Phước Thiện Hành Thiền (Bhāvanākusala)

Phước Thiện Hành Thiền (Bhāvanākusala)

    NỀN-TẢNG-PHẬT-GIÁO (MŪLABUDDHASĀSANA)

    QUYỂN V

    PHƯỚC-THIỆN (PUÑÑA-KUSALA)

    Soạn giả:
    Tỳ-khưu Hộ-Pháp
    (Dhammarakkhita Bhikkhu)
    (Aggamahāpaṇḍita)

     

    BHĀVANĀKUSALA: PHƯỚC-THIỆN HÀNH-THIỀN

    - Định nghĩa Bhāvanā:

    “Kusaladhamme bhāveti uppādeti vaḍḍhatī’ti bhāvanā”.

    Trạng-thái nào làm cho thiện-pháp bậc cao phát sinh lên đầu tiên, rồi làm cho thiện-pháp ấy phát triển, trạng-thái ấy gọi là bhāvanākusala: phước-thiện hành-thiền.

    - Định nghĩa bhāvanā có 2 giai đoạn:

    1- Giai đoạn đầu: Kusaladhamme bhāveti uppādeti: Trạng-thái làm cho thiện-pháp bậc cao phát sinh lên đầu tiên.

    2- Giai đoạn sau: Kusaladhamme bhāveti vaḍḍhati: Trạng-thái làm cho thiện-pháp bậc cao phát triển, và tăng trưởng lên.

    Bhāvanā có 2 loại:

    1- Samathabhāvanā: Pháp-hành thiền-định.

    2- Vipassanābhāvanā: Pháp-hành thiền-tuệ.

    * Thế nào gọi là pháp-hành thiền-định?

    Pháp-hành thiền-định là pháp-hành có định-tâm đồng sinh với thiện-tâm an trú trong một đề-mục thiền-định duy nhất (thuộc về đối-tượng chế-định-pháp (paññatti- dhamma)), ban đầu chế-ngự được phiền-não là 5 pháp- chướng-ngại (nivaraṇa) bằng 5 chi-thiền, dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và tiếp theo chứng đắc 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.

    Định-tâm an trú trong bậc thiền, hưởng sự an-lạc trong bậc thiền ấy.

    Như vậy, gọi là pháp-hành thiền-định.

    * Thế nào gọi là pháp-hành thiền-tuệ?

    Pháp-hành thiền-tuệ là pháp-hành làm phát sinh trí- tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới (thuộc về chân-nghĩa-pháp ‘para- matthadhamma’), trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, nên thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận mọi phiền-não, mọi tham-ái, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, giải thoát khổ tử sinh luân- hồi trong ba giới bốn loài.

    Như vậy, gọi là pháp-hành thiền-tuệ.

    THỰC-HÀNH PHÁP-HÀNH THIỀN-ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

    Muốn thực-hành pháp-hành thiền-định, hành-giả cần phải học hỏi hiểu biết rõ 40 đề-mục thiền-định, rồi chọn một đề-mục thiền-định thích hợp với bản tính riêng của mình, làm đối tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định, với đề-mục thiền-định ấy, cho được thuận lợi dễ phát triển thiền-định.

    Đề-mục thiền-định

    Thiền-định gồm có 40 đề-mục:

    - 10 đề-mục hình tròn (kasiṇa).

    - 10 đề-mục tử thi (asubha).

    - 10 đề-mục niệm-niệm (anussati).

    - 4 đề-mục tứ vô-lượng-tâm (appamaññā).

    - 1 đề-mục vật thực đáng gớm (āhāre paṭikkūlasaññā).

    - 1 đề-mục phân tích tứ đại (catudhātuvavatthāna).

    - 4 đề-mục vô-sắc-giới (āruppa).

    (Nên xem bộ “Nền-Tảng-Phật-Giáo”, quyển IX “Pháp-Hành Thiền-Định”, cùng soạn giả.)

    Sau khi chọn một đề-mục nào phù hợp với bản tính của mình xong, hành-giả nên tìm đến Ngài Trưởng-Lão thiền-sư uyên thâm về pháp-học Phật-Giáo, đầy đủ kinh nghiệm về pháp-hành Phật-Giáo nhất là pháp-hành thiền-định, để nương nhờ học hỏi phương pháp thực- hành pháp-hành thiền-định về đề-mục thiền-định ấy.

    Trong 40 đề-mục thiền-định làm đối tượng của pháp- hành thiền-định, mỗi đề-mục thiền-định có tính chất khả năng khác nhau như sau:

    * 10 đề-mục thiền-định đạt đến cận-định (Upacārasamādhi)

    - Trong 40 đề-mục thiền-định đều đạt đến cận-định (upacārasamādhi) cả thảy, nhưng có 10 đề-mục thiền- định chỉ đạt đến upacārasamādhi: cận-định mà thôi, không thể dẫn đạt đến appanāsamādhi: an-định, nên không thể chứng đắc bậc thiền nào cả.

