là người dân sinh sống trong căn nhà cũ tại kinh-thành Bārāṇasī.

    Một hôm, ông nghĩ rằng: “Căn nhà của ta đã cũ, bị hư hỏng không ở được nữa. Vậy, ta nên gọi nhóm thợ cùng ta đi vào rừng sâu tìm cây gỗ, lá, v.v... đem về làm lại căn nhà mới.”

    Sau khi nghĩ như vậy, ông dẫn nhóm thợ vào rừng, trên đường đi, ông nhìn thấy ngôi chánh-điện Sīmā nơi hành các tăng sự Saṃghakamma của chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng đã bị hư hỏng, dột nát, và các chỗ ở của chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng cũng bị hư hỏng nhiều, nên ông nghĩ rằng: “Việc làm căn nhà mới của ta chưa cần thiết, bởi vì căn nhà không thể đi theo ta được, mà chỉ có phước-thiện mới có thể theo ta được mà thôi.

    Vậy, ta nên trùng tu lại ngôi chánh-điện Sīmā, và các chỗ ở, nhà ăn, ... để cúng dường đến chư Đại-đức tỳ- khưu-Tăng trước.”

    Ông dẫn nhóm thợ vào rừng sâu tìm cây gỗ, lá, v.v... đem về trùng tu lại ngôi chánh-điện Sīmā, nhà ăn, các chỗ ở của chư Đại-đức tỳ-khưu, nhà xông hơi cho tỳ- khưu bệnh, đặc biệt nhà thương dành cho những tỳ-khưu bệnh, và chuẩn bị các thứ thuốc trị bệnh dành cho chư tỳ-khưu bệnh, các nhà vệ sinh, v.v...

    Sau khi xây dựng xong, ông làm đại lễ phước-thiện bố-thí cúng dường dâng đến chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng trong thời-kỳ Đức-Phật Kassapa.

    Tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula cố gắng tinh- tấn tạo 10 pháp hạnh Ba-la-mật sớm được đầy đủ cho đến trọn đời, cho nên, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh trong các cõi trời, cõi người, trải qua khoảng thời gian từ Đức-Phật Kassapa đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thời gian.

    Kiếp chót của Ngài Trưởng-lão Bākula

    Sau khi tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula chết, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp chót đầu thai vào lòng bà vợ ông phú hộ tại kinh-thành Kosambī, trước thời-kỳ Đức-Phật Gotama chưa xuất hiện trên thế gian.

    Từ khi đầu thai vào lòng mẹ suốt 10 tháng, gia đình phú hộ phát sinh của cải quý báu nhiều vô kể, được Đức- vua ban thưởng tước cao quý.

    Tròn đủ 10 tháng, khi sinh ra đời, người mẹ của công- tử nghĩ rằng: “Công-tử của ta là một đứa con có phước lớn, ta muốn con của ta được khỏe mạnh, không có bệnh, được sống lâu.

    Vậy, ta nên bảo các nhũ mẫu ẵm con của ta đem xuống sông Yamunā làm lễ tắm gội đầu sau ngày sinh này thì con của ta sau này được khỏe mạnh, không có bệnh hoạn ốm đau, được sống lâu.”(15)

    Đứa trẻ bị con cá lớn nuốt vào bụng

    Các bà nhũ mẫu ẵm đứa trẻ đem xuống sông Yamunā để làm lễ tắm gội đầu đứa trẻ. Lúc đang làm lễ, một con cá lớn nhìn thấy đứa trẻ ấy, tưởng là miếng mồi, nó há mồm ra ngậm đứa trẻ nuốt vào bụng bơi đi nơi khác, mà các bà nhũ mẫu không sao cứu được.

    Đứa trẻ là bậc đại-phước kiếp chót, nên dù nằm trong bụng con cá cũng như nằm trong phòng ngủ sang trọng, không cảm thấy khổ chút nào cả.

    Do oai lực của 10 pháp-hạnh ba-la-mật kiếp chót của đứa trẻ, nên con cá như nuốt phải một vật nóng, làm cho nó nóng nảy bơi nhanh như điên suốt 30 do tuần, rồi bị dính lưới của nhóm dân chài trong kinh-thành Bārāṇasī.

    Thông thường, con cá lớn như thế này khi mắc lưới thì chết ngay, nhưng do oai lực phước-thiện của đứa trẻ, con cá vẫn còn sống cho đến khi bắt ra khỏi lưới. Những người dân chài cột dây khiêng con cá đi quanh kinh- thành Bārāṇasī, để bán với chừng ấy kahāpaṇa, nhưng không có một ai mua con cá ấy.

    Khi khiêng con cá đến trước cổng nhà phú hộ có của cải tài sản đến 800 triệu, trong kinh-thành Bārāṇasī, bà phú hộ hỏi họ rằng:

    - Này, các ngươi bán con cá ấy bao nhiêu Kahāpaṇa?

    Những người dân chài thưa rằng:

    - Kính thưa Bà, xin Bà cho chừng ấy Kahāpaṇa.

    Bà phú hộ trao chừng ấy Kahāpaṇa cho những người dân chài, rồi cho người đem con cá vào nhà.

    Bà phú hộ được đứa trẻ làm con

    Hằng ngày, bà phú hộ không bao giờ tự tay làm cá, hoặc làm đồ ăn, nhưng hôm ấy, bà phú hộ đặt con cá trên tấm ván lớn, rồi tự tay mình làm thịt con cá này. Thông thường, người ta mổ cá trước bụng, nhưng bà phú hộ mổ con cá này ở phía sau, khi dở lên bà nhìn thấy đứa trẻ có màu da như màu vàng ròng nằm trong bụng con cá, bà phú hộ rất vui mừng reo lên rằng:

    “Ta được đứa trẻ trong bụng con cá.”

    Bà phú hộ ẵm đứa trẻ đến trình ông phú hộ. Gia đình phú hộ vốn không có con, nay bỗng dưng được đứa trẻ có nét mặt sáng sủa, màu da như màu vàng ròng, nên ông vô cùng sung sướng bảo gia nhân đánh chuông thông báo cho mọi người biết như vậy.

    Ông bà phú hộ ẵm đứa trẻ lên xe đi vào cung điện chầu Đức-vua Bārāṇasī tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-Thượng, vợ chồng tiện dân được đứa trẻ trong bụng con cá. Vậy, nay vợ chồng tiện dân phải làm thế nào?

    Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Này ông bà phú hộ! Đứa trẻ này có phước lớn, dù nó nằm trong bụng con cá, mà sinh mạng vẫn được an toàn. Vậy, hai ông bà phú hộ nên nuôi dưỡng đứa trẻ này xem như là con của mình.

    Đứa trẻ tên là Bākula

    Gia đình ông bà phú hộ là cha mẹ của đứa trẻ ở kinh- thành Kosambī nghe tin gia đình ông bà phú hộ kinh- thành Bārāṇasī được một đứa trẻ trong bụng con cá.

    Bà phú hộ là mẹ đẻ của đứa trẻ cùng nhóm gia nhân đi xe lên đường đến kinh-thành Bārāṇasī, tìm đến nhà gia đình phú hộ kinh-thành Bārāṇasī.

    Nhìn thấy bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī đang chơi đùa với đứa trẻ, bà phú hộ kinh-thành Kosambī khen ngợi đứa trẻ rằng:

    “Đứa trẻ thật là đáng yêu quá!”

    Khi ấy, bà phú hộ kinh-thành Kosambī mẹ sinh thưa với bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī rằng:

    - Thưa bà, đứa trẻ này là con của tôi.

    Bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī mẹ nuôi thưa rằng:

    - Thưa bà, đứa trẻ này là con của tôi, không phải con của bà đâu!

    Ms:(16) - Thưa bà, bà được đứa trẻ này từ đâu?

    Mn: - Thưa bà, tôi được đứa trẻ này từ trong bụng con cá.

    Ms: - Thưa bà, nếu như vậy, thì chắc chắn đứa trẻ này không phải là con của bà, nó chính là con của tôi.

    Mn: - Thưa bà, con của bà ở đâu?

    Ms: - Thưa bà, tôi mang thai 10 tháng, khi đứa trẻ này sinh ra được đem xuống sông Yamunā để làm lễ tắm gội đầu, thì con cá há mồm ra ngậm đứa trẻ nuốt vào bụng bơi đi đến nơi này.

    Mn: - Thưa bà, con của bà bị con cá khác nuốt bơi đi nơi khác rồi, còn đứa trẻ này trong bụng con cá mà tôi đã mua.

    Như vậy, bà phú hộ kinh-thành Kosambī là mẹ sinh và bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī là mẹ nuôi tranh chấp với nhau về đứa trẻ, không thuộc về bên nào nên hai người mẹ ẵm đứa trẻ cùng nhau đến chầu Đức-vua Bārāṇasī để Đức-vua phán xét.

    Đức-vua phán xét rằng:

    “Bà phú hộ kinh-thành Kosambī mang thai 10 tháng sinh ra đứa trẻ này, bà phú hộ không phải là mẹ sinh thì không thể được. Và bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī đã mua con cá, thì tất cả những thứ gì trong con cá đều thuộc quyền sở hữu của bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī.

    Cho nên, đứa trẻ nằm trong bụng con cá thuộc về của bà phú hộ kinh-thành Bārāṇasī, bà không phải là mẹ nuôi thì cũng không thể được.

    Vì vậy, đứa trẻ này là người thừa kế (dāyāda) của 2 gia đình phú hộ. Kể từ nay, đứa trẻ này thuộc về 2 gia đình phú hộ, nên đặt tên là Bākulakumāra: Công-tử Bākula” (Bākula nghĩa là 2 gia đình, 2 dòng họ).

    Công-tử Bākula của hai gia đình phú hộ

    Công-tử Bākula trưởng thành, hưởng mọi sự an-lạc trong 2 gia đình phú hộ tại kinh-thành Bārāṇasī và kinh- thành Kosambī. Mỗi gia đình phú hộ xây dựng 3 tòa lâu đài gồm có đầy đủ mọi thứ để hưởng mọi sự an-lạc trong đời, như các đoàn ca hát, nhảy múa, những món ngon vật lạ, một chiếc thuyền lớn, những xe cộ đi du ngoạn ngắm cảnh, v.v...

    Công-tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong mỗi gia đình phú hộ của mỗi kinh-thành 4 tháng (2 tháng tại kinh-thành và 2 tháng trên chiếc thuyền).

    Thật vậy, công-tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong gia đình phú hộ tại kinh-thành bên này suốt 2 tháng, rồi bước xuống chiếc thuyền lớn có đầy đủ mọi thứ như các đoàn ca hát, nhảy múa, các món ăn vật lạ, v.v..., để cho công-tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong đời. Chiếc thuyền lớn di chuyển từ kinh-thành này đến nửa đường thời gian 2 tháng đến chỗ hẹn trên dòng sông.

    Một chiếc thuyền lớn của gia đình phú hộ kinh-thành bên kia chờ nửa đường chỗ hẹn trên dòng sông, để đón rước công-tử Bākula bước sang chiếc thuyền lớn bên kia cũng có đầy đủ mọi thứ trên chiếc thuyền, để cho công- tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong đời. Chiếc thuyền lớn duy chuyển suốt 2 tháng mới đến kinh-thành bên kia, rồi công-tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong gia đình phú hộ tại kinh-thành bên kia suốt 2 tháng.

    Như vậy, công-tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong mỗi gia đình phú hộ tại mỗi kinh-thành có 2 tháng, còn 2 tháng hưởng mọi sự an-lạc trên chiếc thuyền lớn đến nửa đường chỗ hẹn trên dòng sông.

    Công-tử Bākula hưởng mọi sự an-lạc trong mỗi gia đình phú hộ của mỗi kinh-thành luân phiên nhau như vậy, suốt thời gian tròn 80 năm.

    Công-tử Bākula trở thành tỳ-khưu

    Công-tử Bākula sống tại-gia suốt thời gian tròn 80 năm. Vào thời ấy, Đức-Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian, Đức-Phật ngự đi đến kinh-thành Kosambī (hoặc kinh-thành Bārāṇasī).

    Khi ấy, nghe tin Đức-Phật Gotama ngự đến kinh- thành Kosambī, công-tử Bākula, là vị Thanh-văn đệ-tử kiếp chót, đi đến hầu đảnh lễ, cúng dường những phẩm vật đến Đức-Phật, rồi lắng nghe Đức-Phật thuyết-pháp.

    Công-tử Bākula phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức- Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, kính xin Đức- Phật cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu trong giáo- pháp của Đức-Phật.

    Sau khi công-tử Bākula trở thành tỳ-khưu trong 7 ngày, tỳ-khưu Bākula vẫn còn là tỳ-khưu phàm-nhân, đến sáng sớm ngày thứ 8, tỳ-khưu Bākula thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán cao thượng cùng với tứ tuệ-phân-tích, lục-thông trong giáo- pháp của Đức-Phật Gotama.

    Sau khi trở thành bậc Thánh A-ra-hán, tất cả các người bạn thân, các đoàn ca hát, nhảy múa, các nhạc công, các nhóm tùy tùng thuộc hạ là những người trong kinh-thành Bārāṇasī và trong kinh-thành Kosambī của công-tử Bākula khi còn sống tại-gia, mỗi người đều nhận được nhiều của cải đem về sinh sống trong gia đình của mình.

    Khi sống trong gia đình, họ thường nhớ ơn của Ngài Trưởng-lão Bākula, nên họ dệt, may thành bộ y, rồi đem kính dâng đến Ngài Trưởng-lão Bākula.

    Hằng nửa tháng trước, người thân trong kinh-thành Kosambī dâng một bộ y đến Ngài Trưởng-lão Bākula, rồi nửa tháng sau, người thân trong kinh-thành Bārāṇasī dâng một bộ y đến Ngài Trưởng-lão Bākula, cứ thay phiên nhau dâng bộ y như vậy.

    Ngoài ra, các thứ vật dụng khác cũng thường thay phiên nhau dâng cúng dường đến Ngài Trưởng-lão Bākula như vậy, cho nên, tứ vật dụng của Ngài Trưởng- lão nhiều vô kể. Ngài Trưởng-lão Bākula thường cho người đem tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến chư tỳ-khưu khác.

    Tuyên dương Ngài Trưởng-Lão Bākula ít bệnh đệ nhất

    * Công-tử Bākula từ nhỏ sống tại-gia đến lúc tròn 80 tuổi, công-tử Bākula không hề có bị bệnh hoạn, ốm đau, dù chỉ là sổ mũi, nhức đầu nhẹ, cũng không từng phát sinh đối với công-tử Bākula.

    * Công-tử Bākula xuất gia trở thành tỳ-khưu Bākula lúc tròn 80 tuổi.

    Từ khi trở thành tỳ-khưu Bākula đến ngày thứ 8 trở thành bậc Thánh A-ra-hán cho đến lúc Ngài Trưởng-lão Bākula có 80 tuổi hạ, trong suốt khoảng thời gian ấy, Ngài Trưởng-lão Bākula cũng không hề có bệnh hoạn, ốm đau gì cả, và 4 thứ vật dụng luôn luôn phát sinh đầy đủ đối với Ngài Trưởng-lão Bākula.

    Một hôm, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana giữa chư Đại-đức Thánh-tăng, Đức-Thế-Tôn tuyên dương ca tụng Ngài Trưởng-lão Bākula rằng:

    “Etadaggaṃ Bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhik-khūnaṃ appābādhānaṃ yadidaṃ Bākulo.”

    - Này chư tỳ-khưu! Trong các hàng tỳ-khưu Thanh- văn đệ-tử của Như-Lai, Bākula là vị tỳ-khưu có ít bệnh đệ nhất.

    Ngài Trưởng-lão Bākula đã thành-tựu được như ý nguyện đúng như Đức-Phật Padumuttara đã thọ ký trong thời quá-khứ.

    Ngài Trưởng-lão Bākula tịch diệt Niết-bàn

    Ngài Trưởng-lão Bākula khi còn là công-tử Bākula sống tại-gia hưởng mọi sự an-lạc trong đời tròn suốt 80 năm, không hề có thứ bệnh gì, dù chỉ là bệnh sổ mũi thôi. Đến 80 tuổi, công-tử Bākula xuất gia trở thành tỳ- khưu.

    Sau khi trở thành tỳ-khưu Bākula được 7 ngày, đến sáng ngày thứ 8, tỳ-khưu Bākula trở thành bậc Thánh A- ra-hán, Ngài Trưởng-lão Bākula có 80 tuổi hạ.

    Ngài Trưởng-lão Bākula sống trong suốt 80 tuổi hạ cũng không hề có thứ bệnh nào cả.

    Đó là quả báu của phước-thiện bố-thí thuốc trị bệnh mà tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula đã tạo trong thời-kỳ Đức-Phật Anomadassī, và tiền-kiếp của Ngài Trưởng-lão Bākula đã phát nguyện muốn trở thành vị tỳ- khưu có ít bệnh nhất, đã được Đức-Phật Padumuttara quá-khứ thọ ký cũng được thành tựu như ý nguyện.

    Công-tử Bākula sống tại-gia tròn 80 tuổi và xuất gia trở thành bậc Thánh A-ra-hán, Ngài Trưởng-lão có 80 tuổi hạ. Như vậy, tuổi thọ của Ngài Trưởng-lão Bākula có tròn 160 năm.

    Một hôm, Ngài Trưởng-lão Bākula thưa với chư Đại- đức tỳ-khưu-Tăng rằng:

    “Hôm nay, tôi sẽ tịch diệt Niết-bàn.”

    Để chư tỳ-khưu không phải lo công việc hỏa táng thân xác của Ngài, cho nên, Ngài Trưởng-lão Bākula ngồi kiết già giữa chư Đại-đức tỳ-khưu-Tăng, phát nguyện, rồi nhập thiền đề-mục lửa (tejokasiṇa), cuối lộ-trình- tâm“cuti” tịch diệt Niết-bàn.

    Sau khi Ngài Trưởng-lão Bākula tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới, hỏa-đại bốc lên thiêu đốt thân xác của Ngài Trưởng-lão chỉ còn những viên Xá-lợi màu trắng như màu hoa lài mà thôi.

    Chư tỳ-khưu xây ngôi tháp tôn thờ Xá-lợi của Ngài Trưởng-lão Bākula.

    Phước-thiện bố-thí cho quả hiện-tại

    Phước-thiện bố-thí thuộc về dục-giới thiện-nghiệp gọi là đại-thiện-nghiệp nếu có cơ hội thì cho quả tốt, quả an-lạc ngay hiện-tại, cho quả tái-sinh kiếp sau, và cho quả tốt, quả an-lạc từ kiếp thứ 3 cho đến kiếp chót của bậc Thánh A-ra-hán, trước khi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

    Phước-thiện bố-thí cho quả ngay hiện-tại thì thí-chủ phải hội đầy đủ 4 pháp sampadā (17) thành tựu.

    Sampadā có 4 pháp thành tựu là:

    1- Paccayadhammika: Vật thí hợp pháp, đó là vật thí dù ít dù nhiều cũng được phát sinh một cách hợp pháp và hoàn toàn trong sạch, không làm khổ mình, không làm khổ chúng-sinh khác.

    2- Cetanāmahatta: Tác-ý trong đại-thiện-tâm trong sạch đầy đủ trọn vẹn trong 3 thời pubbacetanā, muñca- cetanā, aparacetanā đầy đủ và có nhiều năng lực.

    3- Guṇātirekā: Bậc thọ-thí có ân-đức cao thượng đó là Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác, bậc Thánh A-ra-hán.

    4-Vatthusampatti: Bậc Thánh A-ra-hán vừa xả diệt- thọ-tưởng, rồi đi khất thực thọ nhận vật thí ấy của thí-chủ.

    Nếu thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí hợp đủ 4 pháp sampadā: thành tựu như vậy thì chắc chắn phước-thiện bố-thí ấy sẽ cho quả ngay kiếp hiện-tại không lâu.

    Trong thời Đức-Phật Gotama đang còn hiện hữu trên thế gian, có những thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí liền được quả báu của phước-thiện bố-thí ngay hiện-tại như Bà-la-môn Cūḷekasāṭaka, người bán hoa Sumana, ông bà làm thuê Puṇṇa, bà Mallikādevī, bà Gopālamātā- devī, cô Suppiyā upāsikā,... là những thí-chủ làm phước thiện bố-thí liền cho quả báu ngay ngày hôm ấy.

    (Tìm hiểu một số tích trong quyển “Tìm Hiểu Phước- Thiện Bố-Thí”, cùng soạn giả.)

    TÁC-Ý TRONG PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ (CETANĀDĀNA)

    Phước-thiện bố-thí có được phước-thiện vô lượng, có được quả báu vô lượng do cetanā trong 3 thời-kỳ: pubbacetanā, muñcacetanā, aparacetanā.

    1- Pubbacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm hoan-hỷ trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy có thời gian lâu hoặc mau tùy theo thí-chủ và công việc chuẩn bị trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy.

    2- Muñcacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm hoan-hỷ khi đang tạo phước-thiện bố-thí ấy (thời gian hiện-tại khi đang tạo phước-thiện bố-thí ấy).

    3- Aparacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm hoan-hỷ sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy (thời gian sau khi đã làm xong phước-thiện bố-thí ấy không có hạn định).

    Trong 3 thời-kỳ này, thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm- sở đồng sinh với đại-thiện-tâm hoan-hỷ sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy xong rồi, thời gian không hạn định sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, mỗi khi nếu thí-chủ niệm tưởng đến phước-thiện bố-thí ấy, phát sinh đại-thiện-tâm vô cùng hoan-hỷ thì phước-thiện bố-thí ấy lại càng tăng trưởng.

    Cho nên, trong 40 đề-mục thiền-định, có đề-mục cāgānussati: đề-mục thiền-định niệm-niệm phước-thiện bố-thí của mình.

    Đức-Phật dạy về cetanā rằng:

    “Cetanā’haṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi, cetayitvā kammaṃ karoti kāyena vācāya manasā.” (18)

    - Này chư tỳ-khưu! Sau khi đã có tác-ý rồi mới tạo nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý.

    Vì vậy, Như-lai dạy rằng: “tác-ý gọi là nghiệp.”

    Cetanā: Tác-ý đó là tác-ý tâm-sở (cetanācetasika) là 1 tâm-sở (cetasika) (trong 52 loại tâm-sở) đồng sinh với tất cả mọi tâm gồm có 89 hoặc 121 tâm.

    Cetanācetasika: tác-ý tâm-sở gọi là kamma: nghiệp chỉ khi đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm (ác-tâm) và 21 hoặc 37 thiện-tâm như sau:

    * Tác-ý tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm (12 ác- tâm) gọi là bất-thiện-nghiệp (ác-nghiệp).

    * Tác-ý tâm-sở đồng sinh với 8 dục-giới thiện-tâm gọi là dục-giới thiện-nghiệp (đại-thiện-nghiệp).

    * Tác-ý tâm-sở đồng sinh với 5 sắc-giới thiện-tâm gọi là sắc-giới thiện-nghiệp.

    * Tác-ý tâm-sở đồng sinh với 4 vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là vô-sắc-giới thiện-nghiệp.

    * Tác-ý tâm-sở đồng sinh với 4 hoặc 20 Thánh-đạo- tâm gọi là 4 hoặc 20 siêu-tam-giới thiện-nghiệp.

    Nếu cetanācetasika: tác-ý tâm-sở khi đồng sinh với 36 hoặc 52 quả-tâm (19) và 20 duy-tác-tâm (20) thì không gọi là nghiệp.

    Nếu khi cetanācetasika: tác-ý tâm-sở gọi là kamma: nghiệp thì cetanācetasika: tác-ý tâm-sở này có tính chất rất đặc biệt, bởi vì mỗi đại-thiện-nghiệp, mỗi ác-nghiệp có cơ hội cho quả trong kiếp hiện-tại (kiếp thứ nhất), có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau kế-tiếp (kiếp thứ nhì) và có cơ hội cho quả từ kiếp thứ ba cho đến kiếp chót của bậc Thánh A-ra-hán, trước khi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới. Khi ấy, tất cả mọi đại-thiện-nghiệp và mọi ác-nghiệp được lưu-trữ đầy đủ trọn vẹn ở trong tâm sinh rồi diệt của mỗi chúng- sinh, từ vô thuỷ trải qua vô số kiếp, từ kiếp này sang kiếp kia, trong vòng tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài đều trở thành vô-hiệu-quả-nghiệp (ahosikamma), không còn có cơ hội cho quả được nữa.

    Vì vậy, cetanācetasika: tác-ý tâm-sở gọi là kamma: nghiệp có tính chất rất đặc biệt so sánh với các cetasika: tâm-sở và các citta: tâm khác, bởi vì các cetasika: tâm- sở và các citta: tâm khác sinh rồi diệt thời hiện-tại, không còn liên quan đến thời vị-lai.

    Trong quyển Phước-Thiện này chỉ đề cập đến cetanā đó là cetanācetasika: tác-ý tâm-sở đồng sinh với 8 dục- giới thiện-tâm (8 đại-thiện-tâm) gọi là dục-giới thiện- nghiệp hoặc đại-thiện-nghiệp mà thôi.

    Năng lực của cetanādāna trong 3 thời-kỳ

    Phước-thiện bố-thí được thành-tựu đều trải qua 3 thời- kỳ tác-ý: pubbacetanā, muñcacetanā, aparacetanā, mà mỗi thời-kỳ tác-ý có năng lực cho quả khác nhau như sau:

    NĂNG LỰC CỦA PUBBACETANĀ

    Pubbacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trước khi tạo phước-thiện bố-thí.

    * Thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm hoan-hỷ trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy đến người thọ-thí, thì khi đại-thiện-nghiệp ấy trong đại-thiện-tâm có cơ hội cho quả tốt trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người trong lòng mẹ, và tiếp theo cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, có 8 đại-quả-tâm và 8 thiện-quả vô-nhân-tâm trong thời ấu-niên, tùy theo năng lực quả của đại-thiện-nghiệp ấy.

    * Nếu thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm không hoan-hỷ trước khi tạo phước-thiện bố- thí ấy đến người thọ-thí, dù có ác-tâm xen lẫn mà vẫn tạo phước-thiện bố-thí ấy đến người thọ-thí, thì khi đại- thiện-nghiệp ấy trong đại-thiện-tâm có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người trong lòng mẹ, và tiếp theo cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, có 8 đại-quả-tâm và thiện-quả vô-nhân-tâm và bất-thiện quả vô-nhân-tâm trong thời ấu-niên, tùy theo năng lực quả của đại-thiện-nghiệp ấy và quả của ác-nghiệp ấy.

    Ví dụ: Tích Pañcapāpī (21) được tóm lược như sau:

    Cô Pañcapāpī là con gái của một gia đình nghèo khổ nhà ở gần cửa phía Đông trong kinh-thành Bārāṇasī.

    Sở dĩ người ta gọi cô là Pañcapāpī (Pañca+pāpī: Pañca là 5, pāpī là bộ phận xấu), bởi vì thân hình của cô có 5 bộ phận xấu là tay, chân, miệng, mắt, lỗ mũi.

    Do nguyên nhân nào thân hình của cô có 5 bộ phận xấu như vậy?

    Tiền-kiếp của cô là con gái của gia đình nghèo khổ, chuyên nhồi đất cho nhuyễn để bán cho người ta trát vách nhà.

    Một hôm, Đức-Phật Độc-Giác cần đất nhuyễn để trát vách chỗ ở của Ngài, nên Ngài mặc y, mang bát ngự vào cửa thành phía Đông kinh-thành Bārāṇasī, đến đứng trước nhà cô gái đang ngồi nhồi đất.

    Nhìn thấy Đức-Phật Độc-Giác đứng trước nhà, cô gái phát sinh sân-tâm bực mình nói rằng:

    “Mattikampi bhikkhati!”

    - Đất mà Sa-môn này cũng đi xin!

    Cô phát sinh sân-tâm nói với giọng bực mình như vậy. Đó là thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với bất-thiện-tâm (ác-tâm) trước khi tạo phước-thiện bố- thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Phước-thiện bố-thí đất nhuyễn đặc biệt

    * Nhìn thấy Đức-Phật Độc-Giác vẫn đứng tự nhiên, nên cô phát sinh đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật Độc-Giác, rồi bạch rằng:

    - Kính bạch Ngài Sa-môn, Ngài muốn được đất nhuyễn phải không? Kính thỉnh Ngài đợi con một lát.

    Bạch xong, cô hoan-hỷ nhồi đất thật nhuyễn rất đặc biệt, rồi cô phát sinh đại-thiện-tâm trong sạch cung-kính tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Đó là thời-kỳ muñcacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ khi đang tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Đức-Phật Độc-Giác nhận đất thật nhuyễn rất đặc biệt đem về trát vách chỗ ở của Đức-Phật.

    * Sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy đến Đức-Phật Độc-Giác, cô phát sinh đại-thiện-tâm trong sạch vô cùng hoan-hỷ phước- thiện bố-thí cúng-dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Đó là thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Sự diễn tiến qua ba thời-kỳ tác-ý trong đại-thiện-tâm.

    Kiếp sau cô gái nghèo

    Về sau, sau khi cô gái nghèo ấy chết, đại-thiện-nghiệp bố-thí đất nhuyễn ấy trong đại-thiện-tâm có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh đầu thai vào lòng người đàn bà nghèo, nhà ở gần cửa thành Bārāṇasī.

    Khi trẻ sơ sinh ra đời, thân hình của đứa bé gái có 5 bộ phận xấu xí là tay, chân, miệng, mắt, lỗ mũi, nên người ta gọi cô là Pañcapāpī (có 5 bộ phận xấu).

    Đó là quả ác-nghiệp sân-tâm bực mình với tác-ý tâm- sở đồng sinh với sân-tâm trong tiền-kiếp của cô trước khi tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn đặc biệt đến Đức-Phật Độc Giác.

    Khi cô trưởng thành, hễ ai tiếp xúc, đụng đến thân thể của cô, đều có cảm giác như tiếp xúc với đối-tượng xúc của cõi trời, (như tiếp xúc với thân thể của vị thiên-nữ trên cõi trời dục-giới) có cảm giác sung sướng say mê chưa từng có.

    Đó là quả tốt của đại-thiện-nghiệp hoan-hỷ bố-thí cúng dường đất thật nhuyễn đặc biệt đến Đức-Phật Độc- Giác trong tiền-kiếp của cô.

    Thật vậy, một đêm nọ Đức-vua Bārāṇasī tên là Baka giả dạng dân thường ngự đi xem xét sinh hoạt của dân chúng trong kinh-thành, khi Đức-vua Baka đến chỗ cô Pañcapāpī đang chơi trò bịt mắt bắt nhau với các cô bạn gái trong xóm, vì không biết Đức-vua Baka, nên cô đưa tay bắt nhầm tay của Đức-vua.

    Khi bàn tay của của cô Pañcapāpī tiếp xúc với bàn tay của Đức-vua Baka, Đức-vua có cảm giác say mê không còn biết mình, như tiếp xúc với đối-tượng xúc trên cõi trời, phát sinh tâm tham-ái say mê trong đối tượng xúc ấy.

    Đức-vua Baka đưa tay nắm lấy tay của cô Pañcapāpī truyền hỏi rằng:

    - Này cô em! Cô là con gái của ai? Đã có chồng hay chưa?

    Nghe Đức-vua truyền hỏi như vậy, cô thưa rằng:

    - Thưa ông, tôi là con gái của cha mẹ nhà nghèo ở gần cửa thành, chưa có chồng.

    Đức-vua truyền bảo rằng:

    - Này cô! Ta sẽ là người chồng của cô. Vậy, cô nên trở về xin phép cha mẹ.

    Cô Pañcapāpī trở về thưa với cha mẹ rằng:

    - Kính thưa cha mẹ, có một người đàn ông muốn lấy con làm vợ.

    Nghe cô Pañcapāpī thưa như vậy, cha mẹ của cô nghĩ rằng: “Người đàn ông ấy chắc không phải là người nghèo khổ” nên bảo rằng:

    - Này con! Nếu người đàn ông ấy muốn lấy con làm vợ thì may mắn cho đời con biết dường nào!

    Cô Pañcapāpī trở lại báo cho Đức-vua Baka biết rằng: “Cha mẹ của cô đã cho phép rồi.”

    Ngay đêm hôm ấy, Đức-vua Baka sống chung với cô Pañcapāpī tại nhà cô, đến cuối canh chót đêm mới ngự trở về cung điện.

    Từ đó về sau, mỗi đêm Đức-vua Baka thường giả dạng dân thường ngự đến gặp cô Pañcapāpī, không còn quan tâm đến Chánh-cung Hoàng-hậu, các hoàng-hậu và các thứ-phi khác trong cung điện nữa.

    Về sau, Đức-vua Baka bày ra mưu kế để rước cô Pañcapāpī vào cung điện, rồi tấn phong cô Pañcapāpī lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Baka trong kinh-thành Bārāṇasī.

    Cha mẹ của cô Pañcapāpī được Đức-vua ban cho nhiều của cải, nên cuộc sống được đầy đủ hạnh phúc an-lạc.

    Từ đó, Đức-vua Baka chỉ say mê đắm đuối với Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī mà thôi, bỏ bê việc triều chính nên các quan tỏ ra thái độ bất bình.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī nằm mộng

    Một đêm nọ, Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī nằm mộng, qua giấc mộng ấy thấy mình sẽ là Chánh-cung Hoàng-hậu của 2 Đức-vua. Bà tâu giấc mộng lên Đức- vua Baka.

    Đức-vua Baka truyền lệnh cho mời các vị thầy Bà-la- môn đoán mộng vào chầu, Đức-vua kể lại giấc mộng của Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī.

    Các vị thầy Bà-la-môn bị các quan mua chuộc, nên đoán theo ý của các quan rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Chánh-cung Hoàng-hậu nằm mộng thấy ngồi trên cổ con bạch tượng. Đó là điều báo trước sự băng hà đến Đại-vương.

    - Muôn tâu Đại-vương, Chánh-cung Hoàng-hậu nằm mộng thấy ngồi trên cổ con bạch tượng, rồi sờ tay lên mặt trăng vuốt ve chơi. Đó là điều báo trước sẽ đem Đức-vua là kẻ thù đến với Đại-vương.

    Thuyền chở Chánh-cung Hoàng-hậu thả trôi sông

    Nghe vị thầy Bà-la-môn đoán mộng như vậy, nên Đức-vua Baka truyền hỏi rằng:

    - Này các ngươi! Nếu như vậy thì Trẫm phải làm thế nào? Xin các ngươi tâu cho Trẫm rõ.

    Các vị thầy Bà-la-môn tâu với Đức-vua Baka nên đưa Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī xuống chiếc thuyền, rồi thả trôi theo dòng nước.

    Nghe theo lời tâu của vị thầy Bà-la-môn, Đức-vua Baka chuẩn tấu, đưa Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī xuống chiếc thuyền có đầy đủ các món vật thực, nước uống, các đồ trang sức quý giá của Bà.

    Đến ban đêm, Đức-vua Baka truyền lệnh thả chiếc thuyền trôi xuôi theo dòng nước trên con sông lớn.

    Chiếc thuyền chở Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī trôi đến chỗ bến nước nơi Đức-vua Bāvarika đang ngự trên thuyền đi chơi trên sông. Nhìn thấy chiếc thuyền lạ từ xa trôi đến, Đức-vua Bāvarika truyền bảo rằng:

    “Người trên thuyền thuộc về của Trẫm.”

    Chiếc thuyền vừa đến gần, nhìn thấy Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī, Đức-vua Bāvarika truyền hỏi rằng:

    - Này cô tên gì? Sao thân hình xấu xí đáng ghê vậy!

    Nghe Đức-vua truyền hỏi như vậy, cô Pañcapāpī vui cười, rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-Thượng, tiện nữ là Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Baka ở tại kinh-thành Bārāṇasī, tên là Pañcapāpī.

    Cô Pañcapāpī tâu trình mọi sự việc xảy ra, Đức-vua Bāvarika biết Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī nổi tiếng khắp cõi Nam-thiện-bộ-châu, nên Đức-vua Bāvarika đưa tay nắm tay của cô Pañcapāpī đưa lên chiếc thuyền rồng, vừa tiếp xúc bàn tay của cô Pañcapāpī, Đức-vua phát sinh tâm tham-ái say mê đối- tượng xúc trong thân cô như đối-tượng xúc trên cõi trời, chưa từng có nơi người nữ nào như vậy.

    Đức-vua Bāvarika đưa cô về cung điện, làm lễ tấn phong cô Pañcapāpī lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu.

    Từ đó, Đức-vua Bāvarika chỉ say mê Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī mà thôi, không còn quan tâm đến Chánh-cung Hoàng-hậu, các hoàng-hậu, các thứ-phi nào khác nữa.

    Cô Pañcapāpī là Chánh-cung Hoàng-hậu của 2 Đức-vua

    Hay tin Đức-vua Bāvarika tấn phong cô Pañcapāpī lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu, nên Đức-vua Baka nổi cơn ghen tức nghĩ rằng:

    “Ta không thể chịu để Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī của ta trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Bāvarika được!”

    Đức-vua Baka kinh-thành Bārāṇasī thân chinh dẫn đầu các đoàn binh đến đóng quân bên bờ sông, rồi gửi tối hậu thư đến Đức-vua Bāvarika rằng:

    “Đức-vua Bāvarika hãy trả Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī lại cho bổn-vương hoặc chiến tranh.”

    Đức-vua Bāvarika phúc đáp rằng:

    “Bổn-vương chấp nhận chiến tranh, chứ không bao giờ chịu giao Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī.”

    Như vậy, cuộc chiến tranh sẽ xảy ra giữa Đức-vua Bāvarika với Đức-vua Baka. Khi ấy, các vị quan của 2 nước hội họp, để bàn thảo với nhau rằng:

    “Nếu có cuộc chiến xảy ra thì ắt gây chết chóc đau khổ, chỉ vì nguyên nhân một người đàn bà. Đó là điều không hợp lý chút nào cả.

    Vậy, cô Pañcapāpī nên thuộc về của Đức-vua Baka, vì Đức-vua Baka đã từng là Đức-phu-quân của cô. Và cô Pañcapāpī cũng nên thuộc về của Đức-vua Bāvarika, vì Đức-vua Bāvarika được cô từ trên chiếc thuyền trôi dạt đến địa phận của Đức-vua Bāvarika.

    Cho nên, cô Pañcapāpī nên trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của cả hai Đức-vua là Đức-vua Baka và Đức-vua Bāvarika.”

    Sau khi bàn thảo xong, mỗi nhóm quan trở về tâu trình lên Đức-vua của mình, hai Đức-vua cũng đều chuẩn tấu như vậy.

    Mỗi Đức-vua đều xây dựng một cung điện tại 2 bên bờ sông, Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī sống chung với Đức-vua Bāvarika 7 ngày xong, rồi lên chiếc thuyền rồng sang sống chung với Đức-vua Baka. Cứ như vậy, mỗi Đức-vua sống chung với Chánh-cung Hoàng-hậu Pañcapāpī 7 ngày.

    Cho nên cô Pañcapāpī trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của hai Đức-vua.

    * Tích Kusajātaka (22) được tóm lược những điểm chính như sau:

    Trong tích Kusajātaka này Đức-Bồ-tát Kusa là tiền- kiếp của Đức-Phật Gotama, là Đức-vua ngự tại kinh- thành Kusāvatī trị vì đất nước Malla. Đức-vua Bồ-tát Kusa có oai lực phi thường, có giọng nói như sư tử rống, nhưng có thân hình và gương mặt rất xấu xí đáng ghê sợ.

    (Đó là quả xấu của ác-nghiệp trước khi tạo phước- thiện bố-thí cúng dường đến Đức-Phật Độc-Giác.)

    Đức-Bồ-tát Kusa là Thái-tử của Đức-vua Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī. Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa còn có Hoàng-đệ là Jayampati.

    Khi Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa trưởng thành, năm 16 tuổi, Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu muốn truyền ngôi báu cho Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa lên ngôi làm vua, ngự tại kinh-thành Kusāvatī, trị vì đất nước Malla. Nhưng Đức- Bồ-tát Thái-tử Kusa không muốn lên ngôi vua, bởi vì nghĩ rằng:

    “Ta có thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ như thế này, các công chúa chê cười ta thì đáng xấu hổ lắm. Vì vậy, ta không muốn ngôi vua, và không muốn thành hôn với công-chúa nào, mà ta muốn sống như vậy, để phụng dưỡng Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu cho đến khi hai Người băng hà, ta sẽ từ bỏ cung điện, ngự đi vào rừng núi Himavanta, xuất gia trở thành đạo-sĩ sống trong rừng núi ấy.”

    Tượng hình công-chúa xinh đẹp bằng vàng ròng

    Dù đã nhiều lần Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa khước từ lời tha thiết khẩn khoản của Đức Phụ-vương và Mẫu- hậu, nhưng vẫn không được, nên Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa bày ra kế tự mình khắc một tượng hình một công- chúa xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ bằng vàng ròng. Nếu có được công-chúa xinh đẹp giống như vậy thì mới chịu lên ngôi vua và làm lễ thành hôn với công-chúa ấy.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī truyền lệnh các quan làm sứ giả chở tượng hình ấy trên xe đi tìm khắp các nước trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, nếu có công- chúa của Đức-vua nào xinh đẹp như tượng hình này thì dâng tượng hình bằng vàng ròng này đến Đức-vua ấy gọi là đồ sính lễ đám hỏi.

    Công-chúa Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần

    Đức-vua Madda ngự tại kinh-thành Sāgala trị vì đất nước Madda, Đức-vua có 8 cô công-chúa, mà cô công- chúa trưởng tên Pabhāvatī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, đặc biệt có ánh sáng tỏa ra từ thân hình như ánh sáng mặt trăng mát dịu suốt ngày đêm xung quanh rộng 4 cùi tay, nên ban đêm trong phòng không cần dùng đèn mà vẫn sáng như ban ngày (Đó là quả báu của phước-thiện bố-thí cúng dường bơ lỏng trong sạch đến Đức-Phật Độc-Giác).

    Các quan sứ giả của Đức-vua Okkāka đến kinh-thành Sāgala nghe tin Đức-vua Madda có công-chúa trưởng tên Pabhāvatī rất xinh đẹp tuyệt trần như thiên nữ, nên xin phép vào chầu đảnh lễ Đức-vua Madda, tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đức-vua Okkāka của chúng thần ngự tại kinh-thành Kusāvatī, trị vì đất nước Malla, có ý định truyền ngôi báu cho Thái-tử Kusa có oai lực phi thường, có giọng nói như sư tử rống, nên gửi chúng thần đến chầu Đại-vương, xin Đại-vương ban công- chúa Pabhāvatī cho Thái-tử Kusa, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Kusa.

    - Muôn tâu Đại-vương, kính xin Đại-vương nhận tượng hình công-chúa bằng vàng ròng cùng các phẩm vật quý báu này.

    Nghe các sứ giả tâu như vậy, Đức-vua Madda vô cùng hoan-hỷ thọ nhận lễ vật ấy, bởi vì, công-chúa của Đức-vua sẽ trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức- vua trong một đất nước lớn có nhiều thế lực trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Sau đó, các sứ giả đảnh lễ Đức-vua Madda, rồi xin phép bái biệt, vội trở về kinh-thành Kusāvatī.

    Khi về đến kinh-thành Kusāvatī, các quan đến chầu Đức-vua Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī tâu trình rõ mọi điều.

    Đức-vua Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī vô cùng hoan-hỷ ban thưởng các quan, rồi truyền lệnh làm lễ đón rước Công-chúa Pabhāvatī.

    Đức-vua Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī ngồi trên voi báu dẫn đầu đoàn tùy tùng hộ giá đông đảo, ngự ra khỏi kinh-thành Kusāvatī lên đường đi đến kinh- thành Sāgala.

    Đức-vua Madda ngự cùng các quan ra tận bên ngoài kinh-thành để đón rước Đức-vua Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī cùng đoàn hộ giá ngự vào kinh- thành Sāgala, thỉnh mời đoàn vào cung điện tiếp đãi rất long trọng.

    Đức-vua Okkāka và Đức-vua Madda rất hài lòng mối giao hảo giữa hai nước với nhau.

    Qua 2-3 ngày sau, Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī tâu với Đức-vua Madda rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, xin Đại-vương cho phép bổn thiếp gặp công-chúa Pabhāvatī.

    Đức-vua Madda đáp rằng:

    - Tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, tốt lắm! Đức-vua Madda truyền bảo các quan mời công-chúa Pabhāvatī ra mắt Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī.

    Công-chúa Pabhāvatī trang điểm các thứ nữ trang quý giá vô cùng lộng lẫy ngự ra cùng với đoàn thị nữ theo hầu đến cung-kính đảnh lễ dưới hai bàn chân của Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī, Mẫu-hậu tương lai.

    Nhìn thấy công-chúa Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần như vị thiên nữ, nên Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī nghĩ rằng:

    “Công-chúa Pabhāvatī có sắc đẹp tuyệt trần đến như thế này, còn Thái-tử Kusa của ta có thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ đến như thế kia.

    Nếu công-chúa nhìn thấy Thái-tử Kusa của ta thì chắc chắn phát sinh tâm kinh sợ, dù trong chốc lát cũng không thể sống chung với nhau được, chắc chắn công- chúa Pabhāvatī sẽ bỏ Thái-tử trở lại kinh-thành Sāgala ngay khi ấy. Ta nên bày ra diệu kế vậy!”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī truyền thỉnh Đức- vua Madda đến, Bà tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, công-chúa Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần thật là xứng đáng với Thái-tử Kusa của bổn Thiếp. Trong hoàng gia của bổn Thiếp vừa đặt ra một điều lệ, nếu công-chúa thực-hành theo điều lệ ấy được thì bổn Thiếp xin đón rước công-chúa ngự trở về kinh- thành Kusāvatī.

    Nghe Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī tâu như vậy, Đức-vua Madda truyền hỏi rằng:

    - Tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, trong hoàng gia của Bà có điều lệ như thế nào?

    Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, trong hoàng gia của bổn Thiếp có một điều lệ là “Chánh-cung Hoàng-hậu không gặp mặt Đức-vua lúc ban ngày cho đến khi mang thai mới gặp được.”

    Nếu công-chúa Pabhāvatī thực-hành theo điều lệ ấy được thì bổn Thiếp xin đón rước công-chúa về kinh- thành Kusāvatī. Trong ngày đại lễ đăng quang Thái-tử Kusa lên ngôi Vua, đồng thời làm lễ tấn phong công- chúa Pabhāvatī lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Kusa.

    Nghe tâu như vậy, Đức-vua Madda truyền hỏi Công- chúa Pabhāvatī rằng:

    - Này con yêu quý! Con có thể thực-hành theo điều lệ ấy được hay không?

    Công chúa Pabhāvatī tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức-Phụ-vương, con có thể thực-hành theo điều lệ ấy được.

    Khi ấy, Đức-vua Okkāka làm lễ ban nhiều phẩm vật quý báu của hoàng gia đến Đức-vua Madda, rồi Đức- vua Okkāka làm lễ đón rước Công-chúa Pabhāvatī, ngự trở về kinh-thành Kusāvatī. Đức-vua Madda cùng đoàn tùy tùng đông đảo theo tiễn đưa công-chúa Pabhāvatī một đoạn đường xa.

    Công-chúa Pabhāvatī trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Bồ-tát Kusa

    Khi ngự trở về đến kinh-thành Kusāvatī, Đức-vua Okkāka truyền lệnh trang hoàng kinh-thành thật lộng lẫy, rồi tổ chức đại lễ đăng quang cho Thái-tử Kusa lên ngôi vua, và tấn phong công-chúa Pabhāvatī lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Kusa (Lời phát nguyện của tiền-kiếp Đức-vua Bồ-tát Kusa được thành tựu như ý).

    Đức Thái-Thượng-hoàng Okkāka truyền lệnh cho các quan thông báo các Đức-vua trong toàn cõi Nam-thiện- bộ-châu rằng:

    “Nay toàn đất nước Malla là của Đức-vua Kusa, Đức-vua nào có công-chúa, thì hãy dâng công-chúa đến Đức-vua Kusa, có thái-tử, hoàng-tử thì hãy đến xin kết tình thân thiện với Đức-vua Kusa.”

    Cho nên, Đức-vua Bồ-tát Kusa có nhiều công-chúa đến hầu hạ, có nhiều thái-tử, hoàng-tử là thuộc hạ.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa có oai lực phi thường, uy thế của Đức-vua Bồ-tát khiến cho các nước trong cõi Nam- thiện-bộ-châu đều phải kính phục.

    Ban ngày, Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī không có cơ hội nhìn thấy Đức-vua Bồ-tát Kusa xấu xí đáng ghê sợ, và Đức-vua Bồ-tát Kusa cũng không có cơ hội nhìn thấy Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần như thiên nữ, bởi vì Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī chỉ gặp nhau ban đêm mà thôi.

    Ban đêm, trong phòng của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī có ánh sáng mát tỏa ra từ thân hình của Bà như ban ngày, nên không cần đốt đèn, nhưng đến khi Đức-vua Bồ-tát Kusa ngự vào phòng của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, do oai lực của Đức-vua Bồ-tát Kusa, ánh sáng ấy biến mất, nên không nhìn thấy nhau được; cho đến khi Đức-vua Bồ-tát Kusa ngự ra khỏi phòng lúc ban đêm, thì ánh sáng lại tỏa ra như trước.

    Trải qua 2-3 ngày sau, muốn nhìn thấy gương mặt xinh đẹp của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī như thế nào, nên Đức-vua Bồ-tát Kusa đến chầu Mẫu-hậu, kính xin Mẫu-hậu giúp cho có cơ hội nhìn thấy Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, nhưng Mẫu-hậu khuyên Đức-vua Bồ-tát Kusa không nên vội vã, chờ đến khi nào có được một Thái-tử sinh ra đời, khi ấy, nhìn thấy Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī cũng không muộn.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa không thể chờ đợi, nóng lòng muốn được nhìn thấy gương mặt Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī, nên lại đến chầu Mẫu-hậu, kính xin Mẫu-hậu giúp cho cơ hội để nhìn thấy Chánh-cung Hoàng hậu Pabhāvatī của mình. Mẫu-hậu của Đức-vua Bồ-tát không khuyên được, nên bày ra diệu kế rằng:

    - Này Hoàng nhi yêu quý! Nếu con muốn vậy thì con đứng đóng vai người giữ chuồng voi báu, Mẫu-hậu dẫn Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī đến xem voi báu, khi ấy, con sẽ nhìn thấy rõ Chánh-cung Hoàng-hậu của con, nhưng con chớ nên để cho nàng nghi ngờ.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa làm theo lời dạy của Mẫu-hậu.

    Mẫu-hậu của Đức-vua Bồ-tát truyền lệnh trang hoàng chuồng voi, Bà khuyên bảo Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī rằng:

    - Này con yêu quý! Mẫu-hậu và con ngự đi xem voi báu của Đức-vua Kusa, Đức Phu-quân của con.

    Nhìn thấy Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngự theo sau Mẫu-hậu đến chuồng voi, Mẫu-hậu chỉ cho nàng biết tên của mỗi con voi báu. Khi ấy, Đức-vua Bồ- tát Kusa đóng vai người nài voi báu, nhìn thấy Chánh- cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, liền đưa tay lấy phân voi ném sau lưng của nàng.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī nổi cơn thịnh nộ truyền bảo rằng: “Ta sẽ tâu với Đức-vua Kusa truyền lệnh chặt tay của ngươi.”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī tâu với Mẫu-hậu xử phạt tên giữ voi vô lễ ấy, nhưng Mẫu-hậu khuyên nàng nên tha tội cho người nài voi.

    Một lần khác, Mẫu-hậu dẫn Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngự đi xem ngựa báu tại chuồng ngựa, Đức- vua Bồ-tát Kusa đóng vai người giữ ngựa báu, nhìn thấy Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, cũng đưa tay lấy phân ngựa ném sau lưng của nàng.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī nổi cơn thịnh nộ truyền bảo rằng: “Ta sẽ tâu với Đức-vua Kusa truyền lệnh chặt tay của ngươi.”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī tâu với Mẫu-hậu xử phạt tên giữ ngựa vô lễ ấy, nhưng Mẫu-hậu khuyên nàng nên tha tội cho người giữ ngựa.

    Một hôm, Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī muốn nhìn thấy Đức-vua Kusa, nên tâu với Mẫu-hậu, kính xin Mẫu hậu giúp cho cơ hội nhìn thấy Đức-vua Kusa, Đức- Phu-quân của mình là người như thế nào.

    Mẫu-hậu chiều ý, nên truyền bảo rằng:

    - Này con yêu quý! Nếu con muốn như vậy, thì sáng ngày mai Đức-vua Kusa ngự trên lưng voi báu đi kinh lý trong kinh-thành, con đứng trên lâu đài mở cửa sổ nhìn Đức-vua Kusa ngự trên lưng voi báu.

    Mẫu-hậu truyền bảo trang hoàng kinh-thành, sắp đặt Hoàng-tử Jayampati (Hoàng-đệ của Đức-vua Kusa), mặc triều phục Đức-vua ngự phía trước voi báu, còn Đức-vua Bồ-tát Kusa như quan nài voi báu ngự phía sau đi xem kinh-thành.

    Khi ấy, Mẫu-hậu dẫn Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī đến đứng trên lâu đài nhìn xuống. Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī thấy Hoàng-tử Jayampati tưởng là Đức vua Kusa, nên nghĩ rằng: “Ta có được Đức-vua Kusa, Đức-Phu-quân thật xứng đáng với ta”. Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī rất hài lòng vô cùng hoan-hỷ.

    Hôm ấy, Đức-vua Bồ-tát Kusa đóng vai vị quan nài voi báu ngự phía sau, biết phía trên lâu đài có Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī đứng nhìn, nên Đức-vua Bồ- tát Kusa ngoảnh đầu lên nhìn nàng, đưa tay vẫy, có cử chỉ kém lịch sự.

    Khi voi báu đi qua khỏi, Mẫu-hậu truyền hỏi Chánh- cung Hoàng-hậu Pabhāvatī rằng:

    - Này con yêu quý! Con đã nhìn thấy Đức-vua Kusa, Đức-Phu-quân của con rồi phải không?

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī tâu rằng:

    - Muôn tâu Mẫu-hậu, con đã nhìn thấy Đức-vua Kusa Đức-Phu-quân của con rồi, nhưng vị quan nài voi báu ngồi phía sau Đức-vua Kusa, mặt mày xấu xí đáng ghê sợ, có cử chỉ kém lịch sự như đưa tay vẫy con.

    - Muôn tâu Mẫu-hậu, tại sao để cho người xấu xí đáng ghê sợ như vậy ngồi phía sau Đức-vua Kusa được.

    Nghe Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī tâu như vậy, Mẫu-hậu khuyên bảo rằng:

    - Này con yêu quý! Người ấy có tài bảo vệ hộ giá Đức-vua Kusa, Đức-Phu-quân của con được.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī suy nghĩ rằng: “Người nài voi này sao được đặc ân tha lỗi đặc biệt quá! Ông không biết tôn trọng Đức-vua Kusa, hay người nài voi này chính là Đức-vua Kusa phải không?”

    Để giải đáp điều hoài nghi này, Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī gọi bà Khujjā nữ hầu thân cận đến truyền bảo rằng:

    - Này bà Khujjā! Khi voi báu trở về cung điện, bà nên theo dõi Đức-vua Kusa ngự trên lưng voi báu phía trước hay phía sau?