    10 đề-mục thiền-định ấy là:

    1- Đề-mục niệm-niệm 9 Ân-Đức-Phật (Buddhānussati).

    2- Đề-mục niệm-niệm 6 Ân-Đức-Pháp (Dhammānussati).

    3- Đề-mục niệm-niệm 9 Ân-Đức-Tăng (Saṃghānussati).

    4- Đề-mục niệm-niệm về giới trong sạch của mình (Sīlānussati).

    5- Đề-mục niệm-niệm về sự bố-thí của mình (Cāgānussati).

    6- Đề-mục niệm-niệm về 5 pháp Chư-thiên có nơi mình (Devatānussati).

    7- Đề-mục niệm-niệm về trạng-thái tịch tịnh an-lạc Niết-bàn (Upasamānussati).

    8- Đề-mục niệm-niệm về sự chết (Maraṇānussati).

    9- Đề-mục vật thực đáng ghê tởm (Āhārepaṭikkūlasaññā).

    10- Đề-mục phân tích tứ-đại (catudhātuvavatthāna).

    Bởi vì 10 đề-mục thiền-định này là những đề-mục thiền-định vô cùng vi-tế, vô cùng sâu sắc, rộng lớn mênh mông bao la, nên định-tâm không thể an trú trong một đối-tượng nào nhất định, cho nên, 10 đề-mục thiền-định này chỉ có khả năng đạt đến upcārasamādhi: tâm cận- định mà thôi.

    Tâm cận-định này còn thuộc về dục-giới thiện-tâm. 30 đề-mục thiền-định chứng đắc bậc thiền

    * 30 đề-mục thiền-định còn lại là:

    - 10 đề-mục thiền-định (kasiṇa).

    - 10 đề-mục thiền-định tử-thi (asubha).

    - 1 đề-mục thiền-định niệm 32 thể trọc trong thân (kāyagatāsati).

    - 1 đề-mục thiền-định hơi thở vào, hơi thở ra (ānāpānassati).

    - 4 đề-mục thiền-định tứ vô-lượng-tâm (appamaññā).

    - 4 đề-mục thiền-định vô-sắc (āruppa).

    Như vậy, 30 đề-mục thiền-định này đều có khả năng tiến hành đạt đến apanāsamādhi: an-định, nên dẫn đến chứng đắc bậc thiền sắc-giới thiện-tâm hoặc bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.

    Hành-giả chứng đắc bậc thiền sắc-giới thiện-tâm nào hoặc bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm nào, tùy theo mỗi đề-mục thiền-định ấy.

    Đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm

    Trong 30 đề-mục thiền-định ấy, có 11 đề-mục thiền- định chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, đó là:

    - 10 đề-mục thiền-định tử-thi (asubha).

    - 1 đề-mục niệm 32 thể trọc (trược) trong thân (kāyagatāsati).

    11 đề-mục thiền-định này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi.

    Nếu hành-giả chọn 1 trong 11 đề-mục thiền-định này làm đối-tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định thì đề- mục thiền-định ấy chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, bởi vì 11 đề-mục thiền-định này là đối-tượng thô, nên luôn luôn cần phải nương nhờ chi-thiền hướng-tâm (vitakka) đến đề-mục thiền-định ấy mới có thể dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm được.

    Nếu hành-giả muốn chứng đắc đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm, v.v... bậc cao, thì hành-giả cần phải thay đổi sang đề-mục thiền-định khác.

    4 bậc thiền sắc-giới bậc thấp

    Trong 19 đề-mục thiền-định còn lại, có 3 đề-mục thiền-định chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, đó là:

    - Đề-mục niệm rải tâm từ (mettā).

    - Đề-mục niệm rải tâm bi (karuṇā).

    - Đề-mục niệm rải tâm hỷ (muditā).

    3 đề-mục thiền-định này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi.

    Nếu hành-giả chọn 1 trong 3 đề-mục-thiền định vô- lượng-tâm này làm đối-tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định thì đề-mục thiền-định vô-lượng-tâm này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, không thể chứng đắc đến đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm được, bởi vì 3 đề-mục thiền-định vô-lượng-tâm này luôn luôn cần phải có chi-thiền lạc (sukha), mà đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm cần phải có chi-thiền xả (upekkhā) thay thế cho chi-thiền lạc.

    Cho nên, muốn chứng đắc đệ ngũ thiền sắc-giới thiện- tâm, hành-giả cần phải thay đổi sang đề-mục niệm rải tâm xả (upekkhā) đến chúng-sinh vô lượng mà thôi, không thể có đề-mục thiền-định nào khác.

    Đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm

    - Đề-mục thiền-định niệm rải tâm xả (upekkhā) đến chúng-sinh vô lượng majjhattasattapaññatti không thương không ghét này chỉ có khả năng chứng đắc đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, nên hành-giả không thể sử dụng đề-mục thiền-định này khi bắt đầu thực-hành, mà chỉ sử dụng sau khi hành-giả đã chứng đắc đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm của 1 trong 3 đề-mục thiền-định là đề-mục niệm rải tâm từ (mettā) hoặc đề-mục niệm rải tâm bi (karuṇā) hoặc đề-mục niệm rải tâm hỷ (muditā) đến chúng-sinh vô lượng mà thôi, bởi vì 4 đề-mục thiền- định tứ vô-lượng-tâm này cùng có đối-tượng chúng-sinh chế-định (sattapaññatti) giống nhau, chỉ có khác tính chất mỗi loại chúng-sinh mà thôi.

    5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm

    * 11 đề-mục thiền-định là:

    - 10 đề-mục thiền-định (kasiṇa).

    - Đề-mục thiền-định hơi thở vào

    - hơi thở ra (ānāpānassati).

    11 đề-mục thiền-định này có khả năng dẫn đến chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới-thiện-tâm.

    Nếu hành-giả chọn 1 trong 11 đề-mục thiền-định này làm đối-tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định thì mỗi đề-mục thiền-định ấy đều có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm mà không cần phải thay đổi sang đề-mục thiền-định khác.

    4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm

    Sau khi đã chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm, hành-giả muốn tiếp tục thực-hành pháp-hành thiền- định, để chứng đắc 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.

    Mỗi đề-mục thiền-định vô-sắc chỉ có khả năng chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm riêng biệt mà thôi như sau:

    1- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ nhất là đề-mục ākāsapaññatti chỉ dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền vô- sắc-giới thiện-tâm gọi là ākāsānañcāyatanakusalacitta: không-vô-biên-xứ thiện-tâm mà thôi.

    2- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ nhì là đề-mục ākāsānañcāyatanakusalacitta chỉ dẫn đến chứng đắc đệ nhị thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là viññāṇañcāyatana- kusalacitta: thức-vô-biên-xứ thiện-tâm mà thôi.

    3- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ ba là đề-mục natthibhāvapaññatti chỉ dẫn đến chứng đắc đệ tam thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là ākiñcaññāyatanakusala- citta: vô-sở-hữu-xứ thiện-tâm mà thôi.

    4- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ tư là đề-mục ākiñcaññāyatanakusalacitta chỉ dẫn đến chứng đắc đệ tứ thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là nevasaññānāsaññā- yatanakusalacitta: phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ thiện-tâm mà thôi.

    Đó là 4 đề-mục thiền-định vô-sắc mà mỗi đề-mục riêng biệt làm đối-tượng có khả năng dẫn đến chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm riêng biệt.

    Như vậy, pháp-hành thiền-định có 40 đề-mục thiền- định chia ra làm 3 loại:

    1- Đề-mục thiền-định dẫn đến cận-định (upacāra- samādhi) có 10 đề-mục, vẫn còn dục-giới thiện-tâm.

    2- Đề-mục thiền-định dẫn đến an-định (appanā- samādhi) có 26 đề-mục, chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm.

    3- Đề-mục thiền-định vô-sắc dẫn đến an-định (appanāsamādhi) có 4 đề-mục vô-sắc mà mỗi đề-mục thiền-định vô-sắc chỉ dẫn đến chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm riêng biệt mà thôi.

    * Sắc-giới thiện-tâm có 5 bậc thiền

    Đối với hành-giả thuộc hạng người mandapuggala hành-giả có trí-tuệ chậm thực-hành pháp-hành thiền- định có khả năng chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm theo tuần tự như sau:

    1- Đệ nhất thiền sắc-giới-tâm có 5 chi-thiền là vitakka (hướng-tâm), vicāra (quan-sát), pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự đè nén được 5 pháp- chướng-ngại (nivāraṇa) là tham-dục (kāmacchanda), sân-hận (byāpada), buồn-chán - buồn-ngủ (thīna-middha), phóng-tâm - hối-hận (uddhacca-kukkucca), hoài-nghi (vicikicchā).

    Mỗi chi-thiền có khả năng chế ngự được mỗi pháp- chướng-ngại như sau:

    - Hướng-tâm chế ngự được buồn-chán - buồn-ngủ.

    - Quan-sát chế ngự được hoài-nghi.

    - Hỷ chế ngự được sân-hận.

    - Lạc chế ngự được phóng-tâm - hối-hận.

    - Nhất-tâm chế ngự được tham-dục.

    2- Đệ nhị thiền sắc-giới-tâm có 4 chi-thiền là vicāra (quan-sát), pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi-thiền vitakka (hướng-tâm), bởi vì chi- thiền này có trạng-thái thô.

    3- Đệ tam thiền sắc-giới-tâm có 3 chi-thiền là pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi-thiền vicāra (quan-sát), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.

    4- Đệ tứ thiền sắc-giới-tâm có 2 chi-thiền là sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi-thiền pīti (hỷ), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.

    5- Đệ ngũ thiền sắc-giới-tâm có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự bằng cách thay thế được chi-thiền sukha (lạc), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.