    - Muôn tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, làm sao kẻ nô tỳ biết Đức-vua Kusa được?

    - Này bà Khujjā! Khi voi báu trở về cung điện, bà nên theo dõi, vị nào từ trên lưng voi báu ngự xuống trước vị đó là Đức-vua Kusa.

    Khi voi báu hồi cung, Đức-vua Bồ-tát Kusa từ trên lưng voi báu phía sau ngự xuống trước, Đức-vua Bồ-tát Kusa nhìn xung quanh, thấy bà Khujjā nữ hầu thân cận của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī đứng lén nhìn nơi ấy, nên gọi bà lại mà bảo rằng:

    - Này bà Khujjā! Bà chớ nên tâu sự thật với Chánh- cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, mà bà phải tâu khác đi!

    Tuân lệnh Đức-vua Bồ-tát Kusa, bà Khujjā đến hầu Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī tâu khác rằng:

    “Đức-vua Kusa từ trên lưng voi báu phía trước ngự xuống trước.”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī tin theo lời tâu của bà Khujjā nữ hầu của mình.

    Một hôm, Đức-vua Bồ-tát Kusa muốn đến gần Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī để có thể nhìn thấy rõ gương mặt xinh đẹp của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, nên đến chầu đảnh lễ Mẫu-hậu, xin Mẫu-hậu giúp cho có cơ hội. Mẫu-hậu của Đức-vua Bồ-tát không thể ngăn cản được, nên truyền bảo rằng:

    - Này Hoàng-nhi yêu quý! Nếu vậy thì con giả dạng không để ai biết, rồi con ngự đến vườn thượng uyển, đứng dưới hồ nước đến cổ, lấy lá sen che đầu, lấy hoa sen che mặt lại.

    Hôm ấy, Mẫu-hậu Sīlavatī dẫn Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī ngự đi cùng đoàn thị nữ du lãm vườn thượng uyển, đi xem các đàn chim đủ loài, các đàn nai, v.v...đi đến hồ nước lớn có nhiều loại hoa sen, hoa súng đủ màu rất xinh đẹp. Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī nhìn thấy hồ nước trong, nhiều hoa sen đẹp, nên xin Mẫu-hậu cho phép xuống hồ tắm, hái hoa sen.

    Được Mẫu hậu cho phép, Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī cùng các thị nữ xuống hồ tắm. Khi ấy, Chánh- cung Hoàng-hậu Pabhāvatī nhìn thấy đóa hoa sen nở đẹp, đưa cánh tay định hái hoa sen ấy, thì Đức-vua Bồ- tát Kusa đưa tay nắm cánh tay của Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī rồi reo lên rằng: “Ta là Đức-vua Kusa!”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī nhìn thấy gương mặt của Đức-vua Bồ-tát Kusa xấu xí đáng ghê sợ, rồi kêu thất thanh rằng: “Dạ-xoa bắt tôi!”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngã xuống nước chết giấc. Đức-vua Bồ-tát Kusa buông tay của Bà ra, các thị nữ đưa Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī lên bờ nằm cấp cứu cho tỉnh lại.

    Khi ấy, Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī hồi tưởng lại những việc đã xảy ra rằng: “Người kia nắm tay ta mà reo lên rằng: “Ta là Đức-vua Kusa!”

    Trước đây, tại chuồng voi, ta đã bị chính người ấy ném phân voi; tại chuồng ngựa, ta cũng đã bị chính người ấy ném phân ngựa; nay ta lại bị chính người ấy nắm tay ta, rồi tự xưng là Đức-vua Kusa.”

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī quyết định rằng: “Ta không thể có Đức-phu-quân là Đức-vua Kusa có gương mặt xấu xí đáng ghê sợ như thế này. Ta phải bỏ Đức-vua Kusa, rồi ngự trở về kinh-thành Sāgala của ta mà thôi.”

    Sau khi quyết định, Công-chúa Pabhāvatī truyền gọi các quan theo hầu đến truyền bảo rằng:

    - Này các khanh! Các khanh hãy chuẩn bị xe cộ sẵn sàng, ta sẽ ngự trở về kinh-thành Sāgala, đất nước Madda ngay hôm nay.

    Nghe Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī truyền lệnh như vậy, các quan đến chầu Đức-vua Bồ-tát Kusa, rồi tâu ý định của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī cho Đức-vua Bồ-tát Kusa biết.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa suy xét rằng: “Nếu Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī không được ngự trở về kinh-thành Sāgala thì trái tim của nàng sẽ bị vỡ ra.

    Vậy, ta nên chấp thuận cho phép Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī ngự trở về kinh-thành Sāgala trước, rồi sau đó ta sẽ cố gắng đón rước Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngự trở lại bằng oai lực của ta.”

    Suy xét như vậy, nên cho phép Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī ngự trở về kinh-thành Sāgala.

    Sau khi Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngự đi rồi, Đức-vua Bồ-tát Kusa cũng rời khỏi vườn thượng uyển, hồi cung ngự trở về cung điện, ngự lên lâu đài với nỗi khổ tâm cùng cực.

    Vấn: - Do nguyên nhân nào mà Thái-tử Bồ-tát Kusa có thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ, nhưng được thành hôn với công-chúa Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần như vậy?

    - Do nguyên nhân nào mà Công-chúa Pabhāvatī có sắc đẹp tuyệt trần, đặc biệt có ánh sáng tỏa ra từ thân hình công-chúa suốt ngày đêm xung quanh khoảng 4 cùi tay như vậy?

    - Tại sao Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī không ưa thích Đức-vua Bồ-tát Kusa, bỏ trở về kinh-thành Sāgala?

    - Do oai lực nào mà Đức-vua Bồ-tát Kusa đưa Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī trở lại kinh-thành Kusāvatī ?

    Để giải đáp các vấn đề này, cần phải tìm hiểu về tiền- kiếp của Thái-tử Bồ-tát Kusa và tiền-kiếp của công-chúa Pabhāvatī.

    Tiền-kiếp của Thái-tử Bồ-Tát Kusa và tiền-kiếp của Công-chúa Pabhāvatī

    Thời quá khứ, trong xóm nhà có hai gia đình ở gần cửa thành Bārāṇasī, một gia đình này có hai người con trai: người anh trưởng và người em thứ là Đức-Bồ-tát (là tiền-kiếp Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa, cũng là tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama).

    Và một gia đình kia có một người con gái (là tiền- kiếp của công-chúa Pabhāvatī).

    * Gia đình bên này làm lễ cưới người con gái của gia đình bên kia đem về làm vợ của người con trưởng, Đức-Bồ-tát là con thứ chưa có vợ, nên còn ở chung với vợ chồng người anh trưởng.

    Một hôm, trong nhà người chị dâu làm bánh chiên thật ngon, nhưng Đức-Bồ-tát em chồng đi làm trong rừng từ sáng sớm, nên người chị dâu để dành một phần bánh cho Đức-Bồ-tát em chồng, phần bánh còn lại đem chia cho các người trong gia đình dùng hết sạch.

    Nhìn ra trước cửa, thấy Đức-Phật Độc-Giác ngự đi khất thực đến đứng trước cửa nhà. Khi ấy, người chị dâu của Đức-Bồ-tát nghĩ rằng:

    “Ta sẽ làm bánh chiên mới khác cho em chồng.”

    Do nghĩ như vậy, nên người chị dâu lấy phần bánh chiên dành cho người em chồng đem ra cung-kính hoan- hỷ tạo phước-thiện bố-thí cúng dường để bát đến Đức- Phật Độc-Giác. Ngay khi ấy, vừa đúng lúc Đức-Bồ-tát em chồng từ rừng trở về, người chị dâu nói với người em chồng rằng:

    - Này em trai! Chị đã lấy phần bánh chiên dành cho em đem tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Đức- Phật Độc-Giác rồi. Xin em nên phát sinh đại-thiện-tâm hoan-hỷ phần phước-thiện bố-thí cúng dường thanh cao này. Chị sẽ làm ngay bánh chiên mới khác cho em dùng.

    Nghe người chị dâu nói như vậy, Đức-Bồ-tát em chồng đã không phát sinh đại-thiện-tâm hoan-hỷ, trái lại phát sinh sân-tâm giận dữ nói với người chị dâu rằng:

    “Các người ăn phần bánh chiên của mình hết rồi, lại lấy phần bánh chiên của tôi đem tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Đức-Phật Độc-Giác nữa! Vậy, ta lấy gì để ăn bây giờ!”

    Nói bằng giọng hằn học như vậy, rồi Đức-Bồ-tát em chồng vội lấy lại phần bánh chiên từ trong bát của Đức-Phật Độc-Giác.

    Nhìn thấy người em chồng làm như vậy, người chị dâu đảnh lễ Đức-Phật Độc-Giác thỉnh Ngài chờ một lát, nàng vội đi về nhà cha mẹ mình lấy bơ lỏng mới và trong trẻo có màu giống màu hoa lan, đem về cung-kính tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đầy bát của Đức- Phật Độc-Giác, với đại-thiện-tâm vô cùng hoan-hỷ.

    Nhìn thấy bơ lỏng tỏa ra ánh sáng, nàng phát sinh đại-thiện-tâm trong sạch phát nguyện rằng:

    - Kính bạch Ngài, do phước-thiện bố-thí cúng dường bơ lỏng mới trong trẻo này, xin cho đại-thiện-nghiệp bố- thí cúng dường thanh cao này cho quả tái-sinh kiếp sau của con có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, thân hình của con có ánh sáng tỏa ra suốt ngày đêm. Và xin kiếp sau của con không sống chung cùng một nhà với người như em trai chồng này.

    Khi nghe lời phát nguyện của người chị dâu như vậy, Đức-Bồ-tát em chồng vội đem phần bánh chiên của mình đến kính xin tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đặt trong bát đầy bơ lỏng của Đức-Phật Độc-Giác, rồi xin phát nguyện rằng:

    - Kính bạch Ngài, kiếp sau của người chị dâu này, dù có ở bất cứ nơi xa xôi nào hằng trăm do tuần, xin cho kiếp sau của con cũng có khả năng đem về làm vợ của con cho được.

    * Người em trai chồng là tiền-kiếp của Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa.

    * Người chị dâu là vợ của người anh trưởng là tiền- kiếp của Công-chúa Pabhāvatī.

    Mỗi người đã tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Đức-Phật Độc-Giác với lời phát nguyện của mỗi người khác nhau như vậy.

    Kiếp sau của mỗi người

    * Sau khi người em trai chồng là Đức-Bồ-tát chết, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau làm Đức-Bồ- tát Kusa là Thái-tử của Đức-vua Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī tại kinh-thành Kusāvatī của đất nước Malla.

    * Sau khi người chị dâu, vợ của người anh trưởng chết, đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau làm công-chúa trưởng của Đức-vua Madda ngự tại kinh- thành Sāgala đất nước Madda.

    * Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa có thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ đó là quả của ác-nghiệp sân giận dữ trong tiền-kiếp của Đức-Bồ-tát lấy lại phần bánh chiên của mình từ trong bát của Đức-Phật Độc-Giác.

    Và phước-thiện bố-thí cúng dường đặt bát lại phần bánh chiên của mình đến Đức-Phật Độc-Giác, rồi phát nguyện rằng:

    “- Kính bạch Ngài, kiếp sau của người chị dâu này, dù có ở bất cứ nơi xa xôi nào hằng trăm do tuần, xin cho kiếp sau của con cũng có khả năng đem về làm vợ của con cho được.”

    Kiếp hiện-tại Đức-vua Bồ-tát Kusa làm lễ thành hôn với công-chúa Pabhāvatī, rồi tấn phong lên ngôi Chánh- cung Hoàng-hậu, do năng lực lời phát nguyện trong tiền-kiếp của Đức-Bồ-tát.

    * Công-chúa Pabhāvatī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, có ánh sáng tỏa ra từ thân hình của cô suốt ngày đêm xung quanh khoảng 4 cùi tay, đó là quả báu của phước-thiện bố-thí cúng dường bơ lỏng mới trong trẻo đến Đức-Phật Độc-Giác, với đại-thiện-tâm trong sạch vô cùng hoan-hỷ.

    Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī khi biết Đức-vua Kusa có gương mặt xấu xí đáng ghê sợ, nên Bà bỏ Đức-vua Bồ-tát Kusa ngự trở về lại kinh-thành Sāgala, do lời phát nguyện trong tiền-kiếp của Bà.

    Sau khi Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngự trở về kinh-thành Sāgala. Còn Đức-vua Bồ-tát Kusa ngự tại kinh-thành Kusāvatī, tuy có nhiều công-chúa xinh đẹp, nhưng Đức-vua Bồ-tát Kusa không quan tâm đến người nào cả, suốt đêm chỉ nhớ tưởng đến Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī mà thôi.

    Sáng ngày hôm sau, Đức-vua Bồ-tát Kusa đến chầu đảnh lễ Mẫu-hậu, rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Mẫu-hậu, con xin giao ngai vàng lại cho Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu, con xin rời khỏi kinh- thành Kusāvatī, ngự đi đến kinh-thành Sāgala tìm gặp lại Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī của con.

    Nghe Đức-vua Bồ-tát Kusa tâu như vậy, Mẫu-hậu của Đức-Bồ-tát vô cùng khổ tâm truyền bảo rằng:

    - Này Hoàng nhi yêu quý! Con hãy nên bảo trọng!

    Mẫu-hậu chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho Đức-vua Bồ- tát Kusa. Nhận mọi thứ cần thiết ấy, Đức-vua Bồ-tát Kusa đảnh lễ Mẫu-hậu, tâu rằng:

    - Muôn tâu Mẫu hậu, nếu con còn sống trên đời thì con sẽ ngự trở về chầu Mẫu-hậu.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa xin phép bái biệt Mẫu-hậu.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa trở về phòng lấy 5 loại khí giới đeo bên mình và mang theo một chiếc đàn, giả dạng như người bình thường rời khỏi kinh-thành Kusāvatī, lên đường hướng về kinh-thành Sāgala.

    Đức-Bồ-tát Kusa có sức mạnh phi thường ngự đi đến kinh-thành Sāgala khoảng cách hơn 100 do tuần do oai lực của Đức-Bồ-tát.

    Khi đến kinh-thành Sāgala, Đức-Bồ-tát Kusa xin nghỉ nhờ đêm chỗ người nuôi voi báu của Đức-vua Madda.

    Do oai lực của Đức-Bồ-tát Kusa, nên Công-chúa Pabhāvatī không thể nằm trên giường ngủ, mà phải xuống nằm dưới nền để ngủ.

    Ngủ nghỉ khỏe xong, Đức-Bồ-tát Kusa thức dậy, đem chiếc đàn ra gảy, vừa gảy đàn vừa ca hát, tiếng đàn đường dương, lời ca làm xúc động lòng người, với ý nghĩ cho Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī nghe rõ, những người trong cung điện và dân chúng trong kinh- thành đều nghe rõ tiếng đàn và lời ca này.

    Công-chúa Pabhāvatī nằm ngủ trên nền nghe tiếng đàn và lời ca liền biết ngay đó là tiếng đàn và lời ca của Đức-vua Kusa. Và Đức-vua Madda nghe tiếng đàn và lời ca hay chưa từng nghe bao giờ nên nghĩ rằng:

    “Ai gảy đàn và ca nghe hay quá! Ngày mai mời người ấy vào cung điện trình diễn cho ta và hoàng gia nghe.”

    Đức-Bồ-tát Kusa nghĩ rằng: “Ta ở chỗ này không thể nhìn thấy Công-chúa Pabhāvatī.”

    Sáng sớm, Đức-Bồ-tát Kusa di chuyển sang chỗ khác.

    * Tìm đến chỗ làm các đồ gốm cho Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và các Công-chúa dùng, Đức- Bồ-tát Kusa xin vào làm học trò cốt để làm những món đồ gốm đẹp đặc biệt cho Công-chúa Pabhāvatī dùng, nhưng khi nhận các món đồ gốm xinh đẹp ấy, Công- chúa Pabhāvatī biết các món đồ ấy là do bàn tay của Đức-vua Kusa làm ra, nên Công-chúa Pabhāvatī không dùng món đồ ấy.

    Biết như vậy, Đức-Bồ-tát Kusa đổi chỗ làm khác.

    * Tìm đến chỗ làm các đồ đan cho Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và 8 cô Công-chúa dùng, Đức- Bồ-tát Kusa xin vào làm học trò, cốt để làm những món đồ đan xinh đẹp đặc biệt cho Công-chúa Pabhāvatī dùng, nhưng khi nhận các món đồ đan xinh đẹp ấy, Công-chúa Pabhāvatī biết các món đồ ấy là do bàn tay của Đức-vua Kusa làm ra, nên Công-chúa không dùng món đồ đan ấy.

    Biết như vậy, Đức-Bồ-tát Kusa đổi chỗ làm khác.

    * Tìm đến chỗ kết vòng hoa cho Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và các Công-chúa trang sức, Đức-Bồ-tát Kusa xin vào làm học trò, cốt để làm những vòng hoa xinh đẹp cho Công-chúa Pabhāvatī trang sức, nhưng khi nhận các vòng hoa xinh đẹp ấy, Công-chúa Pabhāvatī biết các vòng hoa ấy là do bàn tay của Đức- vua Kusa kết ra, nên Công-chúa Pabhāvatī không chịu dùng trang sức ấy.

    Biết như vậy, Đức-Bồ-tát Kusa đổi chỗ làm khác.

    * Tìm đến chỗ nấu nướng đồ ăn cho Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và các Công-chúa dùng, Đức- Bồ-tát Kusa xin vào làm phụ bếp, cốt để làm những món đồ ăn ngon đặc biệt cho Công-chúa Pabhāvatī dùng.

    Đức-vua Madda biết có một người phụ đầu bếp mới tài giỏi, nên truyền bảo với người trưởng bếp rằng:

    - Này người trưởng bếp! Hằng ngày ngươi mang đồ ăn dâng đến Trẫm và Chánh-cung Hoàng-hậu, còn người phụ đầu bếp mới tài giỏi ấy mang đồ ăn dâng đến 8 cô Công-chúa của Trẫm.

    Nghe Đức-vua truyền bảo như vậy, người trưởng bếp về nói lại với Đức-Bồ-tát Kusa theo lệnh Đức-vua.

    Nghe Đức-vua Madda truyền bảo như vậy, Đức-Bồ- tát Kusa cảm thấy vô cùng hoan-hỷ, bởi vì ước nguyện gặp lại Công-chúa Pabhāvatī chắc chắn sẽ được như ý vào ngày hôm sau.

    Đức-Bồ-tát Kusa gặp Công-chúa Pabhāvatī

    Sáng hôm ấy, Đức-Bồ-tát Kusa nấu nướng đồ ăn dành cho Đức-vua Madda và Chánh-cung Hoàng-hậu, giao cho người trưởng bếp đem đi dâng lên Đức-vua Madda và Chánh-cung Hoàng-hậu, còn các phần ăn của tám cô Công-chúa thì đặt cẩn thận vào hai bên làn bằng mây đựng đồ ăn (bhattakāja), Đức-Bồ-tát Kusa hớn hở gánh hai chiếc làn đựng đầy đồ ăn ngự bước lên lâu đài của Công- chúa Pabhāvatī.

    Nhìn thấy Đức-vua Kusa đang gánh các phần ăn ngự bước lên lâu đài, Công-chúa Pabhāvatī nghĩ rằng:

    “Đức-vua Kusa ngự đến cung điện này làm những công việc của những người tôi tớ, người làm công, thật không thích hợp với Đức-vua Kusa có oai lực phi thường, là Đức-vua của đất nước lớn, cũng là Đức-vua cao cả nhất trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Nếu ta làm thinh không nói 2-3 ngày thì Đức-vua Kusa tưởng rằng: “Nay Công-chúa Pabhāvatī có cảm tình, thương yêu ta rồi!”

    Đức-vua Kusa sẽ ở lại đây, không chịu ngự trở về kinh-thành Kusāvatī. Vậy, ta nên chê trách Đức-vua một cách thậm tệ, làm cho Đức-vua thất vọng, khổ tâm vì hổ thẹn mà mau rời khỏi nơi này.”

    Công-chúa Pabhāvatī mở hé cánh cửa, tay vẫn giữ cánh cửa, đứng bên trong tâu với Đức-vua Kusa rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương có oai lực phi thường, là Đức-vua của đất nước lớn, cũng là Đức-vua cao cả nhất trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

    Đại-vương ngự đến cung điện này làm người phụ đầu bếp, gánh đồ ăn ngự đến đây với tâm không trong sáng, Đại-vương chịu bao nhiêu nỗi khổ thân khổ tâm suốt ngày đêm, Đại-vương sẽ được sự lợi ích gì với công việc vất vả khổ cực như vậy!

    Xin thỉnh Đại-vương ngự trở về kinh-thành Kusāvatī của Đại-vương, rồi tấn phong nàng Dạ-xoa xấu xí đáng ghê sợ như Đại-vương lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu, rồi an hưởng trên ngai vàng.

    Còn tiện thiếp hoàn toàn không ưa thích Đại-vương có gương mặt xấu xí đáng ghê sợ như vậy!

    Xin thỉnh Đại-vương mau ngự ra khỏi kinh-thành Sāgala này.

    Hôm nay, Đức-Bồ-tát Kusa vô cùng hoan-hỷ được nghe tiếng nói của Công-chúa Pabhāvatī, nên vui mừng hớn hở truyền bảo rằng:

    - Này ái-khanh Pabhāvatī yêu quý! Quả-nhân yêu tha thiết ái-khanh, nên không thể ngự trở về kinh-thành Kusāvatī được. Quả-nhân rất hài lòng được nhìn thấy ái-khanh, nên đã từ bỏ ngai vàng, kinh-thành Kusāvatī, cả đất nước Malla rộng lớn, ngự đến kinh-thành Sāgala, ở trong cung điện của Đức-vua Madda này.

    - Này ái-khanh Pabhāvatī yêu quý! Quả-nhân yêu thương ái-khanh, nên không còn biết phương hướng nữa. Quả-nhân chỉ cần có ái-khanh mà thôi, không cần ngai vàng ngôi vị Đế-vương.

    Nghe Đức-vua Kusa truyền bảo như vậy, Công-chúa Pabhāvatī nghĩ rằng:

    “Ta chê trách Đức-vua Kusa một cách thậm tệ như vậy, với hy vọng làm cho Đức-vua Kusa thất vọng, khổ tâm vì hổ thẹn mà mau rời khỏi kinh-thành Sāgala này, nhưng trái lại Đức-vua Kusa truyền bảo lời yêu thương tha thiết ta. Nếu Người truyền bảo rằng:

    ‘Ta là Đức-vua Kusa đây!’ Rồi ngự đến nắm tay của ta thì ai dám ngăn cấm Người được.”

    Nghĩ vậy, nên Công-chúa Pabhāvatī lùi vào bên trong, đóng cánh cửa, cài chốt lại rồi ngồi trong phòng.

    Thấy Công-chúa Pabhāvatī đóng cánh cửa kín, Đức- Bồ-tát Kusa gánh các phần ăn ngự đến dâng bảy công- chúa khác.

    Công-chúa Pabhāvatī truyền gọi bà Khujjā nữ hầu thân cận đến bảo rằng:

    - Này bà Khujjā! Bà hãy đi lấy phần ăn của ta đến đây. Vâng lệnh Công-chúa Pabhāvatī, bà Khujjā đem phần ăn lại, rồi tâu rằng:

    - Tâu Công-chúa, xin mời Công-chúa dùng bữa. Công-chúa Pabhāvatī truyền bảo rằng:

    - Này bà Khujjā! Ta không dùng các món ăn mà chính bàn tay của Đức-vua Kusa nấu nướng.

    Vậy, bà hãy dùng phần ăn ấy, còn phần ăn của bà đem dâng cho ta dùng.

    - Này bà Khujjā! Bà không được nói cho một ai biết Đức-vua Kusa đang hiện diện tại nơi đây.

    Từ đó về sau, bà Khujjā dùng phần ăn của Công-chúa Pabhāvatī, đem phần ăn của bà dâng đến Công-chúa Pabhāvatī dùng. Và cũng bắt đầu từ ngày đó, Đức-Bồ- tát Kusa không còn nhìn thấy Công-chúa Pabhāvatī.

    Đức-Bồ-tát Kusa suy nghĩ rằng: “Không biết Công- chúa Pabhāvatī có còn thương nhớ đến ta nữa hay không?” Ta nên thử xem cho biết.

    Một hôm, sau khi đã đem dâng các phần ăn đến bảy cô công-chúa xong rồi, Đức-Bồ-tát Kusa gánh đôi làn không ngự xuống lâu đài, vừa đến gần cửa phòng của Công-chúa Pabhāvatī, giả bị vấp ngã nằm trên nền làm như bất tỉnh.

    Nghe có tiếng người vấp ngã, đồ đổ vỡ, Công-chúa Pabhāvatī biết là Đức-vua Kusa bị vấp ngã, nên mở cửa ra nhìn, thấy Đức-vua Kusa nằm trên nền, cây đòn gánh đè ngang trên cổ, Công-chúa Pabhāvatī suy nghĩ rằng:

    “Đức-vua Kusa là Đức-vua cao cả nhất trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, ngự đến đây không ai hay biết, chịu bao nỗi khổ thân, khổ tâm chỉ vì ta mà thôi.

    Đức-vua Kusa là người an hưởng mọi sự an-lạc trong đời, không quen vất vả khổ cực. Nay, hằng ngày Đức- vua Kusa phải nấu nướng, làm các món ăn xong, rồi gánh các phần ăn đem dâng đến tám cô công-chúa.

    Bây giờ, Đức-vua Kusa bị vấp ngã nằm bất tỉnh, sinh mạng của Người hiện nay như thế nào?”

    Suy nghĩ như vậy, nên Công-chúa Pabhāvatī ngự ra khỏi phòng đến cúi đầu xuống gần sát gương mặt để xem hơi thở nơi hai lỗ mũi của Đức-vua Kusa. Khi ấy, Đức-Bồ-tát Kusa ngậm đầy nước miếng trong miệng phun ra trên mặt của Công-chúa Pabhāvatī.

    Công-chúa Pabhāvatī nổi cơn thịnh nộ trách Đức-vua Kusa, rồi ngự ngay vào phòng đóng cửa để hở, đứng bên trong tâu với Đức-vua Kusa rằng:

    - Tâu Đại-vương, người nào yêu thương người khác, mà người khác không yêu thương đáp lại, người ấy chỉ có sự thất vọng mà thôi.

    Tiện nữ không yêu thương Đại-vương, mà Đại-vương muốn làm cho tiện nữ yêu thương Đại-vương sao được!

    Nghe Công-chúa Pabhāvatī tâu như vậy, nhưng Đức- Bồ-tát Kusa không phát sinh cơn thịnh nộ, bởi vì Đức- Bồ-tát Kusa yêu say đắm Công chúa Pabhāvatī, nên truyền bảo với Công-chúa Pabhāvatī rằng:

    - Này Công-chúa Pabhāvatī! Người nào không được người khác yêu, mà người ấy thuyết phục được người không yêu trở thành người yêu của mình.

    Ta tán dương ca tụng người ấy. Nếu thuyết phục không được thì chỉ là người tầm thường mà thôi.

    Nghe Đức-vua Kusa truyền bảo như vậy, Công-chúa Pabhāvatī tâu với lời lẽ đanh thép, để cho Đức-vua Kusa không còn hy vọng gì nữa mà ngự ra khỏi kinh-thành Sāgala này, nên tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương yêu thương tiện nữ mà tiện nữ chẳng hề yêu thương Đại-vương chút nào, ví như Đại-vương dùng cành cây khô mục mà phá đá để lấy viên ngọc quý, hoặc lấy lưới sưa đặt ngăn gió vậy!