    * Sắc-giới thiện-tâm có 4 bậc thiền

    Đối với hành-giả thuộc hạng người tikkhapuggala hành-giả có trí-tuệ sắc bén nhanh nhạy thực-hành pháp-hành thiền-định có khả năng suy xét thấy rõ, biết rõ trạng-thái thô của chi-thiền vitakka (hướng-tâm) và chi- thiền vicāra (quan-sát) cùng một lúc, nên đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm có 3 chi-thiền là pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm). Cho nên, hành-giả thuộc hạng người tikkhapuggala chỉ có 4 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm theo tuần tự như sau:

    1- Đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm có 5 chi-thiền là vitakka (hướng-tâm), vicāra (quan-sát), pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự đè nén được 5 pháp-chướng-ngại (nivāraṇa) là tham-dục (kāmac- chanda), sân-hận (byāpada), buồn-chán - buồn-ngủ (thina-middha), phóng-tâm - hối-hận (uddhacca- kukkucca), hoài-nghi (vicikicchā).

    2- Đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm có 3 chi-thiền là pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được 2 chi-thiền là chi-thiền vitakka (hướng-tâm) và chi- thiền vicāra (quan-sát) cùng một lúc, bởi vì 2 chi-thiền này có trạng-thái thô.

    3- Đệ tam thiền sắc-giới thiện-tâm có 2 chi-thiền là sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi- thiền pīti (hỷ), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.

    4- Đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự bằng cách thay thế được chi-thiền sukha (lạc), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.

    Vô-sắc-giới thiện-tâm có 4 bậc thiền

    Đề-mục thiền-định vô-sắc có 4 đề-mục mà mỗi đề- mục chỉ có thể dẫn đến chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc- giới thiện-tâm riêng biệt mà thôi như sau:

    1- Đệ nhất thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “không- vô-biên-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).

    2- Đệ nhị thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “thức-vô- biên-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).

    3- Đệ tam thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “vô-sở- hữu-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).

    4- Đệ tứ thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).

    Như vậy, mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm đều có 2 chi-thiền giống nhau là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất- tâm), nhưng mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm có mỗi đối-tượng thiền-định vô-sắc riêng biệt khác nhau, vô- sắc-giới thiện-tâm bậc cao vi tế hơn vô-sắc-giới thiện- tâm bậc thấp.

    Để tìm hiểu phương pháp thực-hành pháp-hành thiền- định để chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, hành-giả nên xem bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo, quyển IX “Pháp-Hành Thiền- Định” cùng soạn giả.

    * Phước-thiện hành-thiền (Bhāvanākusala) phần pháp-hành thiền-định trong 10 phước-thiện này chỉ có giới hạn trong dục-giới thiện-tâm mà thôi.

    Cho nên, hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-định có khả năng đạt đến cận-định (upacārasamādhi) và an-định (appanāsamādhi) chứng đắc các bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, vô-sắc-giới thiện-tâm nhưng phước-thiện hành thiền chỉ kể đến cận-định (upacārasamādhi) mà thôi, bởi vì tâm cận-định này vẫn còn thuộc về dục-giới thiện-tâm.

    THỰC-HÀNH PHÁP-HÀNH THIỀN-TUỆ NHƯ THẾ NÀO?

    Hành-giả muốn thực-hành pháp-hành thiền-tuệ cần phải hiểu biết rõ các đối-tượng thiền-tuệ thuộc chân- nghĩa-pháp (paramatthadhamma), đó là thân, thọ, tâm, pháp trong Kinh Tứ-Niệm-Xứ, hoặc sắc-pháp, danh- pháp thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma).

    Đối-tượng tứ niệm-xứ

    1- Thân niệm-xứ gồm có 14 phần (pabba).

    2- Thọ niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 9 loại thọ.

    3- Tâm niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 16 loại tâm.

    4- Pháp niệm-xứ gồm có 5 phần (pabba).

    Như vậy, đối-tượng tứ niệm-xứ gồm có 21 đối-tượng.

    1- Thân niệm-xứ gồm có 14 phần (pabba).

    1- Niệm hơi thở vào, hơi thở ra.

    2- Niệm tứ oai-nghi: đi, đứng, ngồi, nằm.

    3- Niệm các oai-nghi-phụ: đi tới trước, đi lui sau, quay bên phải, quay bên trái, co tay vào, co chân vào, duỗi tay ra, duỗi chân ra,...

    4- Niệm 32 thể trọc (trược) trong thân: tóc, lông, móng, răng, da,...

    5- Niệm tứ đại: địa đại (đất), thuỷ đại (nước), hoả đại (lửa), phong đại (gió).

    6- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa đã trải qua 1-2-3 ngày.

    7- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, bị quạ, diều, chó rừng,... cắn xé ăn thịt.

    8- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương dính máu và thịt, có gân ràng rịt.

    9- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương dính máu, thịt rã rời.

    10- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương khô, không còn máu và thịt nữa.

    11- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương rã rời, rải rác mọi nơi.

    12- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương màu trắng.

    13- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn đống xương trắng.

    14- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bột xương trắng.

    14 phần (pabba) của thân niệm-xứ thuộc về sắc-pháp.

    2- Thọ niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 9 loại thọ:

    1- Sukhavedanā: Thọ lạc.

    2- Dukkhavedanā: Thọ khổ.

    3- Adukkhamasukhavedanā: Thọ không khổ không lạc.

    4- Sāmisasukhavedanā: Thọ lạc nương nhờ ngũ-dục.(1)

    5- Nirāmisasukhavedanā: Thọ lạc không nương nhờ ngũ-dục.

    6- Sāmisadukkhavedanā: Thọ khổ nương nhờ ngũ-dục.

    7- Nirāmisadukkhavedanā: Thọ khổ không nương nhờ ngũ-dục.

    8- Sāmisa adukkhamasukhavedanā: Thọ không khổ không lạc nương nhờ ngũ-dục.

    9- Nirāmisa adukkhamasukhavedanā: Thọ không khổ không lạc, không nương nhờ ngũ-dục.

    1 đối-tượng của thọ niệm-xứ chia ra làm 9 loại thọ thuộc về danh-pháp.

    3- Tâm niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 16 loại tâm.

    1- Sarāgacitta: Tâm có tham đó là tham tâm-sở đồng sinh với 8 tham-tâm.

    2- Vītarāgacitta: Tâm không có tham đó là các tam-giới thiện-tâm và các phi-thiện-ác-tâm (abyākatacitta)(2).

    3- Sadosacitta: Tâm có sân đó là sân-tâm-sở đồng sinh với 2 sân-tâm.

    4- Vītadosacitta: Tâm không có sân đó là các tam-giới thiện-tâm và các phi-thiện-ác-tâm (abyākatacitta).

    5- Samohacitta: Tâm có si đó là si tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm.

    6- Vītamohacitta: Tâm không có si đó là các tam-giới thiện-tâm và các phi-thiện-ác-tâm (abyākatacitta).

    7- Saṃkhittacitta: Tâm buồn ngủ đó là buồn-ngủ tâm- sở đồng sinh với 4 tham-tâm và 1 sân-tâm cần tác động, có 5 tâm.

    8- Vikkhittacitta: Tâm phóng tâm đó là phóng-tâm tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm.

    9- Mahaggatacitta: Tâm cao hơn dục-giới-tâm đó là sắc-giới thiện-tâm và vô-sắc-giới thiện-tâm.

    10-Amahaggatacitta: Tâm không cao đó là dục-giới-tâm.

    11- Sa uttaracitta: Tâm có pháp cao hơn đó là dục-giới-tâm.

    12- Anuttaracitta: Tâm không có pháp cao hơn đó là sắc-giới thiện-tâm và vô-sắc-giới thiện-tâm.

    13- Samāhitacitta: Tâm có định đó là tâm cận-định, tâm an-định.

    14- Asamāhitacitta: Tâm không có định đó là tâm không thực-hành pháp-hành thiền-định.

    15- Vimuttacitta: Tâm giải thoát khỏi phiền-não bằng cách diệt-từng-thời (tadaṅgappahāna), diệt-chế-ngự (vikkhambhanappahāna) đó là tam-giới thiện-tâm.

    16- Avimuttacitta: Tâm không giải thoát khỏi phiền-não, đó là bất-thiện-tâm, tam-giới quả-tâm, phi-thiện-ác-tâm.

    1 đối-tượng của tâm niệm-xứ chia ra làm 16 loại tâm thuộc về danh-pháp.

    4- Pháp niệm-xứ gồm có 5 phần (pabba)

    1- Nivaraṇapabba: Năm pháp-chướng-ngại.

    2- Khandhapabba: Ngũ-uẩn-chấp-thủ.

    3- Āyatanapabba: Thập-nhị-xứ.

    4- Bojjhaṅgapabba: Thất-giác-chi.

    5- Saccapabba: Tứ Thánh-đế.

    4.1- Nivaraṇapabba: Năm pháp-chướng-ngại

    Hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-định ban đầu thường gặp các pháp-chướng-ngại làm cản trở mọi thiện- pháp không phát triển được.

    Năm pháp-chướng-ngại (nivaraṇa) là:

    1- Kāmacchanda: Tham-dục trong ngũ-dục là pháp-chướng-ngại đó là tham tâm-sở đồng sinh với 8 tham-tâm. 2- Byāpāda: Sân-hận là pháp-chướng-ngại đó là sân tâm-sở đồng sinh với 2 sân-tâm.

    3- Thinamiddha: Buồn-chán - buồn-ngủ là pháp-chướng ngại đó là buồn-chán tâm-sở và buồn-ngủ tâm-sở đồng sinh với 4 tham-tâm và 1 sân-tâm cần tác động.

    4- Uddhaccakukkucca: Phóng-tâm - hối-hận là pháp- chướng-ngại đó là phóng-tâm tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm và hối-hận tâm-sở đồng sinh với 2 sân-tâm.