    Nghe Công-chúa Pabhāvatī tâu như vậy, Đức-Bồ-tát Kusa truyền bảo rằng:

    - Này Công-chúa Pabhāvatī! Đá đã được chôn trong trái tim của Công-chúa xinh đẹp dịu dàng có phải vậy không? Bởi vì từ khi quả-nhân rời khỏi kinh-thành Kusāvatī ngự đến kinh-thành Sāgala, làm việc nấu nướng đồ ăn cho Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng- hậu và tám cô công-chúa, quả nhân chưa nhận được sự đón tiếp niềm nở của ái-khanh, chưa được nghe lời yêu thương của ái-khanh.

    - Này ái-khanh! Nếu ái-khanh còn có thái độ thờ ơ, lãnh đạm với Trẫm thì Trẫm vẫn còn là người phụ bếp trong cung điện của Đức-vua Madda.

    Nếu khi nào, ái-khanh đón tiếp Trẫm một cách niềm nở, hớn hở vui mừng chuyện trò thân mật với Trẫm thì khi ấy Trẫm sẽ bỏ công việc phụ bếp, Trẫm cùng ái-khanh ngự trở về kinh-thành Kusāvatī lên ngôi vua như trước.

    - Này ái-khanh! Tại sao ái-khanh đối xử với Trẫm như vậy? Từ nay, xin ái-khanh đừng có thái độ lãnh đạm với Trẫm như vậy nữa.

    Nghe Đức-vua Kusa truyền bảo như vậy, Công-chúa Pabhāvatī nghĩ rằng:

    “Đức-vua Kusa càng truyền bảo lại càng ràng buộc khắng khít nơi ta. Như vậy, ta nên tâu dối để Đức-vua Kusa không còn hy vọng nơi ta nữa, mà ngự trở về kinh- thành Kusāvatī”. Công-chúa Pabhāvatī tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, tiện nữ đã từng hỏi nhóm thầy đoán số rằng: “Đức-vua Kusa là Đức-phu quân của ta có phải hay không?”

    Họ đều đoán rằng: “Đức-vua Kusa không phải là Đức-phu quân của Bà.”

    Nếu lời đoán số của các thầy ấy là đúng thì Đại-vương chắc chắn không phải là Đức-phu quân của tiện nữ.

    Nghe Công-chúa Pabhāvatī tâu như vậy, Đức-Bồ-tát Kusa truyền bảo rằng:

    - Này ái-khanh! Nếu quả-nhân hỏi các thầy đoán số trong đất nước của Trẫm thì họ chắc chắn đoán rằng: “Đức-Phu quân của Công-chúa Pabhāvatī chỉ có Đức- vua Kusa có giọng nói như sư tử rống mà thôi.

    Ngoài Đức-vua Kusa ra, chẳng còn ai khác nữa.” Nghe Đức-vua Kusa truyền bảo như vậy, Công-chúa Pabhāvatī nghĩ rằng:

    “Ta không còn cách nào để cho Đức-vua Kusa rời khỏi kinh-thành Sāgala, ngự trở về kinh-thành Kusāvatī được. Đức-vua Kusa không phải là gì đối với ta nữa.”

    Nghĩ vậy, Công-chúa Pabhāvatī đóng kín cánh cửa phòng không cho Đức-vua Kusa thấy nàng nữa.

    Đức-Bồ-tát Kusa gánh những thứ đựng đồ ăn bước xuống lâu đài. Từ đó không còn nhìn thấy Công-chúa Pabhāvatī nữa.

    Hằng ngày đêm, Đức-Bồ-tát Kusa làm mọi công việc vô cùng vất vả. Ban đêm Đức-Bồ-tát Kusa nằm ngủ tại nhà bếp, thức dậy sớm, nấu cháo, nấu các món ăn sáng để dâng đến Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và tám cô công chúa xong, rồi trở lại nhà bếp, bổ củi, gánh nước, rửa nồi niêu, bát đĩa, nấu nướng các món ăn để dâng lên Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và tám cô công chúa vào bữa ăn trưa và bữa ăn tối.

    Sở dĩ, Đức-Bồ-tát Kusa chịu đựng bao nhiêu nỗi khổ thân, khổ tâm vất vả suốt ngày đêm như vậy, là vì quá yêu say đắm Công-chúa Pabhāvatī.

    Một hôm, nhìn thấy bà Khujjā, người hầu thân cận của Công chúa Pabhāvatī, Đức-Bồ-tát Kusa ngự đến gặp bà, nhờ bà tâu với Công-chúa Pabhāvatī đến gặp Đức- vua Kusa, và nói chuyện thân mật với Đức-vua Kusa.

    Nếu bà có khả năng làm được như vậy, Đức-vua Kusa sẽ ban thưởng xứng đáng cho bà.

    Bà Khujjā hứa với Đức-Bồ-tát Kusa, bà sẽ cố gắng tâu với Công-chúa Pabhāvatī.

    Một hôm, bà Khujjā có cơ hội tâu với Công-chúa Pabhāvatī rằng:

    - Tâu Công-chúa, xin Công-chúa không nên thấy mình xinh đẹp tuyệt trần mà coi thường Đức-vua Kusa xấu xí đáng ghê sợ.

    Thật ra, Công-chúa biết rõ trong tâm rằng:

    * Đức-vua Kusa có oai lực phi thường, không có Đức-vua nào địch nổi.

    * Đức-vua Kusa là Thái-tử của Đức Thái-thượng-hoàng Okkāka, là Đại-vương ngự tại kinh-thành Kusāvatī, trị vì đất nước Malla rộng lớn,...

    * Đức-vua Kusa là Đại-vương cao cả trong cõi Nam-thiện-bộ-châu,...

    * Đức-vua Kusa có giọng nói như sư tử rống, giọng nói hùng dũng, giọng nói trầm hùng, khiến cho những kẻ thù đều khiếp sợ.

    * Đức-vua Kusa cũng có giọng nói ngọt ngào,...

    Bà Khujjā đã cố gắng diễn tả các tài đức của Đức-vua Kusa lớn lao không có Đức-vua nào trong cõi Nam- thiện-bộ-châu này có thể sánh được. Còn gương mặt xấu xí chỉ là bên ngoài thân thể không đáng kể, để cho Công- chúa Pabhāvatī không nên ỷ lại vào sắc đẹp tuyệt trần của mình mà coi thường Đức-vua Kusa xấu xí.

    Nếu Công-chúa Pabhāvatī nhận thức rõ những điều ấy thì phát sinh tâm yêu thương Đức-vua Kusa, nên đến hầu chuyện thân mật với Đức-vua Kusa.

    Nghe bà Khujjā, người hầu thân cận của mình tán dương ca tụng tài đức của Đức-vua Kusa mà chê trách mình, nên Công-chúa Pabhāvatī nổi cơn thịnh nộ quở trách bà Khujjā, nhưng bà Khujjā không sợ lại còn hăm dọa Công-chúa Pabhāvatī rằng:

    - Tâu Công-chúa, nếu Công-chúa không đến hầu Đức-vua Kusa, không hầu chuyện thân mật với Đức-vua Kusa thì con sẽ tâu lên Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu của Công-chúa về sự hiện diện của Đức-vua Kusa tại trong cung điện này.

    Nghe bà Khujjā tâu như vậy, Công-chúa Pabhāvatī hoảng sợ năn nỉ khẩn khoản bà Khujjā xin đừng tâu chuyện này lên Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu của Bà.

    Đức-Bồ-tát Kusa thất vọng

    Đức-Bồ-tát Kusa chịu bao nhiêu nỗi khổ thân khổ tâm, vất vả suốt ngày đêm lo việc nấu nướng các món đồ ăn để dâng lên Đức-vua Madda, Chánh-cung Hoàng-hậu và tám cô công chúa, với hy vọng mong gặp được Công- chúa Pabhāvatī để chuyện trò thân mật, nhưng chờ đợi suốt bảy tháng qua mà vẫn chưa được như ý, nên Đức- Bồ-tát Kusa nghĩ rằng:

    “Bà Khujjā đã hứa giúp đỡ ta gặp được Công-chúa Pabhāvatī, nhưng mãi đến nay vẫn không có tin gì cả. Cuộc sống của ta tại nơi này chỉ là vô vọng mà thôi. Vậy, ta nên ngự trở về kinh-thành Kusāvatī, để thăm viếng Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu của ta là hơn.”

    Đức-vua Trời Sakka giúp Đức-Bồ-tát Kusa

    Khi ấy, trên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên, Đức-vua-trời Sakka thấy và biết nỗi khổ tâm thất vọng của Đức- Bồ-tát Kusa, nên nghĩ rằng:

    “Ta nên giúp Đức-Bồ-tát Kusa gặp được Công-chúa Pabhāvatī để mọi nguyện vọng của Đức-Bồ-tát Kusa được thành tựu như ý.”

    Đức-vua-trời Sakka truyền lệnh 7 vị thiên-nam hóa thành 7 sứ giả của Đức-vua Madda đến chầu 7 Đức-vua tại 7 kinh-thành đều tâu giống nhau rằng:

    - “Muôn tâu Đại-vương, Công-chúa Pabhāvatī xinh đẹp tuyệt trần như thiên nữ, đã bỏ Đức-vua Kusa tại kinh-thành Kusāvatī, ngự trở về kinh-thành Sāgala rồi. Nếu Đại-vương có nguyện vọng muốn được Công-chúa thì xin Đại-vương ngự đến kinh-thành Sāgala, xin làm lễ rước Công-chúa Pabhāvatī ngự trở về kinh-thành, rồi tấn phong lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu của Đại-vương.”

    Nghe mỗi sứ giả tâu như vậy, mỗi Đức-vua vô cùng hoan-hỷ liền truyền lệnh chuẩn bị các đoàn binh sẵn sàng, Đức-vua dẫn đầu các đoàn binh ngự đến kinh- thành Sāgala.

    Bảy Đức-vua của 7 kinh-thành của 7 nước gặp nhau vấn an lẫn nhau, rồi hỏi ý định ngự đến kinh-thành Sāgala này, thì được biết 7 Đức-vua đều có một ý định giống nhau. Mỗi Đức-vua đều nổi cơn thịnh nộ đối với Đức-vua Madda rằng:

    “Đức-vua Madda có một Công-chúa Pabhāvatī mà đem ban đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành của 7 nước. Đức-vua Madda đã làm một việc không hợp pháp. Vậy, chúng ta nên bắt Đức-vua Madda đem ra hỏi tội.”

    Bảy Đức-vua dẫn đầu các đoàn binh tiến vào sát kinh- thành Sāgala chờ lệnh. Mỗi Đức-vua truyền lệnh cho sứ giả đem tối hậu thư đến trình lên Đức-vua Madda với lời lẽ giống nhau rằng:

    “Tâu Đức-vua Madda, xin Đức-vua ban Công-chúa Pabhāvatī cho bổn vương hay chiến tranh.”

    Đức-vua Madda cùng một lúc tiếp kiến 7 sứ giả của 7 kinh-thành của 7 nước và nhận 7 tối hậu thư với lời lẽ giống nhau. Đức-vua Madda vô cùng hoảng sợ truyền lệnh các quan văn võ hội triều gấp, Đức-vua trình bày sự việc xảy ra như vậy, nên truyền hỏi các quan rằng:

    - Này các khanh! Sự việc xảy ra như vậy, Trẫm nên làm thế nào, xin các khanh tâu trình cho Trẫm rõ?

    Nghe Đức-vua truyền hỏi như vậy, vị quan tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ hạ, 7 Đức-vua của 7 kinh-thành của 7 nước ngự đến vây bên ngoài kinh-thành của chúng ta chỉ vì muốn được Công-chúa Pabhāvatī. Nếu không được như ý thì 7 Đức-vua truyền lệnh phá thành tiến vào bắt Bệ-hạ và Công-chúa Pabhāvatī. Vậy, Bệ-hạ nên ban Công-chúa Pabhāvatī cho các Đức-vua trước, để tránh cửa thành bị phá và Bệ-hạ bị bắt trị tội.

    Nghe vị quan tâu như vậy, Đức-vua Madda truyền bảo rằng:

    - Này các khanh! Nếu Trẫm ban Công-chúa Pabhāvatī đến một Đức-vua của kinh-thành này thì 6 Đức-vua của 6 kinh-thành kia sẽ gây chiến với chúng ta.

    Cho nên, Trẫm không thể ban Công-chúa Pabhāvatī đến một Đức-vua nào được. Sự thật, nguyên nhân xảy ra hôm nay là do Công-chúa Pabhāvatī của Trẫm, bởi vì Công-chúa Pabhāvatī có tính ngã mạn ỷ lại vào sắc đẹp tuyệt trần của mình mà chê Đức-vua Kusa xấu xí, rồi đã bỏ Đức-vua Kusa là một Đức-vua có oai lực phi thường, là Đức-vua cao cả nhất trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này. Cho nên, chính Công-chúa Pabhāvatī của Trẫm phải chịu hậu quả của nghiệp mà mình đã tạo.

    Trẫm sẽ truyền lệnh cho đao phủ giết Công-chúa Pabhāvatī, chặt thân hình Công-chúa ra làm 7 phần, rồi đem ban đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành, để tránh khỏi tai họa chiến tranh phá thành, tránh khỏi sự chết chóc thê thảm.

    Đức-vua Madda truyền bảo như vậy, trong cung điện đều hay biết, các nữ tỳ của Công-chúa Pabhāvatī đến tâu lệnh truyền của Đức-vua Madda cho Công-chúa Pabhāvatī biết.

    Công-chúa Pabhāvatī vô cùng kinh sợ, trên gương mặt đầy nước mắt, vội đến lâu đài chầu Mẫu-hậu, tâu với Mẫu-hậu với lời than vãn rằng:

    - Muôn tâu Mẫu-hậu, Đức-Phụ-vương truyền lệnh cho đao phủ giết con, chặt thân hình của con ra làm 7 phần, rồi đem ban đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành.

    - Muôn tâu Mẫu-hậu, 7 Đức-vua ấy sẽ ném phần thân thể của con cho các con chim kên kên, diều hâu,... cắn xé nhau ăn thịt, hoặc các loài thú rừng tranh giành nhau ăn thịt.

    - Muôn tâu Mẫu-hậu, kính xin Mẫu-hậu truyền lệnh cho lính gôm nhặt các xương ấy lại, rồi thiêu ra tro, rải trên mặt đất, Mẫu-hậu truyền lệnh làm vườn hoa, trồng cây hoa kaṇikā. Khi nào đến mùa kaṇikā nở rộ, khi ấy, Mẫu-hậu nhớ đến con rằng: “Công-chúa Pabhāvatī của ta có màu da giống như hoa kaṇikā như thế này.”

    Công-chúa Pabhāvatī bị sự chết hăm dọa, nên than vãn, trối trăng với Mẫu-hậu của mình như vậy.

    Còn Đức-vua Madda truyền lệnh gọi tên đao phủ mang thanh đao bén đến, đặt thanh đao phía trước Đức- vua, đứng chờ lệnh.

    Khi ấy, Mẫu-hậu của Công-chúa Pabhāvatī có vẻ mặt sầu thảm, khóc than, ngự đến chầu Đức-vua Madda, nhìn thấy thanh đao và tên đao phủ đứng chầu chờ lệnh, Chánh-cung Hoàng-hậu khóc than thảm thiết tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-Thượng, Hoàng-Thượng sẽ truyền lệnh giết Công-chúa Pabhāvatī của thần thiếp bằng thanh đao này, chặt thi thể ra làm 7 phần rồi ban đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành thật vậy hay sao?

    Nghe Chánh-cung Hoàng-hậu tâu như vậy, Đức-vua Madda truyền bảo cho Chánh-cung Hoàng-hậu hiểu rằng:

    - Này Ái-khanh! Công-chúa Pabhāvatī của Ái-khanh xinh đẹp tuyệt trần có tính tự cao mà chê Đức-vua Kusa xấu xí, rồi bỏ Đức-vua Kusa có oai lực phi thường, là Đức-vua cao cả nhất trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu.

    Như vậy, Công-chúa Pabhāvatī của Ái-khanh đã chuốc lấy cái chết cho mình, nên ngày nay phải chịu quả khổ của ác-nghiệp của mình. Trẫm đành phải truyền lệnh như vậy, để tránh khỏi tai họa chiến tranh xảy ra, tránh khỏi cảnh chết chóc thê thảm.

    Nghe Đức-vua Madda truyền bảo như vậy, nên Chánh-cung Hoàng-hậu đảnh lễ Đức-vua, xin phép ngự đến lâu đài Công-chúa Pabhāvatī, than vãn rằng:

    - Này Pabhāvatī yêu quý! Mẫu-hậu đành bất lực không thể cứu sống con được, Đức-Phụ-vương của con không chịu làm theo lời khẩn khoản của Mẫu-hậu.

    Hôm nay, thân hình của con sẽ bị chặt ra làm 7 phần, con sẽ gặp tử thần một cách rất thê thảm.

    - Này Pabhāvatī yêu quý! Nếu người con nào không vâng lời cha mẹ là người mà luôn luôn mong muốn những sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài cho con mình, thì người con ấy phải chịu quả khổ như vậy.

    Nếu ngày trước con có được một Đức-vua Kusa khôi ngô tuấn tú thì con sẽ được hạnh phúc an-lạc trong hoàng gia biết dường nào!

    Ngày nay con đâu phải chịu cảnh khốn khổ, chịu chết thê thảm như thế này.

    Mẫu-hậu của Công-chúa Pabhāvatī than vãn như vậy, rồi Bà thốt lên rằng:

    - Nếu hôm nay, giả sử có Đức-vua Kusa oai lực phi thường, có giọng nói như sư tử rống, có thể cầm quân xuất trận đánh đuổi 7 Đức-vua của 7 kinh-thành hoảng sợ bỏ chạy thoát thân, cứu sống Công-chúa Pabhāvatī của ta thì hay biết chừng nào! Không biết hiện giờ, Đức-vua Kusa đang ngự nơi nào?

    Nghe Mẫu-hậu tán dương ca tụng Đức-vua Kusa như vậy, Công-chúa Pabhāvatī nghĩ rằng:

    “Đức-vua Kusa đang ngự trong cung điện, hằng ngày lo công việc nấu nướng, làm các món ăn dâng Đức-Phụ-vương, Mẫu-hậu, ta và bảy cô công-chúa.

    Vậy, bây giờ ta nên tâu cho Mẫu-hậu của ta biết:

    - Muôn tâu Mẫu-hậu kính yêu! Đức-vua Kusa có oai lực phi thường, có giọng nói như sư tử rống, có thể cầm quân xuất trận đánh đuổi 7 Đức-vua của 7 kinh-thành hoảng sợ bỏ chạy thoát thân. Đức-vua Kusa đang hiện diện tại nơi cung điện này. Tâu Mẫu-hậu.

    Nghe Công-chúa Pabhāvatī tâu như vậy, Mẫu-hậu của Công-chúa nghĩ rằng: “Công-chúa Pabhāvatī của ta quá sợ chết, nên nói xàm như vậy.”

    Mẫu hậu của Công-chúa truyền bảo rằng:

    - Này Pabhāvatī! Con điên rồi hay sao mà nói xàm như vậy, hay con là đứa vô giáo dục, mới có thể nói như vậy. Nếu Đức-vua Kusa ngự đến kinh-thành Sāgala thì tại sao Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu không hề hay biết? Con quá sợ chết rồi nói xàm có phải vậy không?

    Khi Mẫu-hậu truyền bảo như vậy, Công-chúa Pabhāvatī nghĩ rằng:

    “Mẫu hậu không tin lời của ta, và không biết Đức- vua Kusa đã ngự đến đây suốt 7 tháng qua. Vậy, ta sẽ chỉ Đức-vua Kusa cho Mẫu-hậu của ta thấy.”

    Công-chúa Pabhāvatī liền nắm tay của Mẫu-hậu đến mở cánh cửa sổ, đưa tay chỉ về phía nhà bếp, để cho Mẫu-hậu nhìn xuống, rồi tâu rằng:

    - Muôn tâu Mẫu-hậu kính yêu! Đức-vua Kusa giả dạng làm người đầu bếp đang đứng rửa các nồi niêu, bát đĩa tại nhà bếp gần lâu đài của các con.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Kusa nghĩ rằng:

    “Hôm nay, nguyện vọng của ta chắc chắn sẽ được thành tựu như ý, bởi vì Công-chúa Pabhāvatī quá sợ chết, nên tâu với Mẫu-hậu và Đức-Phụ-vương biết rằng: Ta đang hiện diện ngự trong cung điện này.”

    Đức-Bồ-tát Kusa ngự đi lấy nước về tiếp tục rửa các bát đĩa còn lại, rồi dọn dẹp gọn gàng sạch sẽ.

    Nghe Công-chúa Pabhāvatī tâu như vậy, Mẫu-hậu quở mắng Công-chúa Pabhāvatī rằng:

    - Này Pabhāvatī! Con là đứa con hư đốn! Con đã làm hại hoàng gia rồi!

    Con là Công-chúa của Đức-vua Madda, là Chánh-cung Hoàng-hậu của Đức-vua Kusa, tại sao con để Đức-vua Kusa, Phu-quân của con làm người tôi tớ như vậy?

    Công-chúa Pabhāvatī bị Mẫu-hậu quở mắng, nên tâu cho Mẫu-hậu rõ rằng:

    - Muôn tâu Mẫu-hậu kính yêu, con đâu phải là gái hư đốn, con không làm hại hoàng gia. Người đứng kia là Đức-vua Kusa, Thái-tử của Đức-Thái-Thượng-hoàng Okkāka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sīlavatī ngự tại kinh-thành Kusāvatī, trị vì đất nước Malla rộng lớn.

    - Muôn tâu Mẫu-hậu kính yêu, Mẫu-hậu không nên nghĩ Đức-vua là người tôi tớ.

    Nghe Công-chúa Pabhāvatī tâu khẳng định như vậy, Mẫu-hậu tin đó là sự thật, nên Bà ngự đến chầu Đức-vua Madda tâu trình rõ sự thật như vậy.

    Đức-vua Madda liền ngự đến lâu đài của Công-chúa

    Pabhāvatī truyền hỏi rằng:

    - Này Pabhāvatī! Nghe Mẫu-hậu của con tâu với Đức-Phụ-vương rằng: “Đức-vua Kusa đang hiện diện ngự tại cung điện có thật như vậy hay không?”

    Công-chúa Pabhāvatī tâu rằng:

    - Muôn tâu Đức-Phụ-vương kính yêu, Đức-vua Kusa đang hiện diện ngự tại cung điện này, đúng là sự thật như vậy.

    Đức-vua Madda liền quở mắng Công-chúa Pabhāvatī:

    - Này Pabhāvatī! Con là đứa con hư đốn! Con đã phạm trọng tội nặng nề! Đức-vua Kusa có oai lực phi thường, là Đức-vua cao cả nhất trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu, như con bạch tượng chúa quý báu. Vậy mà con dám xem thường Đức-vua Kusa ngự đến đây như một con ếch được hay sao?

    Sau khi quở mắng Công-chúa Pabhāvatī, rồi Đức-vua Madda vội ngự đến chầu Đức-Bồ-tát Kusa, vấn an sức khỏe, rồi chắp hai tay tâu lời xin lỗi rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương cao cả, xin Đại-vương có tâm đại bi tha thứ những tội lỗi của bổn vương, bởi vì không biết Đại-vương đã ngự đến nơi đây với hình thức mà không một ai biết được.

    Nghe Đức-vua Madda tâu như vậy, Đức-Bồ-tát Kusa tâu để cho Đức-vua Madda an tâm rằng:

    - Tâu Đại-vương, bổn vương là người đầu bếp phụ mà Đại-vương kính trọng.

    - Tâu Đại-vương cao quý, Đại-vương không có lỗi nào khiến cho bổn vương phải tha thứ.

    Sau khi tâu chuyện với Đức-Bồ-tát Kusa, Đức-vua Madda xin phép ngự trở lại lâu đài Công-chúa Pabhāvatī, truyền bảo rằng:

    - Này Pabhāvatī hư đốn! Con hãy mau đi chầu đảnh lễ Đức-vua Kusa, rồi cúi xin Người có tâm đại bi tha thứ tội lỗi, may ra sinh-mạng của con sẽ được cứu sống trong ngày hôm nay.

    Công chúa Pabhāvatī chầu Đức-vua Bồ-tát Kusa

    Tuân lệnh Đức-Phụ-vương, Công-chúa Pabhāvatī và 7 hoàng muội ngự đi cùng với đoàn thị nữ đông đảo đến chầu Đức-Bồ-tát Kusa tại nơi nhà bếp.

    Khi ấy, Đức-Bồ-tát Kusa đang đứng rửa nồi niêu, bát đĩa. Nhìn thấy Công-chúa Pabhāvatī dẫn đầu đoàn tùy tùng thuộc hạ đang ngự đến, Đức-Bồ-tát Kusa nghĩ rằng:

    “Hôm nay, ta sẽ làm cho Công-chúa Pabhāvatī không còn ngã mạn nữa, mà phải cúi lạy dưới hai bàn chân của ta trên vũng bùn lầy này.”

    Đức-Bồ-tát Kusa đổ hết nước xuống nền đất, rồi lấy hai bàn chân đạp, để bùn lầy nổi lên xung quanh chỗ đứng. Công-chúa Pabhāvatī ngự đến gần Đức-Bồ-tát Kusa, cúi xuống đảnh lễ dưới đôi bàn chân, rồi nắm chặt đôi bàn chân của Đức-Bồ-tát Kusa mà tâu rằng:

    - Muôn tâu Hoàng-Thượng cao cả, thần thiếp là Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, thần thiếp thành kính đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Hoàng-Thượng, kính xin Hoàng-Thượng có tâm đại bi thương xót mà tha thứ mọi tội lỗi của thần thiếp, xin đừng nổi cơn thịnh nộ đối với thần thiếp nữa.

    Thần thiếp hứa với lời chân thật rằng:

    “Từ nay về sau, thần thiếp không còn ghét Hoàng- Thượng nữa, chỉ có một lòng yêu thương tha thiết Hoàng-Thượng mà thôi.” Nếu Hoàng-Thượng không có tâm đại bi thương xót tế độ thần thiếp đang khẩn khoản cầu xin, thì Đức-Phụ- vương chắc chắn truyền lệnh tên đao phủ giết thần thiếp, rồi chặt ra làm 7 phần, đem ban đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành, ngay trong ngày hôm nay.

    Nghe lời tha thiết khẩn khoản của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, Đức-Bồ-tát Kusa truyền bảo cho Chánh-cung Hoàng-hậu an tâm rằng:

    - Này Ái-khanh Pabhāvatī! Khi Ái-khanh tha thiết khẩn khoản như vậy, không lẽ Trẫm không làm theo lời khẩn khoản cầu xin của Ái-khanh được hay sao?

    - Này Ái-khanh Pabhāvatī! Trẫm không còn giận hờn Ái-khanh nữa đâu. Ái-khanh không nên sợ hãi gì cả.

    - Này Ái-khanh Pabhāvatī! Thật ra, Trẫm có thừa khả năng đánh chiếm kinh-thành Sāgala, tàn sát hoàng gia Đức-vua Madda, bắt Ái-khanh đem trở về kinh-thành Kusāvatī, nhưng vì quá yêu thương tha thiết Ái-khanh, nên Trẫm nhẫn nại chịu đựng bao nhiêu nỗi khổ thân khổ tâm cho đến ngày nay.

    - Này Ái-khanh Pabhāvatī! Trẫm cũng hứa với Ái- khanh với lời chân thật rằng:

    “Trẫm không còn giận hờn Ái-khanh nữa! Trẫm rất yêu thương tha thiết Ái-khanh.”

    Đức-vua Bồ-tát Kusa nhìn thấy Công-chúa Pabhāvatī của mình xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ hầu hạ Đức-vua trời Sakka, nên Đức-vua Bồ-tát Kusa phát sinh tâm ngã-mạn vua chúa nghĩ rằng:

    “Khi ta đang còn hiện diện trên đời này thì không một Đức-vua nào có khả năng chiếm đoạt Chánh-cung Hoàng-hậu của ta được!”