    5- Vicikicchā: Hoài-nghi là pháp-chướng-ngại đó là hoài-nghi tâm-sở đồng sinh với si-tâm hợp với hoài-nghi.

    Năm pháp-chướng-ngại của pháp niệm-xứ này thuộc về danh-pháp.

    Năm pháp-chướng-ngại này trực tiếp làm chướng ngại đối với hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-định, nhưng đối với hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ thì 5 pháp-chướng-ngại này là đối-tượng của pháp-hành tứ niệm-xứ hoặc pháp-hành thiền-tuệ.

    * Hành-giả thực-hành pháp-hành tứ niệm-xứ hoặc pháp-hành thiền-tuệ, khi pháp-chướng-ngại nào phát sinh, hành-giả có trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đối- tượng pháp-chướng-ngại ấy thuộc về danh-pháp có sự sinh, sự diệt, nên có 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô- thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của danh- pháp, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh quả và Niết-bàn được.

    Cho nên, 5 pháp-chướng-ngại là 1 trong 5 pabba đối- tượng của phần pháp niệm-xứ.

    4.2- Khandhapabba: Ngũ-uẩn chấp-thủ

    Ngũ-uẩn chấp-thủ (pañcupadānakkhandha) nghĩa là ngũ-uẩn là đối-tượng của 4 pháp-chấp-thủ (tham-dục chấp-thủ, tà-kiến chấp-thủ, pháp-thường-hành chấp-thủ, ngã-kiến chấp-thủ, do tham tâm-sở và tà-kiến tâm-sở).

    Ngũ-uẩn chấp-thủ có 5 uẩn là:

    1- Sắc-uẩn chấp-thủ đó là 28 sắc-pháp là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.

    2- Thọ-uẩn chấp-thủ đó là thọ tâm-sở đồng sinh với 81 tam-giới-tâm là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.

    3- Tưởng-uẩn chấp-thủ đó là tưởng tâm-sở đồng sinh với 81 tam-giới-tâm là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.

    4- Hành-uẩn chấp-thủ đó là 50 tâm-sở (không có thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở) đồng sinh với 81 tam-giới-tâm là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.

    5- Thức-uẩn chấp-thủ đó là 81 tam-giới-tâm là đối tượng của pháp-chấp-thủ.

    Ngũ-uẩn chấp-thủ của pháp niệm-xứ thuộc về sắc- pháp và danh-pháp.

    4.3- Āyatanapabba: Thập-nhị-xứ Thập nhị xứ có 12 xứ chia ra 2 bên:

    Bên trong có 6 xứ và bên ngoài có 6 xứ như sau:

    * Bên trong có 6 xứ:

    1- Cakkhāyatana: Nhãn-xứ đó là nhãn-tịnh-sắc làm duyên cho nhãn-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    2- Sotāyatana: Nhĩ-xứ đó là nhĩ-tịnh-sắc làm duyên cho nhĩ-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    3- Ghānāyatana: Tỷ-xứ đó là tỷ-tịnh-sắc làm duyên cho tỷ-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    4- Jivhāyatana: Thiệt-xứ đó là thiệt-tịnh-sắc làm duyên cho thiệt-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    5- Kayāyatana: Thân-xứ đó là thân tịnh-sắc làm duyên cho thân-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    6- Manāyatana: Ý-xứ đó là tất cả tâm làm duyên cho ý-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    * Bên ngoài có 6 xứ:

    1- Rūpāyatana: Sắc-xứ làm đối-tượng cho nhãn-thức- tâm với tâm-sở phát sinh.

    2- Saddāyatana: Thanh-xứ làm đối-tượng cho nhĩ- thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    3- Gandhāyatana: Hương-xứ làm đối-tượng cho tỷ- thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    4- Rasāyatana: Vị-xứ làm đối-tượng cho thiệt-thức- tâm với tâm-sở phát sinh.

    5- Phoṭṭhabbāyatana: Xúc-xứ làm đối-tượng cho thân-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.

    6- Dhammāyatana: Pháp-xứ đó là 52 tâm-sở, 16 sắc- pháp vi-tế, Niết-bàn làm đối-tượng cho các tâm với tâm- sở phát sinh.

    Khi 6 xứ bên trong tiếp xúc với 6 xứ bên ngoài, phát sinh 6 lộ-trình-tâm, để tâm với tâm-sở phát sinh:

    * Khi nhãn-xứ tiếp xúc với sắc-xứ, nên phát sinh nhãn-môn-lộ-trình-tâm.

    * Khi nhĩ-xứ tiếp xúc với thanh-xứ, nên phát sinh nhĩ- môn-lộ-trình-tâm.

    * Khi tỷ-xứ tiếp xúc với hương-xứ, nên phát sinh tỷ- môn-lộ-trình-tâm.

    * Khi thiệt-xứ tiếp xúc với vị-xứ, nên phát sinh thiệt- môn-lộ-trình-tâm.