    Đức-vua Bồ-tát Kusa muốn chứng tỏ oai lực phi thường để cho mọi người biết, nên ngự đến sân trước cung điện, tuyên bố cho toàn thể hoàng gia cùng dân chúng trong kinh-thành Sāgala bằng giọng như sư tử rống rằng:

    “Ta là Đức-vua Kusa, đã ngự đến rồi! Ta sẽ bắt sống 7 Đức-vua của 7 kinh-thành. Các ngươi hãy chuẩn bị voi báu và các đoàn binh cho ta.”

    Đức-vua Bồ-tát Kusa tâu với Đức-vua Madda rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, việc bắt sống 7 Đức-vua của 7 kinh-thành là phận sự của bổn vương. Kính thỉnh Đại-vương an hưởng sự an-lạc trên lâu đài.

    Đức-vua Madda truyền lệnh các quan gọi thợ đến cắt tóc sửa râu cho Đức-vua Bồ-tát Kusa xong, rồi Đức-vua Bồ-tát Kusa tắm, trang phục vương phục đầy đủ, ngự bước lên lâu đài cao, nhìn khắp mọi hướng, rồi truyền lệnh rằng:

    - Này quý vị! Xin quý vị hãy xem Trẫm cầm quân xuất trận chiến đấu với các kẻ thù.

    Những hoàng thân của Đức-vua Madda ở trên lâu đài trong cung điện mở cửa sổ nhìn theo dõi Đức-vua Bồ-tát Kusa cầm quân xuất trận.

    Khi ấy, Đức-vua Madda truyền lệnh quan nài voi dẫn con bạch tượng quý báu với trang sức đầy đủ, đem đến dâng Đức-vua Bồ-tát Kusa.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa ngự lên ngồi trên cổ voi báu, phía trên có che chiếc lọng trắng, rồi truyền lệnh rằng:

    - Này các khanh! Các khanh hãy mời Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī đến.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa truyền bảo Chánh-cung Hoàng- hậu Pabhāvatī ngự lên voi báu ngồi phía sau Đức-vua.

    Chiến thắng 7 Đức-vua của 7 kinh-thành

    Đức-vua Bồ-tát Kusa dẫn đầu bốn đoàn binh xuất trận ngự ra cửa thành hướng Đông, nhìn thấy các đoàn binh của kẻ thù, nên Đức-vua Bồ-tát Kusa tuyên bố bằng giọng sư tử rống ba lần rằng:

    “Ta là Đức-vua Kusa! Ai muốn sống thì hãy đến khuất phục dưới chân ta.”

    Nghe giọng sư tử rống của Đức-vua Bồ-tát Kusa làm cho 7 Đức-vua của 7 kinh-thành đều mất trí điên loạn, kinh hồn bạt vía, không biết đường chạy thoát thân.

    Nghe giọng sư tử rống của Đức-vua Bồ-tát Kusa các đoàn binh như đoàn tượng binh, đoàn mã binh, đoàn quân xa, đoàn bộ binh vô cùng khiếp vía kinh hồn chạy tán loạn.

    Đức-vua trời Sakka trên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên nhìn thấy Đức-vua Bồ-tát Kusa chiến thắng 7 Đức-vua của 7 kinh-thành nơi trận địa, nên Đức-vua-trời Sakka vô cùng hoan-hỷ dâng viên ngọc maṇi tên Verocana xán lạn đến Đức-vua Bồ-tát Kusa.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa có tướng tốt của bậc-đại-nhân

    Do oai lực viên ngọc maṇi tên Verocana xán lạn của Đức-vua-trời Sakka, nên thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ của Đức-vua Bồ-tát Kusa bị biến mất. Ngay khi ấy, Đức-vua Bồ-tát Kusa có các tướng tốt của bậc- đại-nhân thật đáng tôn kính.

    Sau khi chiến thắng, Đức-vua Bồ-tát Kusa truyền lệnh bắt 7 Đức-vua của 7 kinh-thành, trói hai tay ra sau lưng dẫn đi theo Đức-vua cùng với Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngồi trên voi báu ngự trở vào kinh-thành.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa dẫn 7 Đức-vua của 7 kinh-thành đến kính dâng lên Đức-vua Madda và tâu rằng:

    - Tâu nhạc Phụ-vương, 7 Đức-vua của 7 kinh-thành này là kẻ thù của nhạc Phụ-vương, không phải kẻ thù của bổn vương. Nay, 7 Đức-vua đã bị bắt nằm trong quyền sinh sát của nhạc Phụ-vương, kính thỉnh nhạc Phụ-vương phán xét họ tùy ý. Nhạc Phụ-vương muốn 7 Đức-vua này trở thành kẻ tôi tớ hoặc giết chết tất cả, hoặc tha bổng để 7 Đức-vua ngự trở về kinh-thành của mỗi Đức-vua, tùy theo ý của nhạc Phụ-vương.

    Nghe Đức-vua Bồ-tát Kusa tâu như vậy, Đức-vua Madda tâu rằng:

    - Muôn tâu Đại-vương, Đại-vương là Đức-vua cao cả hơn bổn vương. Vậy, chính Đại-vương muốn giết 7 Đức-vua này thì giết, hoặc muốn tha bổng thì tha, để 7 Đức- vua ngự trở về kinh-thành của mỗi Đức-vua.

    Nghe Đức-vua Madda tâu như vậy, Đức-vua Bồ-tát Kusa nghĩ rằng:

    “Ích lợi gì ta giết 7 Đức-vua của 7 kinh-thành này. Đức-vua Madda có 7 cô công-chúa rất xinh đẹp như thiên-nữ là hoàng muội của Công-chúa Pabhāvatī. Vậy, để 7 Đức-vua của 7 kinh-thành này đã ngự đến đây không mất sự lợi ích, ta nên tâu với Đức-vua Madda ban 7 cô công-chúa đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành. Đó là điều hạnh phúc biết dường nào!”

    Nghĩ vậy, nên Đức-vua Bồ-tát Kusa tâu với Đức-vua Madda rằng:

    - Tâu nhạc Phụ-vương, nhạc Phụ-vương có 7 cô công-chúa rất xinh đẹp như thiên-nữ, kính xin nhạc Phụ-vương ban 7 cô công-chúa ấy đến 7 Đức-vua của 7 kinh- thành, để 7 cô công-chúa ấy trở thành Chánh-cung Hoàng-hậu của 7 Đức-vua ấy, và 7 Đức-vua ấy trở thành phò mã của nhạc Phụ-vương. Đó là điều hạnh phúc biết dường nào!

    Nghe Đức-vua Bồ-tát Kusa tâu như vậy, Đức-vua Madda vô cùng hoan-hỷ ban 7 cô công-chúa của mình đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành, nên tâu rằng:

    - Tâu Đại-vương, Đại-vương là Đức-vua cao cả nhất trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này, gồm cả 7 Đức- vua của 7 kinh-thành và bổn vương cùng các cô công- chúa của bổn vương nữa. Vậy, chỉ có Đại-vương mới có quyền ban 7 cô công-chúa đến 7 Đức-vua của 7 kinh-thành mà thôi. Kính xin Đại-vương nhận xét thấy công-chúa nào xứng đáng với Đức-vua nào thì Đại-vương ban công chúa ấy đến Đức-vua ấy, tùy theo ý của Đại-vương.

    Khi ấy, Đức-vua Bồ-tát Kusa truyền bảo các quan cho người trang sức đầy đủ 7 cô công-chúa của Đức-vua Madda thật xinh đẹp lộng lẫy, rồi Đức-vua Bồ-tát Kusa ban mỗi cô công-chúa xứng đáng đến mỗi Đức-vua.

    Cho nên, 7 cô công-chúa và 7 Đức-vua rất hài lòng vô cùng hoan-hỷ hợp với ý của mình.

    Khi ấy, 7 Đức-vua và 7 cô công-chúa đảnh lễ Đức-vua Bồ-tát Kusa, nhạc-Phụ-vương và nhạc Mẫu-hậu, rồi xin phép hồi cung, mỗi Đức-vua và công-chúa dẫn đầu các đoàn binh ngự trở về kinh-thành của mình.

    Hồi cung ngự trở về kinh-thành Kusāvatī

    Nghỉ lại 2-3 ngày sau, Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī đảnh lễ Đức Phụ- vương và Mẫu-hậu, xin phép hồi cung ngự trở về kinh- thành Kusāvatī.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī cùng ngồi chung trên chiếc long xa sang trọng rất xứng đôi, bởi vì Đức-vua Bồ-tát Kusa có các tướng tốt của bậc đại-nhân cùng với Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ.

    Nghe tin báo Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī hồi cung ngự trở về kinh-thành Kusāvatī, Mẫu-hậu và Đức-Phụ-hoàng truyền lệnh các quan thông báo dân chúng trang hoàng kinh-thành lộng lẫy, để đón rước Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī.

    Mẫu-hậu Sīlavatī và Hoàng-đệ Jayampati của Đức-vua Bồ-tát Kusa ngự cùng các quan, các đoàn binh ra ngoài kinh-thành chờ đón ruớc Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, thỉnh ngự vào kinh-thành Kusāvatī.

    Sau khi ngự vào cung điện được trang hoàng lộng lẫy, Đức-vua Bồ-tát Kusa truyền lệnh cho dân chúng tổ chức ca hát nhảy múa vui chơi suốt 7 ngày đêm.

    Từ đó về sau, Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī sống hòa hợp, yêu thương lẫn nhau, ngự tại kinh-thành Kusāvatī, trị vì đất nước Malla được thanh bình thịnh vượng, dân chúng được sống an cư lạc nghiệp.

    Đức-vua Bồ-tát Kusa và Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī thực-hành bồi bổ các pháp hạnh Ba-la-mật cho đến suốt đời.

    Sau khi thuyết tích Kusajātaka xong, Đức-Thế-Tôn thuyết giảng chân-lý tứ Thánh-đế, chư tỳ-khưu chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh- quả, Niết-bàn, tùy theo năng lực của các pháp-hạnh ba- la-mật và 5 pháp-chủ là tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi vị.

    Tích Kusajātaka liên quan đến kiếp hiện-tại

    Trong tích Kusajātaka này Đức-Bồ-tát là tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama sinh làm Thái-tử Kusa trong thời quá-khứ. Đến khi Đức-Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian, thì hậu-kiếp của những nhân vật trong tích Kusajātaka ấy liên quan đến kiếp hiện-tại của những nhân vật ấy như sau:

    - Đức-Phụ-vương Okkāka và Mẫu-hậu Sīlavatī, nay kiếp hiện tại là Đức-Phụ-vương Suddhodana và Mẫu-hậu Mahāmayādevī.

    - Hoàng-đệ Jayampati, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ānanda.

    - Bà Khujjā, nay kiếp hiện-tại là bà Khujjuttarā upāsikā.

    - Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Yasodharā.

    - Nhóm tùy tùng thuộc hạ, nay kiếp hiện-tại là tứ chúng: tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ.

    - Đức-vua Bồ-tát Kusa, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phật Gotama.

    Nhận xét về tích Pañcapāpī và tích Kusajātaka

    * Tích Pañcapāpī: Tiền-kiếp của cô là con gái của gia đình nghèo khổ, ngồi nhồi đất cho nhuyễn để bán cho người ta trát vách nhà. Khi ấy, Đức-Phật Độc-Giác cần đất nhuyễn để trát vách chỗ ở, nên Đức-Phật Độc-Giác mặc y, mang bát ngự vào cửa thành phía Đông kinh- thành Bārāṇasī, đứng trước nhà cô gái đang nhồi đất.

    Nhìn thấy Đức-Phật Độc-Giác đứng trước nhà, cô gái phát sinh sân-tâm bực bội buông lời nói rằng:

    “Mattikampi bhikkhati!”

    Đất mà Sa-môn này cũng đi xin!

    Mặc dù cô nói có vẻ bực bội như vậy, nhìn thấy Đức- Phật Độc-Giác vẫn đứng tự nhiên, khiến cô phát sinh đại-thiện-tâm có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật Độc- Giác, rồi cung-kính bạch rằng:

    - Kính bạch Ngài Sa-môn, Ngài muốn được đất nhuyễn phải không? Kính thỉnh Ngài đợi con một lát.

    Bạch xong, cô nhồi đất nhuyễn rất đặc biệt, rồi đem tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy đến Đức-Phật Độc-Giác với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ trong phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn rất đặc biệt ấy.

    Về sau, sau khi cô gái nghèo ấy chết, đại-thiện-nghiệp bố-thí cúng-dường đất nhuyễn ấy cho quả tái-sinh đầu thai vào lòng người đàn bà nghèo, nhà ở gần cửa thành Bārāṇasī.

    Khi sinh ra đời, đứa bé gái có 5 bộ phận trong thân thể xấu xí là tay, chân, miệng, mắt, lỗ mũi. Vì vậy, người ta gọi cô là Pañcapāpī (cô gái có 5 bộ phận xấu xí).

    Đó là quả xấu của ác-nghiệp sân-tâm trước khi tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đất nhuyễn đặc biệt đến Đức-Phật Độc-Giác trong tiền-kiếp của cô.

    Khi cô trưởng thành, hễ ai đụng đến thân thể của cô, đều có cảm giác như tiếp xúc với đối-tượng xúc đặc biệt của cõi trời, cảm giác sung sướng say đắm chưa từng có.

    Đó là quả tốt của đại-thiện-nghiệp hoan-hỷ đang khi bố-thí cúng dường đất thật nhuyễn đặc biệt trong tiền- kiếp của cô đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Khi trưởng thành, cô Pañcapāpī trở thành Chánh- cung Hoàng-hậu của hai Đức-vua là Đức-vua Baka và Đức-vua Bāvarika.

    Đó là quả tốt của đại-thiện-nghiệp hoan-hỷ sau khi đã bố-thí cúng dường đất thật nhuyễn đặc biệt trong tiền- kiếp của cô đến Đức-Phật Độc-Giác.

    * Về tích Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa là hậu-kiếp của người em trai chồng của tiền-kiếp Công chúa Pabhāvatī.

    Tiền-kiếp của Công chúa Pabhāvatī là người chị dâu của Đức-Bồ-tát. Một hôm, người chị dâu (tiền-kiếp của Công-chúa Pabhāvatī) đem phần bánh chiên của Đức- Bồ-tát em chồng, tạo phước-thiện bố-thí, cúng dường đặt bát đến Đức-Phật Độc-Giác. Ngay khi ấy, Đức-Bồ-tát em chồng từ rừng trở về, biết người chị dâu đem phần bánh chiên của mình cúng dường đặt bát đến Đức-Phật Độc-Giác, nên Đức-Bồ-tát em chồng phát sinh tâm sân giận dữ, đến lấy lại phần bánh chiên của mình từ trong bát của Đức-Phật Độc-Giác.

    Người chị dâu nhìn thấy người em chồng làm như vậy, nên thỉnh Đức-Phật Độc-Giác chờ cô về nhà cha mẹ lấy bơ lỏng mới và trong trẻo có màu giống màu hoa lan, đem về cung-kính tạo phước-thiện bố-thí cúng dường để đầy bát của Đức-Phật Độc-Giác, với đại-thiện- tâm vô cùng hoan-hỷ.

    Nhìn thấy bơ lỏng tỏa ra ánh sáng, nàng phát sinh đại- thiện-tâm trong sạch phát nguyện rằng:

    - Kính bạch Ngài, do phước-thiện bố-thí cúng dường bơ lỏng mới trong trẻo này, xin cho đại-thiện-nghiệp bố-thí cúng dường thanh cao này cho quả tái-sinh kiếp sau của con có sắc đẹp tuyệt trần như thiên nữ, thân hình của con có ánh sáng tỏa ra suốt ngày đêm.

    Và xin cho kiếp sau của con không sống chung cùng một nhà với hậu-kiếp của em trai của chồng con.

    Khi nghe lời phát nguyện của người chị dâu như vậy, Đức-Bồ-tát em chồng vội đem phần bánh chiên của mình đến kính xin tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đặt trong bát đầy bơ lỏng của Đức-Phật Độc-Giác, rồi xin phát nguyện rằng:

    - Kính bạch Ngài, kiếp sau của người chị dâu này của con, dù có ở bất cứ nơi xa xôi nào hằng trăm do tuần, xin cho kiếp sau của con cũng có khả năng đem về làm vợ của con cho được.

    Đó là tiền-kiếp của Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa và tiền- kiếp Công-chúa Pabhāvatī với nghiệp của mỗi người và lời phát nguyện của mỗi người như vậy.

    * Đức-Bồ-tát Thái-tử Kusa có thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ.

    Đó là quả xấu của ác-nghiệp sân giận dữ lấy lại phần bánh chiên của mình từ trong bát của Đức-Phật Độc-Giác.

    * Đức-vua Bồ-tát Kusa thành hôn với Công-chúa Pabhāvatī, rồi tấn phong lên ngôi Chánh-cung Hoàng- hậu của mình.

    Đó là quả tốt của đại-thiện-nghiệp bố-thí cung-kính cúng dường phần bánh chiên của mình đặt trong bát đầy bơ lỏng của Đức-Phật Độc-Giác, và lời phát nguyện trong tiền-kiếp của Đức-vua Bồ-tát Kusa.

    * Công-chúa Pabhāvatī nhìn thấy Đức-vua Kusa có thân hình và gương mặt xấu xí đáng ghê sợ, rồi bỏ Đức- vua Kusa ngự trở về kinh-thành Sāgala của mình.

    Đó là quả của đại-thiện-nghiệp bố-thí cúng dường bơ lỏng mới trong trẻo, và lời phát nguyện trong tiền-kiếp của Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī.

    * Đức-Bồ-tát Kusa rước Chánh-cung Hoàng-hậu Pabhāvatī ngự trở lại kinh-thành Kusāvatī.

    Đó là quả đại-thiện-nghiệp và lời phát nguyện của Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-vua Bồ-tát Kusa có nhiều năng lực hơn lời phát nguyện của tiền-kiếp của Chánh- cung Hoàng-hậu Pabhāvatī, khiến Đức-vua-trời Sakka trên cõi trời Tam-thập-Tam-thiên trợ duyên giúp cho Đức-vua Bồ-tát Kusa được thành tựu như ý.

    Nghiệp và quả của nghiệp thật là công bằng không hề thiên vị một ai cả. Nếu ác-nghiệp nào gặp nghịch- duyên (23) thì ác-nghiệp ấy có cơ hội cho quả xấu, quả khổ của ác-nghiệp ấy.

    Nếu đại-thiện-nghiệp nào gặp thuận-duyên (24) thì đại- thiện-nghiệp ấy có cơ hội cho quả tốt, quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy.

    Đức-Phật dạy về nghiệp và quả của nghiệp rằng:

    “Kammassako’mhi kammadāyādo kammayoni, kamma- bandhu, kammappaṭisaraṇo, yaṃ kammaṃ karissāmi kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā, tassa dāyādo bhavissāmi.”(25)

    (Ta có nghiệp là của riêng ta, ta là người thừa hưởng quả của nghiệp, nghiệp là nhân sinh ra ta, nghiệp là bà con thân quyến của ta, nghiệp là nơi nương nhờ của ta. Ta tạo nghiệp nào ‘thiện-nghiệp hoặc ác-nghiệp’ ta sẽ là người thừa hưởng quả an-lạc của thiện-nghiệp hoặc quả khổ của ác-nghiệp ấy.)

    Trong 10 phước-thiện puññakriyāvatthu, người thiện tạo mỗi phước-thiện cần phải trải qua 3 thời-kỳ tác-ý.

    1- Pubbacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy (có thời gian không nhất định).

    2- Muñcacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm khi đang tạo phước-thiện bố-thí ấy.

    3- Aparacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện- tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy (theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm).

    Mỗi thời-kỳ tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm tạo phước-thiện bố-thí ấy có vai trò quan trọng thành tựu mỗi đại-thiện-nghiệp như sau:

    NĂNG LỰC CỦA MUÑCACETANĀ

    Năng lực của muñcacetanā: Tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm khi đang tạo phước-thiện bố-thí, để phước-thiện ấy trở thành tam-nhân đại-thiện-nghiệp hoặc nhị-nhân đại-thiện-nghiệp như sau:

    - Nếu người thiện nào, khi đang tạo phước-thiện bố-thí nào, có muñcacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm hợp với trí-tuệ kammassakatāñāṇa: trí-tuệ hiểu biết nghiệp là của riêng mình, thì người thiện ấy tạo phước-thiện bố-thí ấy với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đủ tam-nhân là vô-tham, vô-sân, vô-si (trí-tuệ), nên phước-thiện bố-thí ấy trở thành tihetukakusalakamma: tam-nhân đại-thiện-nghiệp.

    - Nếu người thiện nào, khi đang tạo phước-thiện bố-thí nào, có muñcacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm không hợp với trí-tuệ kammassakatāñāṇa: trí- tuệ hiểu biết nghiệp là của riêng mình, thì người thiện ấy tạo phước-thiện bố-thí ấy với đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ chỉ có nhị-nhân là vô-tham và vô-sân, không có vô-si (trí-tuệ), nên phước-thiện bố-thí ấy trở thành dvihetukakusalakamma: nhị-nhân đại-thiện-nghiệp.

    Tam-nhân đại-thiện-nghiệp và nhị-nhân đại-thiện- nghiệp được phân loại theo năng lực trong 2 thời-kỳ tác- ý: thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy và thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy xong rồi theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Mỗi loại đại-thiện-nghiệp có 2 bậc:

    - Ukkaṭṭhakusala: đại-thiện-nghiệp bậc cao.

    - Omakakusala: đại-thiện-nghiệp bậc thấp.

    1- Ukkaṭṭhakusalakamma: đại-thiện-nghiệp bậc cao như thế nào?

    Người thiện nào tạo phước-thiện bố-thí nào trong thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm trong sạch trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy, không có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn, và nhất là trong thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ phước-thiện bố-thí ấy, không có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn, thì phước- thiện bố-thí mà người thiện ấy đã tạo được trở thành ukkaṭṭhakusalakamma: đại-thiện-nghiệp bậc cao, nên đại-thiện-nghiệp bậc cao có 2 loại là:

    - Tihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc cao

    - Dvihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Nhị-nhân đại-thiện- nghiệp bậc cao.

    2- Omakakusalakamma: Đại-thiện-nghiệp bậc thấp như thế nào?

    Người thiện nào tạo phước-thiện bố-thí nào trong thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại- thiện-tâm không trong sạch trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy, bởi vì có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn, làm cho đại-thiện-tâm bị ô nhiễm và nhất là trong thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm không trong sạch sau khi đã tạo phước- thiện bố-thí ấy theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, bởi vì có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn, làm cho đại-thiện-tâm bị ô nhiễm, thì phước-thiện bố-thí mà người thiện ấy đã tạo được trở thành omakakusalakamma: đại-thiện-nghiệp bậc thấp, nên đại-thiện-nghiệp bậc thấp có 2 loại là:

    - Tihetuka-omakakusalakamma: Tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc thấp.

    - Dvihetuka-omakakusalakamma: Nhị-nhân đại-thiện- nghiệp bậc thấp.

    NĂNG LỰC CỦA APARACETANĀ

    Trong 2 thời-kỳ tác-ý: thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trước khi tạo phước- thiện bố-thí nào và thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí nào theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, để quyết định phước-thiện bố-thí ấy trở thành tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao hoặc bậc thấp, nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao hoặc bậc thấp, thì thời- kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện- tâm phát sinh sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy xong rồi có vai trò quan trọng hơn là thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm phát sinh trước khi tạo phước-thiện ấy, bởi vì chưa thành-tựu phước-thiện ấy.

    Thật vậy, dù cho thời-kỳ pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm không trong sạch trước khi tạo phước-thiện bố-thí nào, bởi vì có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn làm cho đại-thiện-tâm bị ô nhiễm, nhưng nếu thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy xong rồi, theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ trong phước-thiện bố-thí ấy, không có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn, không làm cho đại-thiện-tâm bị ô nhiễm, thì phước-thiện bố-thí ấy vẫn trở thành ukkaṭṭhakusalakamma: đại-thiện-nghiệp bậc cao.

    Dù cho thời-kỳ pubbacetanā tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch trước khi tạo phước-thiện bố-thí ấy, không có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn, nhưng nếu thời-kỳ aparacetanā tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm không trong sạch sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy xong rồi, theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm với đại- thiện-tâm không trong sạch, bởi vì có tham-ái, ngã-mạn, tà-kiến phát sinh xen lẫn làm cho đại-thiện-tâm bị ô nhiễm, thì phước-thiện bố-thí ấy trở thành omakakusala-kamma: đại-thiện-nghiệp bậc thấp.

    Cho nên, thời-kỳ aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí ấy xong rồi, theo thời gian sau nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm có tầm quan trọng quyết-định phước-thiện ấy trở thành ukkaṭṭhakusalakamma: đại-thiện-nghiệp bậc cao hoặc omakakusalakamma: đại- thiện-nghiệp bậc thấp.

    Phân loại đại-thiện-nghiệp theo Ukkaṭṭhakusalakamma và Omakakusalakamma

    Phân loại tihetukakusalakamma và dvihetukakusala-kamma theo ukkaṭṭhakusalakamma và omakakusala- kamma có 4 bậc như sau:

    * Tihetukakusalakamma có 2 bậc:

    1- Tihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao.

    2- Tihetuka-omakakusalakamma: Tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp.

    * Dvihetukakusalakamma có 2 bậc:

    1- Dvihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao.

    2- Dvihetuka-omakakusalakamma: Nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp.

    Tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao, tam-nhân đại- thiện-nghiệp bậc thấp, nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao, nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp, mỗi đại-thiện- nghiệp có tầm quan trọng cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) làm người hoặc làm vị thiên- nam, vị thiên-nữ trên 6 cõi trời dục-giới và cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla) kiếp hiện-tại của người hoặc của chư vị thiên-nam, vị thiên-nữ.

    Tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao, bậc thấp Nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao, bậc thấp

    Tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao, bậc thấp và nhị- nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao, bậc thấp gồm có 4 bậc như sau:

    1- Tihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Tam-nhân đại- thiện-nghiệp bậc cao.

    2- Tihetuka-omakakusalakamma: Tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc thấp.

    3- Dvihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Nhị-nhân đại- thiện-nghiệp bậc cao.

    4- Dvihetuka-omakakusalakamma: Nhị-nhân đại-thiện- nghiệp bậc thấp.

    Thời-kỳ Paṭisandhikāla và thời-kỳ Pavattikāla

    Đại-thiện-nghiệp có 4 loại là tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc cao và tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp, nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao và nhị-nhân đại- thiện-nghiệp bậc thấp, mỗi bậc đại-thiện-nghiệp có cơ hội cho quả trong 2 thời-kỳ:

    - Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla).

    - Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại.

    Đại-thiện-nghiệp có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái- sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) đầu thai làm người có 3 hạng người trong đời này, hoặc hóa-sinh làm vị thiên- nam hoặc vị thiên-nữ trên 6 cõi trời dục-giới cũng có 3 hạng chư-thiên.

    Mỗi hạng người, mỗi hạng thiên-nam, hạng thiên-nữ có khả năng khác nhau do quả của mỗi đại-thiện-nghiệp như sau:

    1- Tihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: Tam-nhân đại- thiện-nghiệp bậc cao

    Tihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma là tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc cao trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có cơ hội cho quả trong 2 thời-kỳ:

    - Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla).

    - Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại.

    a- Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla)

    Người thiện nào có giới trong sạch trọn vẹn, đã tạo phước-thiện bố-thí nào, sau khi người thiện ấy chết, nếu tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) cùng với 3 sắc- pháp (kāyarūpa: sắc-thân, bhāvarūpa: sắc nam-tính (hoặc sắc nữ-tính), hadayavatthurūpa: sắc-pháp là nơi sinh của ý-thức-tâm) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm hạng người tam-nhân (26) (tihetukapuggala) từ khi đầu thai trong lòng mẹ.

    Khi sinh ra đời, lúc trưởng thành, người tam-nhân ấy vốn có trí-tuệ.

    - Nếu người tam-nhân ấy là hành-giả thực-hành pháp- hành thiền-định thì có khả năng chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, chứng đắc 5 phép-thần-thông (lokiya abhiññā).(27)

    - Nếu người tam-nhân ấy là hành-giả thực-hành pháp- hành thiền-tuệ thì có khả năng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết- bàn, trở thành bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo.

    Hoặc hóa-sinh làm vị thiên-nam tam-nhân hoặc vị thiên-nữ tam-nhân trên cõi trời dục-giới.

    Nếu vị thiên-nam tam-nhân, vị thiên-nữ tam-nhân có cơ hội đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, lắng nghe chánh- pháp của Đức-Phật, thì vị thiên-nam tam-nhân, vị thiên-nữ tam-nhân ấy có khả năng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết- bàn, trở thành bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo.

    b- Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại

    Trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong 4 đại- thiện-tâm hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, có 16 quả-tâm đó là:

    - Hữu-nhân đại-quả-tâm có 8 quả-tâm và

    - Thiện-quả vô-nhân-tâm có 8 quả-tâm.

    - Hữu-nhân đại-quả-tâm có 8 tâm

    Hữu-nhân đại-quả-tâm đó là đại-quả-tâm có 8 tâm mà mỗi tâm tương xứng với mỗi tâm trong 8 đại-thiện- tâm như sau:

    1- Đại-quả-tâm thứ nhất đồng sinh với thọ hỷ, hợp với trí-tuệ, không cần tác-động.

    2- Đại-quả-tâm thứ nhì đồng sinh với thọ hỷ, hợp với trí-tuệ, cần tác-động.

    3- Đại-quả-tâm thứ ba đồng sinh với thọ hỷ, không hợp với trí-tuệ, không cần tác-động.

    4- Đại-quả-tâm thứ tư đồng sinh với thọ hỷ, không hợp với trí-tuệ, cần tác-động.

    5- Đại-quả-tâm thứ năm đồng sinh với thọ xả, hợp với trí-tuệ, không cần tác-động.

    6- Đại-quả-tâm thứ sáu đồng sinh với thọ xả, hợp với trí-tuệ, cần tác-động.

    7- Đại-quả-tâm thứ bảy đồng sinh với thọ xả, không hợp với trí-tuệ, không cần tác-động.

    8- Đại-quả-tâm thứ tám đồng sinh với thọ xả, không hợp với trí-tuệ, cần tác-động.

    - Thiện-quả vô-nhân-tâm có 8 tâm:

    Thiện-quả vô-nhân-tâm có 8 quả-tâm là quả của đại-thiện-nghiệp trong 8 đại-thiện-tâm:

    1- Nhãn-thức-tâm đồng sinh với thọ xả, là quả của đại-thiện-nghiệp, thấy đối-tượng sắc tốt, đáng hài lòng.

    2- Nhĩ-thức-tâm đồng sinh với thọ xả, là quả của đại- thiện-nghiệp, nghe đối-tượng âm-thanh hay, đáng hài lòng.

    3- Tỷ-thức-tâm đồng sinh với thọ xả, là quả của đại- thiện-nghiệp, ngửi đối-tượng hương thơm, đáng hài lòng.

    4- Thiệt-thức-tâm đồng sinh với thọ xả, là quả của đại-thiện-nghiệp, nếm đối-tượng vị ngon, đáng hài lòng.

    5- Thân-thức-tâm đồng sinh với thọ lạc, là quả của đại-thiện-nghiệp, xúc-giác đối-tượng xúc an-lạc, đáng hài lòng.

    6- Tiếp-nhận-tâm đồng sinh với thọ xả, là quả của đại-thiện-nghiệp, tiếp nhận 5 đối-tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc) tốt, đáng hài lòng.

    7- Suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả, là quả của đại- thiện-nghiệp, suy xét 5 đối-tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc) tốt, đáng hài lòng.

    8- Suy-xét-tâm đồng sinh với thọ hỷ, là quả của đại- thiện-nghiệp, suy xét 5 đối-tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc) tốt, đáng hài lòng.

    Như vậy, tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ tái- sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có 4 đại-quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người tam-nhân hoặc hóa-sinh làm vị thiên-nam tam-nhân, vị thiên-nữ tam- nhân trên 6 cõi trời dục-giới.

    Và tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong 4 đại- thiện-tâm hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, gồm có 16 quả- tâm là 8 đại-quả-tâm và 8 thiện-quả vô-nhân-tâm tiếp xúc biết các đối-tượng tốt đáng hài lòng trong cuộc sống kiếp hiện-tại của người tam-nhân ấy, hoặc của vị thiên- nam tam-nhân hoặc vị thiên-nữ tam-nhân ấy trong cõi trời dục-giới ấy.

    2- Tihetuka-omakakusalakamma là tam-nhân đại- thiện-nghiệp bậc thấp với

    3- Dvihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma là nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao

    - Tihetuka-omakakusalakamma: Tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc thấp trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ với dvihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma: nhị-nhân đại-thiện- nghiệp bậc cao trong 4 đại-thiện-tâm không hợp với trí- tuệ, 2 loại đại-thiện-nghiệp này cho quả tương đương với nhau trong 2 thời-kỳ:

    - Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla).

    - Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại.

    a- Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (Paṭisandhikāla)

    Người thiện nào có giới trong sạch trọn vẹn, đã tạo phước-thiện bố-thí nào, sau khi người thiện ấy chết, nếu tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ tuột xuống tương đương với nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ (2 loại đại-thiện-nghiệp này) có cơ hội cho quả tương đương trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau có đại-quả- tâm không hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhi- citta) cùng với 3 sắc-pháp (kāyarūpa: sắc-thân, bhāva- rūpa: sắc nam-tính (hoặc sắc nữ-tính), hadayavatthu- rūpa: sắc-pháp là nơi sinh của ý-thức-tâm) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm hạng người nhị-nhân (28) (dvihetukapuggala) từ khi đầu thai trong lòng mẹ.

    Khi sinh ra đời, lúc trưởng thành, người nhị-nhân ấy vốn không có trí-tuệ.

    - Nếu người nhị-nhân ấy thực-hành pháp-hành thiền- định thì không có khả năng chứng đắc bậc thiền nào cả.

    - Nếu người nhị-nhân ấy thực-hành pháp-hành thiền-tuệ thì không có khả năng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế.

    Hoặc hóa-sinh làm vị thiên-nam nhị-nhân hoặc vị thiên-nữ nhị-nhân trên cõi trời dục-giới. Nếu vị thiên- nam nhị-nhân hoặc vị thiên-nữ nhị-nhân có cơ hội đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, lắng nghe chánh-pháp của Đức- Phật, thì vị thiên-nam nhị-nhân hoặc vị thiên-nữ nhị- nhân không có khả năng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế.

    b- Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (Pavattikāla), kiếp hiện-tại

    Trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ với nhị-nhân đại-thiện- nghiệp bậc cao trong 4 đại-thiện-tâm không hợp với trí- tuệ, 2 loại đại-thiện-nghiệp này cho quả tương đương với nhau trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, có 12 quả-tâm đó là:

    - Hữu-nhân đại-quả-tâm không hợp với trí-tuệ có 4 quả-tâm và

    - Thiện-quả vô-nhân-tâm có 8 quả-tâm.

    Như vậy, tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ tuột xuống tương đương với nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong 4 đại- thiện-tâm không hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có 4 đại-quả-tâm không hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhi- citta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người nhị-nhân hoặc hóa-sinh làm vị thiên-nam nhị-nhân, vị thiên-nữ nhị-nhân trên 6 cõi trời dục-giới.

    Và tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong 4 đại- thiện-tâm hợp với trí-tuệ tuột xuống tương đương với nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong 4 đại-thiện- tâm không hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại gồm có 12 quả- tâm là 4 đại-quả-tâm không hợp với trí-tuệ và 8 thiện- quả vô-nhân-tâm tiếp xúc biết các đối-tượng không tốt không xấu trong cuộc sống kiếp hiện-tại của người nhị- nhân ấy, hoặc của vị thiên-nam nhị-nhân hoặc vị thiên- nữ nhị-nhân ấy trên cõi trời dục-giới ấy.

    Nhận xét về tihetuka-omakakusalakamma với dvihetuka-ukkaṭṭhakusalakamma

    Tihetuka-omakakusalakamma là tam-nhân đại-thiện- nghiệp bậc thấp trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ, nên không đủ năng lực cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm hợp với trí- tuệ, nên bị tuột xuống tương đương với dvihetuka- ukkaṭṭhakusalakamma là nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao trong 4 đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm không hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau làm người thuộc về hạng người dvihetukapuggala: hạng người nhị-nhân từ khi tái-sinh đầu thai làm người hoặc hóa-sinh làm vị thiên-nam nhị-nhân, vị thiên-nữ nhị- nhân trên cõi trời dục-giới.

    4- Dvihetuka-omakakusalakamma là nhị-nhân đại- thiện-nghiệp bậc thấp

    Dvihetuka-omakakusalakamma là nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong 4 dục-giới đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ cho quả trong 2 thời-kỳ:

    - Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla).

    - Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại.

    a- Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (Paṭisandhikāla)

    Người thiện nào có giới trong sạch trọn vẹn, đã tạo phước-thiện bố-thí nào, sau khi người thiện ấy chết, nếu nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong 4 đại-thiện- tâm không hợp với trí-tuệ có cơ hội cho quả trong thời- kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả là quả của đại-thiện-nghiệp thuộc về thiện-quả vô-nhân-tâm gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhi- citta) cùng với 3 sắc-pháp (kāyarūpa: sắc-thân, bhāva- rūpa: sắc nam-tính (hoặc sắc nữ-tính), hadayavatthu- rūpa: sắc-pháp là nơi sinh của ý-thức-tâm) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm hạng người vô-nhân cõi thiện-giới (29) (sugati ahetukapuggala) là người đui mù, câm điếc, tật nguyền, ... từ khi đầu thai trong lòng mẹ.

    Hoặc hóa-sinh làm vị thiên-nam vô-nhân hoặc vị thiên-nữ vô-nhân trong nhóm bhummaṭṭhadevatā: chư- thiên ở trên mặt đất thuộc về cõi trời tứ Đại-Thiên-vương.

    Khi sinh ra đời, lúc trưởng thành, người vô-nhân ấy vốn là người đui mù, câm điếc, tật nguyền, ... chỉ biết thông thường trong cuộc sống hằng ngày mà thôi.

    b- Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (Pavattikāla), kiếp hiện-tại

    Trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp trong 4 đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ cho quả chỉ có 8 thiện-quả vô-nhân-tâm mà thôi, tiếp xúc với các đối- tượng tầm thường trong cuộc sống hằng ngày mà thôi.

    Tuy nhiên, nếu đứa trẻ ấy bị đui mù, câm điếc, tật nguyền trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại, do ác-nghiệp nào cho quả thì không thể gọi là người vô-nhân cõi thiện-giới được, bởi vì đứa bé ấy có thể có năng khiếu đặc biệt.

    Đại-thiện-nghiệp khác nhau, quả khác nhau

    Trong một buổi lễ tạo phước-thiện bố-thí, những thí-chủ đều là người có ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, cùng nhau tạo phước-thiện bố-thí giống nhau, do trình độ hiểu biết về pháp-học Phật-giáo khác nhau, hiểu biết về 3 thời-kỳ tác-ý khác nhau, nên mỗi thí-chủ có 3 thời- kỳ tác-ý: thời-kỳ pubbacetanā, thời-kỳ muñcacetanā, thời-kỳ aparacetanā khác nhau, đã tạo đại-thiện-nghiệp bố-thí khác nhau như sau:

    - Tạo tam-nhân đại-thiện-nghiệp bố-thí bậc cao.

    - Tạo tam-nhân đại-thiện-nghiệp bố-thí bậc thấp.

    - Tạo nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bố-thí bậc cao.

    - Tạo nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bố-thí bậc thấp.

    Sau khi mỗi thí-chủ ấy chết, nếu tam-nhân đại-thiện- nghiệp bố-thí bậc cao trong đại-thiện-tâm hợp với trí- tuệ có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) thì có đại-quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người tam-nhân trong lòng mẹ.

    - Sau khi mỗi thí-chủ ấy chết, nếu tam-nhân đại- thiện-nghiệp bố-thí bậc thấp trong đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ và nhị-nhân đại-thiện-nghiệp bố-thí bậc cao trong đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) thì có đại-quả-tâm không hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh- tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người nhị-nhân trong lòng mẹ.

    - Sau khi mỗi thí-chủ ấy chết, nếu nhị-nhân đại- thiện-nghiệp bố-thí bậc thấp trong đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) thì có suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả là quả của đại-thiện-nghiệp bố-thí bậc thấp gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người vô-nhân cõi thiện-giới đui mù, câm điếc, tật nguyền, ... từ trong lòng mẹ.

    Tích Aputtakaseṭṭhivatthu (30)

    Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh- thành Sāvatthi. Khi ấy, Đức-Thế-Tôn đề cập đến phú hộ Aputtaka (phú hộ không có con) như sau:

    Các quan tâu lên Đức-vua Pasenadi Kosala rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, phú hộ Aputtaka không có con đã qua đời rồi.

    Nghe tâu như vậy, Đức-vua truyền hỏi rằng:

    - Này các khanh! Vậy tài sản của phú hộ Aputtaka không có con thừa kế sẽ thuộc về ai?

    Các quan tâu rằng:

    - Muôn tâu Bệ-hạ, tài sản của phú hộ Aputtaka không có con thừa kế sẽ thuộc về Đức-vua.

    Đức-vua Pasenadi Kosala truyền lệnh các quan chuyển tất cả tài sản của phú hộ Aputtaka nhập vào kho nhà vua suốt 7 ngày mới xong, rồi Đức-vua Pasenadi Kosala ngự đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn tại ngôi chùa Jetavana.

    Đức-Thế-Tôn truyền hỏi Đức-vua Pasenadi Kosala:

    - Này Đại-vương, Đại-vương từ đâu ngự đến đây?

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, phú hộ Aputtaka trong kinh-thành Sāvatthi đã qua đời không có con thừa kế, nên con truyền lệnh các quan chuyển tất cả tài sản nhập vào kho nhà vua, rồi con ngự đến đây.

    Nghe kể rằng: “Lúc sinh thời, phú hộ Aputtaka không hướng tâm đến sử dụng của cải, để hưởng mọi sự an-lạc trong đời. Khi các gia nhân đem những món cao lương mỹ vị trên chiếc mâm bằng vàng, họ bị ông phú hộ Aputtaka đuổi bảo mang đi nơi khác.

    Hằng ngày, ông dùng cơm nấu bằng gạo xấu và món nước cải ngâm, chỉ dùng 2 món này mà thôi.

    Khi các người gia nhân đem các thứ vải tốt, chiếc xe sang trọng, những thứ vật dụng quý giá đến cho ông dùng thì ông đuổi họ và bảo mang những thứ đó đi nơi khác. Ông phú hộ Aputtaka chỉ mặc y phục bằng thứ vải thô xấu, đi chiếc xe cũ xấu, sử dụng những thứ vật dụng loại xấu.

    Suốt cuộc đời ông phú hộ Aputtaka không sử dụng các thứ vật dụng cần thiết loại sang trọng.”

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn!

    * Do nguyên nhân nào ông trở thành phú hộ?

    * Khi trở thành phú hộ, do nguyên nhân nào ông không sử dụng những thứ vật dụng sang trọng?

    * Do nguyên nhân nào ông phú hộ Aputtaka không có con thừa kế tài sản?

    Khi ấy, Đức-Thế-Tôn thuyết giảng cho Đức-vua Pasenadi Kosala biết về tiền-kiếp của ông phú hộ Aputtaka được tóm lược như sau:

    Tiền-kiếp của phú hộ Aputtaka

    Trong thời quá-khứ, tiền-kiếp của ông phú hộ Aputtaka vốn là người không có đức-tin, nhưng ông thường tiếp đón Đức-Phật Độc-Giác Tagarasikhi ngự đến khất thực tại biệt thự của ông. Trước khi ông đi lo công việc bên ngoài, bảo phu nhân của ông ở nhà tạo phước-thiện bố-thí cúng dường vật thực đến Đức-Phật Độc-Giác Tagarasikhi, rồi ông đi ra khỏi nhà.

    Người vợ của ông vốn là người có đức-tin trong sạch nghĩ rằng: “Lâu rồi, hôm nay mới nghe người vị phu quân bảo tạo phước-thiện bố-thí cúng dường vật thực đến Đức-Phật Độc-Giác.

    Vậy, hôm nay ta nên làm các món vật thực ngon lành để tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Đức-Phật Độc-Giác.”

    Phu nhân của ông phú hộ tạo phước-thiện bố-thí cung-kính cúng dường, đặt vào trong bát các món vật thực ngon lành vào đầy bát. Ngay khi ấy, vị phu quân về đến nhà, bạch hỏi Đức-Phật Độc-Giác rằng:

    - Bạch Sa-môn, Sa-môn nhận được các món vật thực nào chưa?

    Đến dở bát của Đức-Phật Độc-Giác, ông nhìn thấy các món vật thực ngon lành, nên phát sinh phiền-não tham tiếc của, nghĩ rằng:

    “Đem các món vật thực ấy cho những người tôi tớ hay người làm công ăn, thì có lợi cho ta, bởi vì họ ăn, rồi họ làm mọi công việc của ta được. Còn Sa-môn này ăn xong, có lợi ích gì cho ta đâu. Các món vật thực ngon của ta mất đi thật là uổng phí quá!”

    Đó là ông phú hộ có aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố- thí cúng-dường đến Đức-Phật Độc-Giác Tagarasikhi xong rồi, phát sinh phiền-não tiếc của làm cho tâm bị ô nhiễm.

    * Tiền-kiếp của ông phú hộ có một người anh trai, khi cha mẹ qua đời để lại nhiều của cải tài sản cho 2 người con. Người anh của tiền-kiếp ông phú hộ có một đứa con trai. Một hôm, đứa cháu trai nói rằng: “Chiếc xe tốt đẹp này của cha con, phần con bò kia là của chú.”

    Nghe cháu trai là con người anh nói như vậy, tiền- kiếp của ông phú hộ nghĩ rằng:

    “Bây giờ đứa cháu trai còn bé nhỏ mà đã nói như vậy, đến khi trưởng thành, nó sẽ chiếm phần nhiều của cải trong nhà này.”

    Cho nên, tiền-kiếp của ông phú hộ dẫn đứa cháu trai vào trong rừng, bóp cổ đứa cháu trai chết, rồi đem chôn dưới gốc cây.

    Đó là những đại-thiện-nghiệp bố-thí và ác-nghiệp sát sinh đứa cháu trai của tiền-kiếp của ông phú hộ đã tạo trong kiếp quá-khứ, nên kiếp-hiện-tại ông phú hộ không có con gọi là phú hộ Aputtaka.

    Quả của các nghiệp của phú hộ Aputtaka

    * Phước-thiện tiếp đón, bảo phu nhân tạo phước-thiện bố-thí cúng dường vật thực để bát đến Đức-Phật Độc- Giác Tagarasikhi, cho quả tái-sinh lên cõi trời dục-giới 7 kiếp, cũng do nhờ quả của phước-thiện bố-thí cúng- dường đến Đức-Phật Độc-Giác Tagarasikhi ấy cho quả tái-sinh làm người trong kinh-thành Sāvatthi, rồi trở thành phú hộ 7 kiếp.

    Do aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện- tâm sau khi đã tạo phước-thiện bố-thí cúng-dường đến Đức-Phật Độc-Giác Tagarasikhi xong rồi, phát sinh phiền-não tiếc của làm cho tâm bị ô nhiễm. Vì vậy, ông phú hộ không hướng tâm đến sử dụng của cải để đem lại sự an-lạc trong cuộc sống.

    Hằng ngày, ông phú hộ ăn cơm nấu bằng gạo xấu, mặc y phục thứ vải thô xấu, đi chiếc xe xấu cũ, sử dụng những thứ vật dụng cần thiết xấu, v.v...

    * Ác-nghiệp sát sinh đứa cháu trai là con người anh vì của cải, cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài hằng 100 ngàn năm.

    Đến khi mãn quả của ác-nghiệp, thoát ra khỏi cõi địa-ngục, đại-thiện-nghiệp bố-thí, cúng dường vật thực đến Đức-Phật Độc Giác Tagarasikhi ấy có cơ hội cho quả tái-sinh làm người trong kinh-thành Sāvatthi, rồi trở thành phú hộ không có con gọi là phú hộ Aputtaka đến kiếp thứ 7 này.

    Đó là quả của đại-thiện-nghiệp bố-thí cúng-dường đến Đức-Phật Độc-Giác Tagarasikhi ấy còn lại.

    Phước-thiện bố-thí cũ của phú hộ Aputtaka không còn năng lực nữa, các phước-thiện mới không tích lũy, nên sau khi phú hộ Aputtaka chết, ác-nghiệp sát-sinh cũ lại cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục mahāroruva niraya, chịu quả khổ trong cõi địa-ngục ấy.

    Cho nên, thí-chủ có đức-tin trong sạch tạo phước- thiện bố-thí đến người thọ-thí, nên có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ đầy đủ cả 3 thời-kỳ:

    - Pubbacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ trước khi tạo phước-thiện bố-thí.

    - Muñcacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ khi đang tạo phước-thiện bố-thí.

    - Aparacetanā: tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm trong sạch hoan-hỷ sau khi đã làm xong phước- thiện bố-thí ấy.

    Thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí ấy đến người thọ-thí có đầy đủ 3 thời-kỳ tác-ý như vậy, nếu đại-thiện-nghiệp bố-thí ấy có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) làm người thì hưởng được quả tốt, quả an-lạc từ thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla), kiếp hiện-tại trong lòng mẹ.

    Khi thai nhi sinh ra đời (pasūtikāla) được an-lạc, rồi hưởng mọi sự an-lạc trong thời ấu-niên, thời trung-niên cho đến thời lão-niên, suốt cuộc đời phần nhiều được hưởng mọi quả tốt, quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp bố- thí ấy trong cuộc sống kiếp hiện-tại.

    Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí có 5 pháp

    1- Saddhadāna: Bố-thí với đức-tin trong sạch

    Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí với đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, nên phước-thiện bố-thí này sẽ cho quả báu có nhiều của cải tài sản, giàu sang, phú quý, còn có quả báu đặc biệt nhất là có sắc thân xinh đẹp đáng ngưỡng mộ.

    2- Sakkaccadāna: Bố-thí với đại-thiện-tâm cung-kính

    Người thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí với đại-thiện- tâm cung-kính người thọ-thí và vật thí phát sinh một cách hợp pháp, nên phước-thiện bố-thí này sẽ cho quả báu có nhiều của cải tài sản, giàu sang, phú quý, còn có quả báu đặc biệt nhất là trong gia đình vợ chồng con cháu, những người làm công đều ngoan ngoãn vâng lời khuyên bảo dạy dỗ của mình, các bạn hữu, các thuộc hạ, phần đông những người trong xã hội nghe theo lời chỉ bảo của mình.

    3- Kāladāna: Bố-thí đúng thời, đúng lúc

    Bậc thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí hợp thời, đúng lúc như:

    - Phước-thiện bố-thí cúng dường trong dịp lễ dâng y tắm mưa đến chư tỳ-khưu-Tăng trước khi an cư nhập hạ.

    - Phước-thiện bố-thí cúng dường trong dịp lễ dâng y kathina đến chư tỳ-khưu-Tăng ra hạ.

    - Phước-thiện bố-thí cúng dường đến tỳ-khưu khách vừa mới đến, tỳ-khưu sắp đi xa, tỳ-khưu bệnh, người bệnh, người đang đói khát, v.v...

    Phước-thiện bố-thí hợp thời, đúng lúc này sẽ có quả báu giàu sang phú quý, và đặc biệt nhất là có quả tốt, quả an-lạc từ thuở ấu-niên, thời trung-niên cho đến thời lão-niên, muốn những thứ vật dụng nào cũng được thứ vật dụng ấy như ý một cách dễ dàng, mà người khác khó mà có được, ...

    4- Anuggahadāna: Bố-thí với đại-thiện-tâm tế-độ người thọ-thí.

    Bậc thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí với đại-thiện-tâm tế độ người thọ-thí.

    Phước-thiện bố-thí với đại-thiện-tâm tế độ người thọ- thí này sẽ có quả báu giàu sang phú quý, và đặc biệt nhất là thí-chủ hướng tâm sử dụng của cải để đem lại sự an- lạc hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày.

    5- Anupahaccadāna: Phước-thiện bố-thí không làm khổ mình, không làm khổ người, khổ chúng-sinh khác.

    Bậc thiện-trí tạo phước-thiện bố-thí không làm khổ mình, không làm khổ người, khổ chúng-sinh khác, sẽ có quả báu giàu sang phú quý, còn có quả báu đặc biệt nhất là tất cả của cải tài sản không bị thiệt hại do lửa thiêu hủy, không bị nước ngập lụt làm hư hỏng, không bị kẻ trộm cướp chiếm đoạt, không bị nhà nước tịch thu, không bị người mà mình không ưa thích thừa hưởng của cải tài sản của mình.

    Đức-Phật thuyết dạy câu kệ rằng:

    -“Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti. Sabbarasaṃ dhammaraso jināti. Sabbaratiṃ dhammarati jināti. Taṇhakkhayo sabbadukkhaṃ jināti.” (31)

    Pháp thí là cao thượng hơn mọi phước-thiện bố-thí.

    Pháp vị của 9 siêu-tam-giới thiện-pháp là cao thượng hơn mọi vị ngon, hương thơm trong đời.

    Pháp hỷ trong chánh-pháp là cao thượng hơn mọi sự hoan-hỷ trong đời.

    Bậc Thánh A-ra-hán đã tận diệt mọi tham-ái rồi là thắng mọi cảnh khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

    Phước-thiện bố-thí trong Phật-giáo và ngoài Phật-giáo

    Tích thiên-nam Aṅkura và thiên-nam Indaka

    Vị thiên-nam Aṅkura và vị thiên-nam Indaka trong tích Devorohaṇavatthu (32) được tóm lược như sau:

    Vào ngày rằm tháng 6 âm lịch, Đức-Thế-Tôn biểu diễn phép-thần-thông yamakapāṭihāriya: phép-thần- thông có 2 dòng nước và lửa song song thoát ra từ kim thân của Đức-Phật giữa tứ chúng thanh-văn đệ-tử tại cây xoài gần kinh-thành Sāvatthī.

    Đức-Thế-Tôn suy xét chư Phật quá-khứ, sau khi biểu diễn phép-thần-thông yamakapāṭihāriya rồi sẽ an cư nhập hạ tại nơi nào?

    Đức-Thế-Tôn thấy rõ, biết rõ rằng:

    Chư Phật quá-khứ, sau khi biểu diễn phép-thần-thông yamakapāṭihāriya rồi sẽ an cư nhập hạ tại cung trời Tam-thập-tam-thiên thuyết giảng Tạng Vi-diệu-pháp để tế độ thân-mẫu (Tāvatiṃsabhavane vassaṃ upagantvā mātu Abhidhammapiṭakaṃ desenti).

    Đức-Thế-Tôn ngự lên cung trời Tam-thập-tam-thiên an cư nhập thứ 7 của Đức-Phật tại tấm đá Paṇḍukambala- sila suốt 3 tháng mùa mưa tính theo thời gian cõi người.

    Đức-Thế-Tôn ngự tại tảng đá Paṇḍukambalasila, chư- thiên khắp 10 ngàn cõi-giới tụ hội đến hầu đảnh lễ Đức- Thế-Tôn.