    * Khi thân-xứ tiếp xúc với xúc-xứ, nên phát sinh thân- môn-lộ-trình-tâm.

    * Khi ý-xứ tiếp xúc với pháp-xứ, nên phát sinh ý-môn- lộ-trình-tâm.

    Thập-nhị-xứ của phần pháp niệm-xứ thuộc về sắc- pháp và danh-pháp.

    4.4- Bojjhaṅgapabba: Thất-giác-chi

    Thất-giác-chi có 7 pháp giác-chi, là 7 pháp làm nhân- duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả.

    Thất-giác-chi có 7 pháp:

    1- Satisambojjhaṅga: Pháp niệm giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là niệm tâm-sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm (appanājavanacitta).

    2- Dhammavicayasambojjhaṅga: Pháp phân-tích giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh- đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là trí-tuệ tâm-sở đồng sinh với 4 đại-thiện-tâm hợp với trí- tuệ, 4 đại-duy-tác-tâm hợp với trí-tuệ, 26 tác-hành- thiền-tâm.

    3- Vīriyasambojjhaṅga: Pháp tinh-tấn giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là tinh-tấn tâm- sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền- tâm.

    4- Pītisambojjhaṅga: Pháp hỷ giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là hỷ tâm-sở đồng sinh với 4 đại-thiện-tâm đồng sinh với hỷ, 4 đại-duy-tác- tâm đồng sinh với hỷ, 3 sắc-giới-thiện-tâm, 3 sắc-giới- duy-tác-tâm.

    5- Passaddhisambojjhaṅga: Pháp an-tịnh giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là an-tịnh tâm-sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm.

    6- Samādhisambojjhaṅga: Pháp định giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là nhất-tâm tâm- sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm.

    7- Upekkhāsambojjhaṅga: Pháp xả giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là trung-dung tâm-sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm.

    Thất-giác-chi của phần pháp niệm-xứ thuộc về danh-pháp.

    4.5- Saccapabba: Tứ-đế

    Tứ Thánh-đế là sự-thật chân-lý của bậc Thánh-nhân chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh- đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.

    1- Dukkha ariyasacca: Khổ-Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là:

    - Tái-sinh kiếp sau là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu não, khóc than, khổ thân, khổ tâm, khổ cùng cực.

    - Phải gần gũi, thân cận với người không yêu thương là khổ.

    - Phải xa lìa người yêu thương là khổ.

    - Mong muốn đừng có sinh, có già, có bệnh, có chết,.. mà không thể nào được như ý là khổ.

    Tóm lại, chấp-thủ trong ngũ-uẩn do tham muốn và tà-kiến là khổ.

    2- Dukkhasamudaya-ariyasacca: Nhân sinh khổ-Thánh- đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là tham-ái dắt dẫn tái-sinh kiếp sau hợp với tham muốn, hài lòng, say mê trong các đối-tượng, đắm say trong kiếp sống. Nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy là:

    - Dục-ái (kāmataṇhā) là tham-ái trong 6 đối-tượng ái (sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái).

    - Hữu-ái (bhavataṇhā) là tham-ái trong 6 đối-tượng ái hợp với thường-kiến, và tham-ái trong bậc thiền sắc-giới, bậc thiền vô-sắc-giới, trong cõi sắc-giới, cõi vô-sắc-giới.

    - Phi-hữu-ái (vibhavataṇhā) là tham-ái trong 6 đối- tượng ái hợp với đoạn-kiến.

    3- Dukkhanirodha ariyasacca: Diệt khổ-Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là Niết-bàn là pháp diệt tận mọi say mê do tham-ái ấy không còn dư sót bằng 4 Thánh-đạo-tuệ, xả ly, từ bỏ chấp-thủ trong ngũ-uẩn, giải thoát khổ, không còn luyến ái, không còn dính mắc nữa.

    4- Dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca: Pháp- hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh: chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh- niệm, chánh-định.

    Tứ-đế của phần pháp niệm-xứ thuộc về sắc-pháp, danh-pháp.

    Như vậy, đối-tượng của tứ-niệm-xứ là thân, thọ, tâm, pháp gồm có 21 pabba (phần) mà mỗi pabba đều có khả năng dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán cả thảy.

    Sau khi hành-giả đã học hỏi hiểu rõ đối-tượng thân, thọ, tâm, pháp gồm có 21 pabba trong pháp-hành tứ- niệm-xứ hoặc đối-tượng sắc-pháp, danh-pháp trong pháp-hành thiền-tuệ thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) xong, hành-giả nên tìm đến Ngài Trưởng-lão thiền-sư uyên thâm về pháp-học Phật-giáo, đầy đủ kinh nghiệm về pháp-hành Phật-giáo nhất là pháp-hành thiền-tuệ, để nương nhờ học hỏi phương pháp thực-hành pháp-hành thiền-tuệ.