    Trong toàn thể chư-thiên phạm-thiên ấy, Đức-Thế- Tôn có hào quang sáng ngời nhất trong tất cả. Khi ấy, thân-mẫu (kiếp hiện-tại là vị thiên-nam Santussita) từ cõi trời Đâu-xuất-đà-thiên (Tusita) ngự xuống ngồi bên phải của Đức-Thế-Tôn, vị thiên-nam Indaka cũng ngồi bên phải, còn vị thiên-nam Aṅkura ban đầu ngồi bên trái của Đức-Thế-Tôn.

    * Mỗi khi có vị thiên-nam nào có oai-đức lớn hơn đến thì vị thiên-nam Aṅkura phải lùi lại sau, nhường chỗ cho vị thiên-nam ấy. Cứ như vậy, vị thiên-nam Aṅkura phải lùi lại sau cách xa Đức-Thế-Tôn khoảng 12 do-tuần (33).

    * Vị thiên-nam Indaka vẫn ngồi yên chỗ cũ ban đầu.

    Nhìn thấy vị thiên-nam Indaka và vị thiên-nam Aṅkura ấy, Đức-Thế-Tôn có tác-ý cho các hàng thanh-văn đệ-tử biết rằng:

    “Thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí cúng-dường đến bậc Thánh thanh-văn đệ-tử có giới-đức trong sạch, có được nhiều phước-thiện cao quý, tạo đại-thiện-nghiệp bố-thí cao quý, có nhiều quả báu cao quý. ”

    Vì vậy, Đức-Thế-Tôn truyền hỏi vị thiên-nam Aṅkura rằng:

    - Này Aṅkura! Con đã lập trại để tạo phước-thiện bố- thí trên quãng đường dài 12 do-tuần suốt thời gian lâu dài 10 ngàn năm. Nay, kiếp hiện-tại hóa-sinh làm thiên- nam đến tụ hội trong đoàn chư-thiên phạm-thiên này, con phải lùi lại sau chư-thiên phạm-thiên cách xa khoảng 12 do-tuần.

    - Này Aṅkura! Do nhân nào vậy con?

    Giọng hỏi của Đức-Thế-Tôn vang rộng đến cõi người cũng đều nghe rõ.

    Nghe Đức-Thế-Tôn truyền hỏi như vậy, vị thiên-nam Aṅkura cung-kính bạch với Đức-Thế-Tôn rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, do con đã tạo phước-thiện bố-thí đến những người không có giới-đức trong sạch, trong thời-kỳ không có bậc Thánh-nhân có giới-đức trong sạch.

    Dù con có tạo phước-thiện bố-thí trong thời gian lâu dài bao nhiêu cũng không sánh bằng thí-chủ tạo phước- thiện bố-thí đến bậc Thánh-nhân có giới-đức trong sạch.

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, như vị thiên-nam Indaka tạo phước-thiện bố-thí cúng-dường ít đến bậc Thánh-nhân mà quả báu hơn con gấp bội, như ánh sáng mặt trăng so với ánh sáng chùm sao quá cao bé nhỏ. Bạch Ngài.

    Nghe vị thiên-nam Aṅkura bạch như vậy, Đức-Thế- Tôn truyền hỏi vị thiên-nam Indaka rằng:

    - Này Indaka! Con ngồi bên phải của Như-lai, do nhân nào mà con vẫn ngồi yên một chỗ, không phải lùi lại sau vậy con?

    Nghe Đức-Thế-Tôn truyền hỏi như vậy, vị thiên-nam Indaka cung-kính bạch với Đức-Thế-Tôn rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, do con đã tạo phước-thiện bố-thí cúng-dường đến bậc Thánh-nhân, như người nông dân gieo hạt giống tốt trong thửa ruộng màu mỡ. Bạch Ngài.

    Sau khi kính bạch Đức-Thế-Tôn như vậy, vị thiên- nam Indaka tán dương ca tụng phước-thiện bố-thí cúng- dường đến bậc Thánh-nhân có giới-đức bằng câu kệ:

    Người nông dân dù gieo nhiều hạt giống trong thửa ruộng cằn cỗi, cũng không thu hoạch được nhiều thóc lúa, không làm cho người nông dân mừng vui hoan-hỷ như thế nào.

    Cũng như vậy, người thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến người phá giới, không có giới-đức, dù có nhiều đến bao nhiêu cũng không có quả báu nhiều, không làm cho thí-chủ mừng vui hoan-hỷ như thế ấy.

    Người nông dân dù gieo ít hạt giống trong thửa ruộng màu mỡ, gặp mưa thuận gió hoà, nên thu hoạch được nhiều thóc lúa, làm cho người nông dân mừng vui hoan- hỷ như thế nào.

    Cũng như vậy, người thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí cúng-dường đến bậc Thánh-nhân có giới-đức trong sạch, có pháp cao thượng, dù có ít cũng được quả báu nhiều, làm cho thí-chủ mừng vui hoan-hỷ như thế ấy.

    Phước-thiện bố-thí đến bậc Thánh-nhân có quả báu nhiều

    Tiền-kiếp của vị thiên-nam Indaka đã tạo phước- thiện bố-thí cúng dường đến vị nào, mà kiếp hiện-tại có được quả báu của phước-thiện bố-thí nhiều như vậy?

    Tiền-kiếp của vị thiên-nam Indaka là người nghèo khổ có được một phần cơm ít ỏi, nhìn thấy Ngài Trưởng-lão Anuruddha đi khất thực đến đứng trước cổng nhà, người nghèo khổ (tiền-kiếp của vị thiên-nam Indaka) đem phần cơm của mình tạo phước-thiện bố-thí cung- kính cúng dường chỉ một vá cơm (kaṭacchubhikkhaṃ dāpesi) đến Ngài Trưởng-lão Anuruddha.

    Sau khi người nghèo khổ ấy chết, đại-thiện-nghiệp bố-thí ấy trong đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại- quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhi- citta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị thiên-nam tam-nhân tên là Indaka trên cõi trời Tam- thập-tam-thiên, hưởng được quả báu của phước-thiện bố-thí cúng-dường chỉ một vá cơm ấy nhiều gấp bội lần hơn quả báu của tiền-kiếp vị thiên-nam Aṅkura đã tạo phước-thiện bố-thí đến những người không phải là bậc Thánh-nhân, trên quảng đường dài 12 do-tuần, suốt thời gian 10 ngàn năm.

    Cho nên, vị thiên-nam Indaka kính bạch với Đức- Thế-Tôn như vậy.

    Khi ấy, Đức-Thế-Tôn truyền dạy câu kệ với ý nghĩa:

    Người nông dân gieo hạt giống trong những thửa ruộng có đầy cỏ, thu hoạch quả không được nhiều, cũng như thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến những người có tâm tham-dục sẽ không được quả báu nhiều.

    Còn người thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí, cung-kính cúng dường đến bậc Thánh A-ra-hán không còn tâm tham dục, nên được quả báu an-lạc nhiều.

    Người nông dân gieo hạt giống trong những thửa ruộng có đầy cỏ, thu hoạch quả không được nhiều, cũng như thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến những người có sân hận, sẽ không được quả báu nhiều.

    Còn người thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí, cung-kính cúng dường đến bậc ThánhA-ra-hán không còn tâm sân hận nữa, nên được quả báu an-lạc nhiều.

    Người nông dân gieo hạt giống trong những thửa ruộng có đầy cỏ, thu hoạch quả không được nhiều, cũng như thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến những người có si-mê, sẽ không được quả báu nhiều.

    Còn người thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí, cung-kính cúng dường đến bậc Thánh A-ra-hán không còn tâm si- mê nữa, nên được quả báu an-lạc nhiều.

    Người nông dân gieo hạt giống trong những thửa ruộng có đầy cỏ, thu hoạch quả không được nhiều, cũng như thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí đến những người có tâm tham-ái nhiều, sẽ không được quả báu nhiều.

    Còn người thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí, cung-kính cúng dường đến bậc Thánh A-ra-hán không còn tâm tham-ái nữa, nên được quả báu an-lạc nhiều.

    Sau khi Đức-Thế-Tôn thuyết giảng những câu kệ như vậy, vị thiên-nam Indaka và vị thiên-nam Aṅkura đều chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Nhập-lưu và đồng thời số đông chúng-sinh được sự lợi ích, sự an-lạc, sự tiến hóa trở thành bậc Thánh-nhân tuỳ theo năng lực của các pháp-hạnh ba-la- mật và 5 pháp-chủ (indriya): tín-pháp-chủ, tấn-pháp- chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi chúng-sinh.

    Đức-Thế-Tôn thuyết giảng Tạng Vi-diệu-pháp

    Trong mùa hạ thứ 7, Đức-Phật Gotama ngự lên cung trời Tam-thập-tam-thiên, ngồi tại tảng đá Paṇḍu- kambalasilā giữa đại chúng chư-thiên, phạm-thiên, để tế độ Phật-mẫu (kiếp hiện-tại là vị thiên-nam Santussita) thuyết giảng Abhidhammapiṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi gồm có 7 bộ lớn là:

    1- Bộ Dhammasaṅganīpāḷi: Bộ Pháp-hội-tụ.

    2- Bộ Vibhaṅgapāḷi: Bộ Pháp-phân-tích.

    3- Bộ Dhātukathāpāḷi: Bộ Pháp-phân-loại.

    4- Bộ Puggalapaññattipāḷi: Bộ chúng-sinh chế-định.

    5-Bộ Kathāvatthupāḷi: Bộ Pháp-luận-đề.

    6- Bộ Yamakapāḷi: Bộ Pháp-song-đối.

    7- Bộ Paṭṭhānapāḷi: Bộ Pháp-duyên-hệ.

    Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bộ thứ nhất là bộ Dhamma- saṅganīpāḷi: bộ Pháp-hội-tụ rồi theo tuần tự đến bộ thứ 7: bộ Paṭṭhānapāḷi: bộ Pháp-duyên-hệ cuối cùng, suốt 3 tháng mùa mưa tại cõi người (so với thời gian tại cõi trời Tam-thập-tam-thiên chỉ có 3 phút 36 giây, bởi vì 1 ngày 1 đêm trên cõi trời này bằng 100 năm tại cõi người).

    Đức-Phật thuyết giảng Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi tại cõi trời Tam-thập-tam-thiên này, đến giờ khất thực, Đức- Phật hóa ra Nimmitabuddha (Đức-Phật hóa), rồi phát nguyện rằng: “Đức-Phật hóa này tiếp tục ngồi thuyết- phần pháp này cho đến khi Như-lai trở về.”

    Khi ấy, Đức-Phật thật hiện xuống rừng núi Himavanta, rửa mặt tại hồ Anodatta xong, rồi bay đến Uttarakurudīpa (Bắc-cưu-lưu châu) nằm ở phía Bắc núi Sineru, để đi khất thực.

    Đức-Phật đem vật thực ngự trở về rừng trầm, gần hồ Anodatta ven khu rừng Himavanta, ngồi độ vật thực. Khi ấy, Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta đến hầu phục vụ Đức-Phật.

    Sau khi thọ thực xong, Đức-Phật thuyết giảng tóm lược lại các pháp mà Ngài đã thuyết giảng tại cung trời Tam-thập-tam-thiên, rồi truyền dạy Ngài Đại-Trưởng- lão rằng:

    - Này Sāriputta! Hôm nay Như-lai đã thuyết giảng Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi, bộ thứ nhất phần đầu các pháp như vầy, khi trở về con nên khai triển dạy lại nhóm 500 đệ-tử của con.

    Nhóm 500 đệ-tử này vốn là những người cận-sự-nam (upāsaka) cùng nhau đến xem Đức-Phật biểu diễn phép thần-thông yamakapāṭihāriya, rồi phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật, cùng dẫn nhau đến xuất gia trở thành tỳ-khưu nơi Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta.

    Sau khi truyền dạy Ngài Đại-Trưởng-lão như vậy, Đức-Phật ngự lên cung trời Tam-thập-tam-thiên thay thế Đức-Phật Nimmitabuddha, rồi tiếp tục thuyết giảng các pháp tiếp theo.

    Tạng Vi-Diệu-Pháp tại cõi người

    Đức-Phật thuyết giảng Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi gồm có 7 bộ lớn tại cung trời Tam-thập-tam-thiên trong hạ thứ 7 của Đức-Phật suốt 3 tháng mùa mưa.

    Mỗi ngày đến giờ khất thực, Đức-Phật hóa ra Nimmitabuddha tiếp tục thuyết giảng, Đức-Phật thật ngự đi khất thực ở Bắc-cưu-lưu châu, đem vật thực ngự trở về rừng trầm, gần hồ Anodatta ven khu rừng Himavanta, ngồi độ vật thực. Mỗi ngày, Ngài Đại- Trưởng-lão Sāriputta đến hầu phục vụ Đức-Phật.

    Sau khi thọ thực xong, Đức-Phật thuyết giảng tóm lược theo cách saṅkhepa các pháp mà Đức-Phật đã thuyết giảng ngày hôm ấy cho Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta, rồi Đức-Phật ngự lên cung trời Tam-thập-tam-thiên thay thế Đức-Phật Nimmitabuddha tiếp tục thuyết giảng các pháp tiếp theo.

    Vâng theo lời dạy của Đức-Phật, mỗi ngày sau khi trở về, Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta truyền dạy lại khai triển đầy đủ các pháp ấy đến nhóm 500 đệ-tử.

    Cho nên, mãn mùa hạ suốt 3 tháng mùa mưa ấy, nhóm 500 đệ-tử của Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta thông thuộc, thấu suốt Abhidhammapiṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi gồm có 7 bộ lớn trước tiên trong cõi người.

    * Tiền-kiếp của nhóm 500 vị tỳ-khưu

    Trong thời-kỳ Đức-Phật Kassapa, tiền-kiếp của nhóm 500 tỳ-khưu này là 500 con dơi đeo trong một cái động.

    Mỗi ngày, 2 Ngài Trưởng-lão vừa đi kinh hành ở trong động vừa tụng ôn Abhidhammapiṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi gồm có 7 bộ lớn. Khi ấy, nhóm 500 con dơi đeo trong động, cung-kính lắng nghe âm-thanh Pāḷi từ 2 Ngài Trưởng-lão tụng ôn Abhidhamma- piṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi, nhóm 500 con dơi không hiểu biết rằng:

    “Kusalā dhammā (các thiện-pháp), akusalā dhammā (các bất-thiện-pháp), abyākatā dhammā (các pháp không thiện không bất-thiện), khandha (ngũ-uẩn), āyatana (12 xứ), dhātu (18 tự-tánh), sacca (tứ-đế), v.v...” mà chỉ cung-kính lắng nghe âm thanh Pāḷi mà thôi.

    Sau khi nhóm 500 con dơi ấy chết, đại-thiện-nghiệp cung-kính lắng nghe âm thanh Pāḷi ấy cho quả tái-sinh kiếp sau hóa sinh làm 500 vị thiên-nam trên cõi trời dục- giới, hưởng quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy suốt thời gian từ thời-kỳ Đức-Phật Kassapa cho đến thời-kỳ Đức- Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, 500 vị thiên-nam cùng chuyển kiếp (cuti: chết) từ cõi trời dục-giới, đại- thiện-nghiệp ấy trong đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có đại-quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭi- sandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp chót đầu thai làm người tam-nhân (tihetukapuggala) trong kinh-thành Sāvatthī.

    Khi sinh ra đời, lúc trưởng thành là người tam-nhân đều trở thành cận-sự-nam (upāsaka) trong kinh-thành Sāvatthī.

    Vào ngày rằm tháng 6 âm lịch, Đức-Phật Gotama biểu diễn phép-thần-thông yamakapāṭihāriya tại cây xoài gần kinh-thành Sāvatthī, nhóm 500 người cận-sự- nam (upāsaka) ấy cùng nhau đến xem Đức-Phật biểu diễn phép-thần-thông yamakapāṭihāriya, rồi phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật.

    Sau khi biểu diễn phép thần-thông yamakapāṭihāriya xong, Đức-Phật ngự lên cung trời Tam-thập-tam-thiên, nhập hạ thứ 7, để thuyết giảng Abhidhammapiṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp.

    Nhóm 500 người cận-sự-nam cùng dẫn nhau đến hầu đảnh lễ Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta, xin xuất gia trở thành 500 vị tỳ-khưu là đệ-tử của Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta.

    Mỗi ngày, Đức-Phật ngự đi khất thực ở Bắc-cưu-lưu châu, đem vật thực ngự trở về rừng trầm, gần hồ Anodatta ven khu rừng Himavanta, ngồi độ vật thực. Mỗi ngày, Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta đến hầu phục vụ Đức-Phật. Sau khi thọ thực xong, Đức-Phật thuyết giảng tóm lược theo cách saṅkhepa các pháp mà Đức- Phật đã thuyết giảng ngày hôm ấy cho Ngài Đại-Trưởng- lão Sāriputta, rồi truyền dạy Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta trở về dạy nhóm 500 đệ-tử bằng cách khai triển đầy đủ các pháp ấy.

    Cho nên, nhóm 500 đệ-tử của Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta thông thuộc, thấu suốt Abhidhammapiṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi gồm có 7 bộ trước mọi tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama, tại cõi người.

    Đức-Phật Gotama thuyết giảng xong trọn bộ Abhidhammapiṭakapāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi gồm có 7 bộ lớn tại cung trời Tam-thập-tam-thiên suốt 3 tháng mùa mưa tại cõi người. Phật-mẫu (kiếp hiện-tại là vị thiên-nam Santussita) chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Nhập-lưu, cùng với 800 tỷ chư-thiên phạm-thiên cũng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-nhân thấp hoặc cao tuỳ theo năng lực của các pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ (inriya): tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp- chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi vị chư-thiên, phạm-thiên.

    Đức-Phật Gotama trở về cõi người

    Đức-Phật Gotama ngự lên cung trời Tam-thập-tam- thiên nhập hạ thứ 7 suốt 3 tháng mùa mưa, các hàng tứ chúng tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ là nhóm thanh-văn đệ-tử đông đảo ngày đêm trông mong đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, nghe pháp, nên đã kể tháng, đếm ngày thì còn 7 ngày nữa sẽ đến ngày rằm tháng 9 âm lịch là ngày đại-lễ mahāpavaraṇā của chư tỳ-khưu- Tăng, sáng ngày 16 tháng 9 là ngày mãn 3 tháng hạ mùa mưa, nên tất cả tứ chúng muốn biết Đức-Phật sẽ ngự trở về cõi người vào ngày nào, tại nơi nào, để chờ đón Đức- Phật ngự trở về cõi người.

    Tứ chúng đến hầu đảnh lễ Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna cầu xin Ngài Đại-Trưởng-lão bay lên cung trời Tam-thập-tam-thiên, đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch hỏi Đức-Thế-Tôn vào ngày nào sẽ ngự trở về cõi người, và tại nơi nào, để cho tứ chúng thanh-văn đệ-tử chờ đón Đức-Thế-Tôn.

    Nghe lời cầu xin của tứ chúng như vậy, Ngài Đại- Trưởng-Lão Mahāmoggallāna nhận lời, nên Ngài Đại- Trưởng-lão bay lên cung trời Tam-thập-tam-thiên, đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch hỏi rằng:

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tứ chúng thanh-văn đệ-tử trông mong đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, nghe pháp, rồi mới trở về chỗ ở của mình. Đức-Thế-Tôn sẽ ngự trở về cõi người vào ngày nào? Bạch Ngài. Và Đức-Thế-Tôn sẽ ngự xuống cõi người tại nơi nào? Bạch Ngài.

    Nghe Ngài Đại-Trưởng-lão bạch hỏi như vậy, Đức- Thế-Tôn truyền hỏi rằng:

    - Này Moggallāna! Sāriputta là sư huynh của con nhập hạ tại nơi nào vậy con?

    - Kính bạch Đức-Thế-Tôn, Sư huynh Sāriputta nhập hạ tại trong kinh-thành Saṅkassa. Bạch Ngài.

    - Này Moggallāna! Kể từ hôm nay, còn 7 ngày nữa vào ngày rằm tháng 9, ngày đại-lễ mahāpavaraṇā của chư tỳ-khưu-Tăng, Như-lai sẽ ngự trở về cõi người, tại cửa kinh-thành Saṅkassa, các hàng tứ chúng tỳ-khưu, tỳ- khưu-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ nên chờ đón Như-lai tại nơi cửa kinh-thành ấy.

    - Này Moggallāna! Con khuyên các cận-sự-nam cận- sự-nữ nên thọ-trì bát-giới uposathasīla trong ngày hôm ấy.

    Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna trở về cõi người báo cho các hàng tứ chúng biết rõ ngày và nơi ngự xuống của Đức-Thế-Tôn.

    Đức-Phật mở trống trải toàn cõi-giới

    Đức-Thế-Tôn truyền bảo với Đức-vua-trời Sakka rằng:

    - Này Đức-vua-trời! Nhập hạ suốt 3 tháng xong rồi, Như-lai sẽ ngự trở về cõi người.

    Nghe Đức-Thế-Tôn truyền bảo như vậy, Đức-vua-trời Sakka hóa ra 3 cái thang 3 loại:

    Một cầu thang bằng vàng, một cầu thang bằng ngọc maṇi, một cầu thang bằng bạc, chân cầu thang đặt tại cửa kinh-thành Saṅkassa, đầu cầu thang đặt trên đỉnh núi Sineru.

    * Cầu thang bằng vàng nằm bên phải dành cho chư- thiên 6 cõi trời dục-giới.

    * Cầu thang bằng bạc nằm bên trái dành cho chư phạm-thiên các cõi trời sắc-giới.

    * Cầu thang bằng ngọc maṇi nằm giữa kính thỉnh Đức-Phật ngự từ cung trời Tam-thập-tam-thiên xuống cõi người. Khi đứng trên đỉnh núi Sineru, Đức-Phật hóa phép-thần-thông yamakapāṭihāriya trong khi đang ngự từ cõi trời xuống cõi người.

    * Đức-Phật khi nhìn lên phía trên thấu đến tầng trời sắc-giới tột đỉnh, như một mặt bằng (ekaṅgana), khi nhìn xuống phía dưới thấu tận đến cõi đại-địa-ngục Avīci như một mặt bằng, khi nhìn ngang 8 hướng: hướng Đông, hướng Đông-nam, hướng Nam, hướng Tây-nam, hướng Tây, hướng Tây-bắc, hướng Bắc, hướng Đông-bắc như một mặt bằng, khi nhìn 100 ngàn cõi-giới chúng-sinh (cakkavāḷa) như một mặt bằng, cho nên, chư-thiên, phạm-thiên nhìn thấy loài người, loài người cũng nhìn thấy chư-thiên, phạm-thiên, tất cả mọi chúng-sinh cũng đều nhìn thấy lẫn nhau như thấy nhau trước mặt.

    Đức-Phật cho tỏa hào quang 6 màu tỏa rộng ra khắp chu vi 36 do-tuần bao trùm loài người, trong ngày hôm ấy, mỗi người đều nhìn thấy kim thân của Đức-Phật có oai lực phi thường, nên có người phát nguyện muốn trở thành một Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác.

    * Đoàn chư-thiên các tầng trời dục-giới tiễn đưa Đức-Phật theo cầu thang bằng vàng, phía bên phải của Đức-Phật.

    * Đoàn chư phạm-thiên các tầng trời sắc-giới phạm- thiên tiễn đưa Đức-Phật theo cầu thang bằng bạc, phía bên trái của Đức-Phật.

    * Đức-Phật ngự đi cầu thang bằng ngọc maṇi ở giữa, bên phải có vị thiên-nam Pañcasikha đánh đàn cúng- dường Đức-Phật, bên trái có vị thiên-nam Mātali cúng- dường nước hoa thơm cõi trời, Đại-phạm-thiên cầm chiếc lọng, Đức-Thiên-vương Suyāma cầm chiếc quạt.

    Đức-Phật ngự từ cõi trời Tam-thập-tam-thiên có các đoàn chư-thiên, chư phạm-thiên tiễn đưa, Đức-Phật dừng lại tại cửa kinh-thành Saṅkassa.

    Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta đến hầu cung-kính đảnh lễ Đức-Thế-Tôn với đại-duy-tác-tâm vô cùng hoan- hỷ, bởi vì, chưa từng thấy Đức-Thế-Tôn mở trống trải toàn cõi-giới chúng-sinh, nên chư-thiên, phạm-thiên nhìn thấy loài người, và loài người cũng nhìn thấy chư- thiên, phạm-thiên, tất cả chúng-sinh nhìn thấy lẫn nhau vô cùng hoan-hỷ. Cho nên, chư-thiên, chư phạm-thiên, nhân loại kính yêu Đức-Thế-Tôn biết dường nào!

    Khi ấy, Đức-Thế-Tôn thuyết-pháp tế độ tứ chúng thanh-văn đệ-tử. Sau khi lắng nghe Đức-Thế-Tôn thuyết- pháp, chư tỳ-khưu, chư tỳ-khưu-ni, các cận-sự-nam, các cận-sự-nữ phát sinh đức-tin vô cùng hoan-hỷ theo lời giáo huấn của Đức-Thế-Tôn, nhóm 500 tỳ-khưu đệ-tử của Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta, đều chứng ngộ chân- lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, cùng với 300 triệu chúng-sinh khác cũng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết- bàn, trở thành bậc Thánh-nhân thấp hoặc cao tuỳ theo năng lực của các pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ: tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp- chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi chúng-sinh.

    Nhận xét về 2 vị thiên-nam Aṅkura và Indaka

    * Tiền-kiếp của vị thiên-nam Aṅkura ở cõi người đã từng làm trại phước-thiện bố-thí trong quãng đường dài 12 do-tuần suốt thời gian 10 ngàn năm, đến nhiều hạng người không phải là bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo.

    * Tiền-kiếp của vị thiên-nam Indaka ở cõi người tạo phước-thiện bố-thí cung-kính cúng dường chỉ có một vá cơm đến Ngài Trưởng-lão Anurddha mà thôi.

    Khi Đức-Phật Gotama thuyết Abhidhammapiṭaka- pāḷi: Tạng Vi-diệu-pháp Pāḷi tại cung trời Tam-thập- tam-thiên, ban đầu vị thiên-nam Indaka ngồi bên phải của Đức-Phật, còn vị thiên-nam Aṅkura ngồi bên trái của Đức-Phật.

    Dù có các vị thiên-nam, các vị phạm-thiên có nhiều năng lực của phước-thiện hiện đến, vị thiên-nam Indaka vẫn ngồi yên chỗ cũ, không lùi lại đằng sau, bởi vì vị thiên-nam Indaka có nhiều năng lực phước-thiện hơn các vị ấy. Còn vị thiên-nam Aṅkura phải lùi lại đằng sau, nhường chỗ cho các vị vị thiên-nam, các vị phạm-thiên có nhiều năng lực phước-thiện khác, cách xa đến 12 do- tuần, bởi vì vị thiên-nam Aṅkura kém năng lực phước- thiện hơn các vị ấy.

    Tuy tiền-kiếp của vị thiên-nam Aṅkura đã tạo phước- thiện bố-thí, trên quãng đường dài 12 do-tuần, suốt thời gian 10 ngàn năm đến nhiều hạng người, nhưng không phải là bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo.

    Còn tiền-kiếp của vị thiên-nam Indaka đã tạo phước- thiện bố-thí, cung-kính cúng dường đến bậc Thánh- nhân trong Phật-giáo, dù chỉ có một vá cơm đến Ngài Trưởng-lão Anuruddha là bậc Thánh A-ra-hán, vẫn có quả báu của đại-thiện-nghiệp bố-thí ấy có nhiều năng lực hơn quả báu của đại-thiện-nghiệp bố-thí mà tiền-kiếp của vị thiên-nam Aṅkura đã tạo phước-thiện bố-thí đến nhiều hạng người, không phải là bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo, suốt thời gian 10 ngàn năm.

    Vị thiên-nam Indaka nêu thí dụ:

    Người nông dân không biết thời tiết thuận lợi, gieo nhiều hạt giống trong thửa ruộng cằn cỗi, sẽ thu hoạch quả không được nhiều, không làm cho người nông dân vui mừng hoan-hỷ như thế nào.

    Cũng như vậy, người thí-chủ không hiểu biết tạo phước-thiện bố-thí nhiều vật thí đến nhiều người không có giới-đức, không có thiện-pháp cao thượng, nên có quả báu của đại-thiện-nghiệp bố-thí không nhiều, không làm cho thí-chủ vui mừng hoan-hỷ, cũng như thế ấy.

    Người nông dân giỏi hiểu biết thời tiết thuận lợi, gieo dù ít hạt giống trong thửa ruộng màu mỡ, sẽ thu hoạch quả được rất nhiều, nên làm cho người nông dân vui mừng hoan-hỷ như thế nào.

    Cũng như vậy, người thí-chủ có trí-tuệ sáng suốt hiểu biết tạo phước-thiện bố-thí đến những bậc có giới-đức trong sạch, có thiện-pháp cao thượng, là bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo, dù vật thí ít cũng có quả báu của đại- thiện-nghiệp bố-thí rất nhiều, nên làm cho thí-chủ vui mừng hoan-hỷ, cũng như thế ấy.

    Đức-vua-trời Sakka tạo phước-thiện bố-thí

    Đức-vua-trời Sakka trị vì cõi trời Tam-thập-tam- thiên mà tiền-kiếp của Đức-vua-trời đã từng làm những phước-thiện trong thời-kỳ không có Đức-Phật Chánh- Đẳng-Giác xuất hiện trên thế gian, nên Đức-vua-trời Sakka cảm thấy tủi phận nghèo của mình, mỗi khi gặp những vị thiên-nam mà tiền-kiếp đã tạo phước-thiện trong thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, những vị thiên-nam ấy có hào-quang sáng chói làm lấn át hào quang của Đức-vua-trời Sakka, cho nên, Đức-vua-trời Sakka tìm cơ hội tốt tạo phước-thiện đến bậc Thánh- nhân trong Phật-giáo.

    Đức-vua-trời Sakka suy xét biết rõ Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa chỉ tế độ những người nghèo khổ mà thôi, nên Đức-vua-trời Sakka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sujā từ cõi trời Tam-thập-tam-thiên hiện xuống cõi người, hóa ra thành 2 ông bà già nghèo khổ đáng thương chờ đợi tạo phước-thiện bố-thí, cúng dường vật thực đến Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa sau khi xả diệt-thọ-tưởng (nirodhasamāpatti), đi khất thực tế độ người nghèo khổ để có được nhiều quả-báu cao quý ngay trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

    * Tích Mahākassapattherapiṇḍapātadinnavatthu (34) được tóm lược như sau:

    Một thuở nọ Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Veḷuvana đề cập sự cúng dường vật thực đến Ngài Đại- Trưởng-lão Mahākassapa có giới-đức trong sạch và có pháp cao thượng.

    Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa nhập diệt-thọ-tưởng suốt 7 ngày đêm xong, sáng hôm ấy, Ngài Đại-trưởng- lão đi khất thực chỉ tế độ người nghèo khổ mà thôi.

    Đức-vua Trời Sakka theo dõi biết Ngài Đại-Trưởng- lão Mahākassapa đã xả diệt-thọ-tưởng, buổi sáng hôm ấy, Ngài đại-trưởng-lão đi khất thực trên đường đi vào xóm nhà.

    Đức-vua-trời Sakka gọi Chánh-cung Hoàng-hậu Sujā từ cõi trời Tam-thập-tam-thiên hiện xuống cõi người, Đức-vua-trời Sakka hóa ra thành ông già và Chánh-cung Hoàng-hậu Sujā hóa ra thành bà già, như 2 ông bà già nghèo khổ thật là đáng thương làm nghề thợ dệt sống trong một căn chòi lá bên đường mà Ngài Đại-Trưởng- lão Mahākassapa sẽ đi khất thực ngang qua.

    Hai ông bà già đã chuẩn bị vật thực sẵn sàng, ông già (Đức-vua-trời) đang trông chờ Ngài Đại-Trưởng-lão đi ngang qua.

    Ngài Đại-Trưởng-lão vừa đi đến căn chòi lá, nhìn thấy 2 ông bà già, nên nghĩ rằng:

    “Hai ông bà già yếu này là người có tuổi cao mà còn phải làm việc, thật là đáng thương quá! Bần tăng nên tế độ 2 ông bà già này” nên Ngài Đại-Trưởng-lão đứng trước chòi lá.

    Khi nhìn thấy Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa, ông già liền đến đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Ngài Đại-Trưởng-lão, rồi bạch rằng:

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, kính xin Ngài có tâm bi tế độ hai vợ chồng già chúng con.

    Ông già kính xin nhận cái bát của Ngài Đại-Trưởng- lão Mahākassapa.

    Ngài Đại-Trưởng-lão nghĩ rằng:

    “Lão Tăng nên tế độ hai vợ chồng già đáng thương này”, Ngài Đại-Trưởng-lão trao cái bát cho ông già.

    Ông già (Đức-vua Trời Sakka) vô cùng hoan-hỷ nhận cái bát của Ngài Đại-Trưởng-lão, rồi cung-kính thỉnh vào chòi lá, ông già và bà già (Chánh-cung Hoàng-hậu Sujā) cùng nhau để các món ăn ngon vào trong bát, rồi đậy kín nắp lại, hai ông bà già cung-kính cúng dường lên Ngài Đại-Trưởng-lão.

    Khi Ngài Đại-Trưởng-lão vừa nhận cái bát, mùi thơm của các món ăn tỏa ra khắp kinh-thành Rājagaha.

    Ngài Đại-trưởng-lão Mahākassapa biết ngay hai ông bà già này chính là Đức-vua-trời Sakka và Chánh-cung Hoàng-hậu Sujā, nên Ngài Đại-Trưởng-lão quở trách:

    - Này Vua-Trời Sakka! Vua-trời đã giành phước-thiện bố-thí của người nghèo khổ rồi!

    Đức-vua-trời Sakka bạch sự thật

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, chúng con cũng là người nghèo. Bạch Ngài.

    - Này Vua-trời Sakka! Vua-trời là vị cao cả trên cõi trời Tam-thập-tam-thiên, hưởng mọi an-lạc cao quý trên cõi trời. Vậy, do nguyên-nhân nào mà tự xưng mình là người nghèo?

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, sự thật con là vua- trời Sakka cao cả trên cõi trời Tam-thập-tam-thiên, do tiền-kiếp của con đã làm mọi phước-thiện trong thời-kỳ không có Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác xuất hiện trên thế gian, nên quả báu của phước-thiện của con nghèo nàn thấp hèn so với các vị thiên-nam mà tiền-kiếp của họ đã làm các phước-thiện trong thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian.

    Thật vậy, tiền-kiếp của các vị thiên-nam ấy đã làm các phước-thiện trong thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, sau khi họ chết, đại-thiện-nghiệp ấy cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị thiên-nam trên cõi trời Tam-thập-tam-thiên, có hào quang sáng chói làm lấn át hào quang của con, có oai lực nhiều hơn con.

    Vậy, con cũng là người nghèo nàn thấp hèn hơn các vị thiên-nam ấy. Bạch Ngài.

    - Này Vua-trời Sakka! Mặc dù có như vậy, kể từ nay về sau, vua-trời cũng không nên lừa tạo phước-thiện bố- thí cúng dường đến lão tăng nữa!

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, nếu con lừa tạo phước-thiện bố-thí cúng dường đến Ngài Đại-Trưởng- lão, thì con có được phước-thiện bố-thí cúng dường hay không? Bạch Ngài.

    - Này Vua-trời Sakka! Dĩ nhiên là có phước-thiện bố- thí cúng dường đối với vua-trời.

    - Kính bạch Ngài Đại-Trưởng-lão, nếu như vậy thì việc tạo phước-thiện bố-thí cúng dường cũng nên đối với chúng con. Bạch Ngài.

    Sau khi bạch như vậy, Đức-vua-trời Sakka cung-kính đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa, rồi dẫn Chánh-cung Hoàng-hậu Sujā bay lên hư không với đại-thiện-tâm vô cùng hoan-hỷ tán dương ca tụng 3 lần rằng:

    “Aho dānaṃ paramadānaṃ Kassape suppatiṭṭhitaṃ! Aho dānaṃ paramadānaṃ Kassape suppatiṭṭhitaṃ! Aho dānaṃ paramadānaṃ Kassape suppatiṭṭhitaṃ!

    “Ô! Phước-thiện bố-thí cúng dường là sự cúng dường cao thượng nhất mà ta đã tạo vững chắc nơi Ngài Đại- Trưởng-lão Mahākassapa.”

    “Ô! Phước-thiện bố-thí cúng dường là sự cúng dường cao thượng nhất mà ta đã tạo vững chắc nơi Ngài Đại- Trưởng-lão Mahākassapa.”

    “Ô! Phước-thiện bố-thí cúng dường là sự cúng dường cao thượng nhất mà ta đã tạo vững chắc nơi Ngài Đại- Trưởng-lão Mahākassapa.”

    Đức-vua-trời Sakka hồi cung trở về cõi trời Tam-thập- tam-thiên có hào quang sáng chói tỏa khắp, có oai lực phi thường trong cõi trời Tam-thập-tam-thiên.

    Chư-thiên thấy 5 hiện-tượng báo trước sự chết

    Tất cả chư-thiên trong cõi trời dục-giới, vị thiên-nam nào hoặc vị thiên-nữ nào mỗi khi thấy 5 hiện-tượng báo trước (pañcapubbanimitta)(35) sắp hết tuổi thọ tại cõi trời dục-giới ấy, phải chuyển kiếp (cuti) (chết), rồi phải tái- sinh kiếp sau trong cõi-giới khác, tuỳ theo nghiệp và quả của nghiệp của vị thiên-nam ấy, vị thiên-nữ ấy.

    Pañcapubbanimitta: 5 hiện-tượng báo trước:

    1- Mālā milāyanti: Các vòng hoa bị héo xàu.

    2- Vatthāni kilissanti: Các bộ y phục bị dơ bẩn.

    3- Kacchehi sedā muccanti: Mồ hôi toát ra hai bên nách.

    4- Kāye dubbaṇṇiyaṃ okkamati: Sắc thân trở nên xấu.

    5- Sake devo devāsane nābhiramati: Chư-thiên không hài lòng với cõi trời của mình nữa.

    Sau khi thấy 5 hiện-tượng báo trước như vậy:

    * Nếu vị thiên-nam hoặc vị thiên-nữ nào biết mình có nhiều phước-thiện, có đại-thiện-nghiệp sẽ cho quả tái- sinh kiếp sau hóa-sinh trở lại cõi trời ấy hoặc cõi trời cao hơn thì vị thiên-nam hoặc vị thiên-nữ ấy vẫn có vẻ tự nhiên, không có chút sợ hãi nào cả.

    * Nếu vị thiên-nam hoặc vị thiên-nữ nào biết mình có ít phước-thiện, ác-nghiệp sẽ cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), thì cảm thấy kinh sợ nhiều.

    Đức-vua-trời Sakka thấy 5 hiện-tượng báo trước

    Đức-vua-trời Sakka được an hưởng mọi sự an-lạc đặc biệt trên cõi trời Tam-thập-tam-thiên, không còn thua kém vị thiên-nam nào, nên cảm thấy rất hài lòng với ngôi vị Đức-vua-trời của mình.

    Về sau, Đức-vua-trời Sakka thấy 5 hiện-tượng báo trước (pañcapubbanimitta) sắp hết tuổi thọ tại cõi trời Tam-thập-tam-thiên. Khi ấy, Đức-vua-trời Sakka xem xét về sự nghiệp của mình như là:

    - Cung điện 10.000 do-tuần.

    - Lâu-đài cao 1.000 do-tuần.

    - Hội-trường Sudhammasabhā rộng 100 do-tuần.

    - Cây Mahāparicchatta cao 100 do-tuần.

    - Tảng đá Paṇḍukambala rộng 60 do-tuần.

    - Vũ-nữ có 250 triệu cô.

    - Chư-thiên thuộc hạ gồm có 2 cõi trời.

    - Khu vườn Nandana, Cittalatā, Missaka, Pārusaka,...

    Đức-vua-trời Sakka phát sinh nỗi khổ tâm cùng cực, sầu não, bởi vì không còn sở hữu những sự nghiệp đế vương này được nữa.(36)

    Đức-vua-trời Sakka suy xét chỉ có Đức-Phật Gotama có tâm đại bi tế độ chắc chắn sẽ dập tắt được nỗi khổ tâm cùng cực này mà thôi.

    Khi ấy, Đức-Thế-Tôn hiện đang ngự tại động Indasāla nằm ở khoảng giữa núi Vediyaka với phía bắc của xóm nhà bà-la-môn tên Ambasaṇḍa, thuộc về hướng Đông kinh-thành Rājagaha, của đất nước Magadha.

    * Đức-vua-trời Sakka cho truyền gọi vị thiên-nam Pañcasikha cùng với nhóm chư-thiên đông đảo xuất hiện xuống núi Vediyaka, ngự đến động Indasāla, đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch hỏi 14 câu hỏi.

    Đức-vua-trời Sakka bạch hỏi 14 câu hỏi

    Trong Sakkapañhasutta (37) là bài kinh dài trong Trường-bộ-kinh, trong quyển sách này chỉ đề cập đến tích Đức-vua-trời Sakka tạo phước-thiện bố-thí và phước-thiện nghe-pháp mà thôi.

    Đức-vua-trời Sakka có được cơ hội đến hầu cung- kính đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi xin phép kính bạch hỏi 14 câu hỏi có tiêu đề như sau:

    1- Issāmacchariya: tính ganh tỵ và tính keo kiệt.
    2- Piyāpiya: đối-tượng làm cho ưa thích, không thích.
    3- Chanda: hài lòng.
    4- Vitakka: hướng tâm.
    5- Papañcadhamma: pháp trì hoãn.
    6- Somanassa: thọ hỷ.
    7- Domanassa: thọ khổ.
    8- Upekkhā: thọ xả.
    9- Kāyasamācāra: thân hành động.
    10- Vacīsamācāra: khẩu nói năng.
    11- Pariyesanā: sự tìm kiếm.
    12- Indriyasaṃvara: giữ gìn 6 xứ trong và 6 xứ ngoài.
    13- Anekadhātu: vô số tự-tánh.
    14- Accantaniṭṭhā: Niết-bàn.

    Nghe Đức-Thế-Tôn giải đáp đến câu hỏi thứ 5 Papañcadhamma: pháp-trì-hoãn đó là taṇhā: tham-ái, māna: ngã-mạn, diṭṭhi: tà-kiến. Khi ấy, Đức-vua-trời Sakka chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập- lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, Niết-bàn, diệt tận được 2 loại phiền-não là tà-kiến (diṭṭhi) và hoài-nghi (vicikicchā) trở thành bậc Thánh Nhập-lưu (Sotāpanna). Ngay khi ấy, Đức-vua-trời Sakka chuyển kiếp (cuti) (chết), rồi đại-thiện-nghiệp trong đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭi- sandhikāla) có đại-quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tá- sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm Đức-vua-trời Sakka trở lại tại nơi ấy, chỉ có Đức-vua-trời Sakka và Đức-Thế-Tôn biết mà thôi. Còn tất cả chư-thiên khác đều không có vị nào biết cả.

    Đức-vua-trời Sakka tiếp tục bạch hỏi những câu hỏi còn lại, Đức-Thế-Tôn giải đáp đầy đủ 14 câu hỏi của Đức-vua-trời Sakka.

    Cho nên, bài kinh này gọi là Sakkapañhasutta: Kinh câu hỏi của Đức-vua-trời Sakka.

    Đức-vua-trời Sakka và các hậu kiếp

    Đức-vua-trời Sakka mới là bậc Thánh Nhập-lưu hồi cung ngự trở về cung trời Tam-thập-tam-thiên cho đến hết tuổi thọ tại cõi trời ấy, chuyển kiếp (chết), đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau đầu thai làm người trong lòng Bà Chánh-cung Hoàng-hậu.

    Khi sinh ra đời, lúc trưởng thành là Thái-tử rồi trở thành Đức-vua trong cõi người. Khi hết tuổi thọ ở cõi người (chết), rồi đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm Đức-vua-trời Sakka trên cõi trời Tam- thập-tam-thiên.

    Như vậy, Đức-vua tử sinh luân-hồi trong cõi thiện-dục-giới là cõi người và cõi trời dục-giới suốt 7 kiếp.

    Kiếp Đức-vua trở thành bậc Thánh Nhất-lai tại cõi người đến khi hết tuổi thọ cõi người (chết), đại-thiện- nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm Đức-vua- trời Sakka trên cõi trời Tam-thập-tam-thiên, trở thành bậc Thánh Bất-lai, rồi chuyển kiếp (chết), đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-nghiệp trong đệ ngũ thiền sắc-giới thiện- tâm cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭi- sandhikāla) có đệ ngũ thiền sắc-giới quả-tâm tương xứng gọi là sắc-giới tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới phạm-thiên Suddhavāsa (Tịnh-cư-thiên) dành cho bậc Thánh Bất-lai có 5 tầng trời theo tuần tự như sau:

    1- Avihā: Tầng trời Vô-phiền-thiên có tuổi thọ 1.000 đại-kiếp trái đất.

    2- Atappā: Tầng trời Vô-nhiệt-thiên có tuổi thọ 2.000 đại-kiếp trái đất.

    3- Sudassā: Tầng trời Thiện-hiện-thiên có tuổi thọ 4.000 đại-kiếp trái đất.

    4- Sudassī: Tầng trời Thiện-kiến-thiên có tuổi thọ 8.000 đại-kiếp trái đất.

    5- Akaniṭṭhā: Tầng trời Sắc-cứu-cánh-thiên có tuổi thọ 16.000 đại-kiếp trái đất.

    Như vậy, Đức-vua-trời Sakka đã phát nguyện hưởng an-lạc trong tầng trời Suddhavāsa (Tịnh-cư-thiên) có 5 tầng trời sắc-giới phạm-thiên theo tuần tự từ tầng trời Avihā: tầng trời Vô-phiền-thiên cho đến tầng trời Akaniṭṭhā: Sắc-cứu-cánh-thiên, suốt 5 tầng trời cõi trời sắc-giới phạm-thiên gồm có 31.000 đại-kiếp trái đất, rồi sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán tại tầng trời Akaniṭṭhā: Sắc-cứu-cánh-thiên, mới tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

    Trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama có ba bậc Thánh Nhập-lưu là Đức-vua-trời Sakka, ông phú hộ Anāthapiṇḍika gahapati và bà Visākhā mahā-upāsikā đều phát nguyện giống nhau như vậy, nên gọi là vaṭṭā- bhiratasattā: bậc Thánh Nhập-lưu thích tử sinh luân-hồi hưởng sự an-lạc trong các tầng trời cõi trời sắc-giới phạm-thiên.

    NHẬN XÉT VỀ PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ

    Phước-thiện bố-thí được thành-tựu cần phải hội đủ 3 chi-pháp:

    1- Thí-chủ có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện- tâm tạo phước-thiện bố-thí đầy đủ trong 3 thời-kỳ tác-ý:

    - Pubbacetanā: Tác-ý trong đại-thiện-tâm trong sạch trước khi tạo phước-thiện bố-thí đến người thọ-thí.

    - Muñcacetanā: Tác-ý trong đại-thiện-tâm trong sạch khi đang tạo phước-thiện bố-thí đến người thọ-thí.

    - Aparacetanā: Tác-ý trong đại-thiện-tâm trong sạch sau khi đã làm xong phước-thiện bố-thí đến người thọ-thí.

    2- Vật-thí có được do thân, khẩu, ý hành thiện nghĩa là vật thí dù ít dù nhiều cũng có được một cách hợp pháp trong sạch với đại-thiện-tâm trong sạch.

    3- Người thọ-thí nhận vật-thí của thí-chủ là người có giới-đức trong sạch, có thiện-pháp cao thượng.

    Nếu thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí hội đủ 3 chi-pháp này thì phước-thiện bố-thí được thành tựu, thí-chủ đã tạo đại-thiện-nghiệp bố-thí cao quý, có quả báu của đại- thiện-nghiệp bố-thí ấy vô cùng phong phú trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai, đặc biệt làm nhân-duyên hỗ trợ cho các pháp-hạnh ba-la-mật sớm được đầy đủ trọn vẹn, mọi thiện-pháp được dễ dàng phát triển từ dục-giới thiện-pháp, sắc-giới thiện-pháp, vô-sắc-giới thiện-pháp cho đến siêu-tam-giới thiện-pháp.

    Như vậy, trong 3 chi-pháp này, chi-pháp thí-chủ có đầy đủ trong 3 thời-kỳ tác-ý trong đại-thiện-tâm trong sạch và chi-pháp người thọ-thí là người có giới-đức trong sạch, có thiện-pháp cao thượng, nhất là bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo là trọng yếu.

    Còn chi-pháp vật-thí dù ít dù nhiều cũng có được do thân hành các điều thiện, do khẩu nói năng các điều thiện, do ý nghĩ các điều thiện trong sạch, dù thí-chủ tạo phước-thiện bố-thí một lần hoặc nhiều lần vẫn tạo được đại-thiện-nghiệp bố-thí cao quý, có quả báu cao quý trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

    NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA PHƯỚC-THIỆN BỐ-THÍ

    Bố-thí có những tính chất như sau:

    1- Pariccāgalakkhaṇa: Phước-thiện bố-thí có trạng-thái đem tiền của, sự hiểu biết của mình ban cho người khác, chúng-sinh khác.

    2- Lobhaviddhaṃsanarasa: Phước-thiện bố-thí có phận sự tiêu diệt tâm tham keo kiệt, bủn xỉn trong tiền của, trong sự hiểu biết của mình.

    3- Bhavibhavasampattipaccuppaṭṭhānaṃ: Phước-thiện bố-thí có quả báu đầy đủ trong kiếp sống hiện-tại và hỗ trợ cho pháp giải thoát khổ là kết quả hiện hữu.

    4- Saddheyyapadaṭṭhānaṃ: Đức-tin trong sạch nơi bậc thọ-thí đáng tin là nguyên nhân gần của phước-thiện bố-thí.

    * Paṭikkhepadhamma: Pháp nghịch với phước-thiện bố-thí đó là tâm tham (lobhacitta).

    * Anuññātadhamma: Pháp giúp tạo cơ hội phước-thiện bố-thí đó là tâm vô-tham (alobhacitta).

    (Nên tìm hiểu đầy đủ trong quyển “Tìm Hiểu Phước Bố-Thí” cùng soạn giả, để hiểu rõ phước-thiện bố-thí.) (Xong phần phước-thiện bố-thí)

    -oo0oo-

    (1) Aṅguttaranikāya, Pañcakanipātapāḷi, kinh Sappurisadānasutta.
    (2) Bộ Aṅguttaranikāya, chattanipātapāḷi, kinh Chaḷaṅgadānasutta.
    (3) M. Uparipaṇṇāsapāli, kinh Dakkhiṇāvibhaṅgasutta.
    (4) Chú-giải M, Up. kinh Dakkhiṇāvibhaṅgasuttavaṇṇanā.
    (5) Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, tích Cūḷekasāṭakabrāhmaṇavatthu.
    (6) 5 Pháp Pīti: Khuddakāpīti, khaṇikāpīti, okkantikāpīti, ubbeṅgāpīti, pharaṇāpīti.
    (7) Bộ Chú-giải Vimānavatthu, tích Bhikkhādāyakavimāna.
    (8) Bộ Vimānavatthu, tích Ambavimānavatthu.
    (9) Bộ Thera Apadāna, tích Kuṭidāyakatthera apadāna.
    (10) Từ thời-kỳ Đức-Phật Vipassī đã xuất hiện trên thế gian cho đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian có khoảng cách thời gian 91 đại- kiếp trái đất.
    (11) Bộ Chú-giải Aṅguttaranikāya, Tích Ngài Trưởng-lão Bākula.
    (12) Từ thời-kỳ Đức-Phật Anomadassī đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama có khoảng cách thời gian 1 a-tăng-kỳ với 100 ngàn đại-kiếp trái đất.
    (13) Từ thời-kỳ Đức-Phật Padumuttara đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama có khoảng cách thời gian 100 ngàn đại-kiếp trái đất.
    (14) Từ thời-kỳ Đức-Phật Vipassī đến thời-kỳ Đức-Phật Gotama có khoảng cách thời gian 91 đại-kiếp trái đất.
    (15) Bộ Majjhimanikāya, lễ tắm đứa con sau khi sinh được 5 ngày.
    (16) Ms: Mẹ sinh, Mn: Mẹ nuôi.
    (17) Trong các bộ M.U.Aṭṭhakathā, Aṅguttaranikāya, Dhammapadatṭhakathā, Ahidhamma aṭṭhakathā, v.v...
    (18) Aṅguttaranikāya, Chakkanipāta, kinh Nibbedhikasutta.
    (19) 36 hoặc 52 quả-tâm đó là 7 bất-thiện-quả vô-nhân-tâm + 8 thiện-quả vô- nhân-tâm + 8 đại-quả-tâm + 5 sắc-giới quả-tâm + 4 vô-sắc-giới quả-tâm + 4 hoặc 20 Thánh-quả-tâm.
    (20) 20 duy-tác-tâm đó là 3 duy-tác vô-nhân-tâm + 8 đại-duy-tác-tâm + 5 sắc-giới duy-tác-tâm + 4 vô-sắc-giới duy-tác-tâm.
    (21) Trong Chú-giải Jātakaṭṭhakathā, tích Kuṇālajātaka.
    (22) Bộ Chú-giải Jātaka, phần Sattatinipāta, tích Kusajātaka.
    (23) Nghịch-duyên (vippatti) có 4 trường hợp: Gativippatti, kālavippatti, upadhivippatti, payogavippatti.
    (24) Thuận-duyên (sampatti) có 4 trường hợp: Gatisampatti, kālasampatti, upadhisampatti, payogasampatti (Xem phần giảng giải trong bộ Nền- Tảng-Phật-Giáo, quyển IV: Nghiệp Và Quả Của Nghiệp, phần đại-thiện- nghiệp và ác-nghiệp cho quả của nghiệp, cùng soạn giả).
    (25) Aṅg. Pañcakanipāta, kinh Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhānasutta.
    (26) Người tam-nhân là người có tái-sinh-tâm đủ 3 thiện-nhân.
    (27) Xem bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo, quyển IX Pháp-Hành Thiền-Định. và quyển X Pháp-Hành Thiền-Tuệ.
    (28) Người nhị-nhân là người có tái-sinh-tâm chỉ có 2 thiện-nhân là vô-tham và vô-sân (không có vô-si).
    (29) Người vô-nhân là người có tái-sinh-tâm không có thiện-nhân nào.
    (30) Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, Taṇhāvagga, tích Aputtakaseṭṭhivatthu.
    (31) Dhammapadagāthā số 354.
    (32) Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, Buddhavagga, Devorohaṇavatthu.
    (33) Dvādasayojanike ṭhāne: 12 do-tuần, mỗi do-tuần khoảng 20 cây số.
    (34) Dha. Aṭṭha, Pupphavagga, tích Mahākassapattherapiṇḍapātadinnavatthu.
    (35) Khu. Bộ Itivuttaka Pāḷi, Pañcapubbanimittasuttapāḷi.
    (36) Cõi trời Tam-thập-tam-thiên có tuổi thọ 1.000 tuổi trời bằng 36 triệu năm tại cõi người, bởi vì 1 ngày 1 đêm cõi trời này bằng 100 năm cõi người.
    (37) Bộ Dī, Mahāvaggapāḷi, kinh Sakkapañhasutta và Aṭṭhakathā.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.