    Hành-giả thực-hành pháp-hành tứ-niệm-xứ có đối- tượng thân, thọ, tâm, pháp hoặc thực-hành pháp-hành thiền-tuệ có đối-tượng thiền-tuệ sắc-pháp, danh-pháp dẫn đến phát sinh trí-tuệ-thiền-tuệ theo tuần tự từ trí- tuệ-thiền-tuệ tam-giới (lokiyavipassanā) cho đến trí-tuệ- thiền-tuệ siêu-tam-giới (lokuttaravipassanā) gồm có 16 loại trí-tuệ-thiền-tuệ theo tuần tự như sau:

    1- Trí-tuệ thứ nhất gọi là nāmarūpaparicchedañāṇa: trí-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của sắc-pháp, danh- pháp đúng theo chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) là pháp-vô-ngã (anattā) không phải là ta, không phải là người, không phải là đàn ông, không phải là đàn bà, không phải là chúng-sinh, v.v... tiếp đến,

    2- Trí-tuệ thứ nhì gọi là nāmarūpapaccayapariggaha- ñāṇa: trí-tuệ thấy rõ, biết rõ nhân-duyên phát sinh mỗi sắc-pháp, mỗi danh-pháp, tiếp đến,

    3- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 3 gọi là sammasanañāṇa: trí- tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của sắc-pháp, danh- pháp do nhân-duyên diệt, nên thấy rõ, biết rõ trạng-thái vô thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc- pháp, danh-pháp, tiếp đến,

    4- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 4 gọi là udayabbayānupas- sanāñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, nên thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp tam- giới, tiếp đến,

    5- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 5 gọi là bhaṅgānupassanā- ñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đặc biệt sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, nên thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, tiếp đến,

    6- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 6 gọi là bhayatupaṭṭhānañāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của sắc-pháp, của danh-pháp thật đáng kinh sợ, tiếp đến,

    7- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 7 gọi là ādīnavānupassanā- ñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sắc-pháp, danh- pháp thật đầy tội chướng, tiếp đến,

    8- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 8 gọi là nibbidānupassanā- ñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sắc-pháp, danh- pháp thật đáng nhàm chán, tiếp đến,

    9- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 9 gọi là muñcitukamyatā- ñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ tha thiết mong thoát khỏi sắc- pháp, danh-pháp, tiếp đến,

    10- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 10 gọi là paṭisaṅkhānupas- sanāñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ trở lại sắc- pháp, danh-pháp có 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô- thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp một cách rõ ràng, để tìm ra phương-pháp giải thoát khỏi khổ-đế của sắc-pháp, của danh-pháp, tiếp đến,

    11- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 11 gọi là saṅkhārupekkhā- ñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sắc-pháp, danh- pháp thật sự là pháp-vô-ngã, nên trí-tuệ-thiền-tuệ đặt tâm-trung-dung trong sắc-pháp, danh-pháp có trạng- thái vô-thường, hoặc trạng-thái khổ, hoặc trạng-thái vô- ngã làm đối tượng, tiếp đến,

    12- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 12 gọi là saccānuloma ñāṇa: trí-tuệ-thiền-tuệ thuận dòng theo 8 trí-tuệ-thiền-tuệ phần trước và thuận dòng theo 37 pháp chứng đắc Thánh-đạo (bodhipakkhiyadhamma) phần sau, tiếp đến,

    13- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 13 gọi là gotrabhuñāṇa: trí- tuệ-thiền-tuệ chuyển dòng từ phàm-nhân sang dòng bậc Thánh-nhân, (hoặc chuyển dòng từ Thánh-nhân bậc thấp lên Thánh-nhân bậc cao) vì thấy rõ, biết rõ Niết-bàn là đối tượng, tiếp đến,

    14- Trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 14 gọi là Maggañāṇa: Thánh-đạo-tuệ (3) là trí-tuệ-thiền-tuệ siêu- tam-giới có Niết-bàn làm đối-tượng, có khả năng đặc biệt diệt tận được mọi phiền-não, mọi tham-ái tùy theo khả năng của mỗi Thánh-đạo-tuệ, tiếp đến,

    15- Trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 15 gọi là Phalañāṇa: Thánh-quả-tuệ (4)là trí-tuệ-thiền-tuệ siêu- tam-giới có Niết-bàn là đối tượng, tiếp đến,

    16- Trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 16 gọi là paccavekkhaṇa- ñāṇa: trí-tuệ đặc biệt quán triệt Thánh-đạo nào, Thánh- quả nào đã chứng đắc, Niết-bàn đã chứng ngộ, phiền-não nào đã bị diệt tận và phiền-não nào chưa bị diệt tận được.

    Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ có khả năng làm cho phát sinh 16 loại trí-tuệ-thiền-tuệ trở thành bậc Thánh-nhân.

    Phước-thiện hành-thiền (Bhāvanākusala) phần pháp-hành thiền-tuệ trong 10 phước-thiện này chỉ có giới hạn trong dục-giới thiện-tâm mà thôi.

    Cho nên, nếu hành-giả thực-hành pháp-hành thiền- tuệ có khả năng phát sinh 16 loại trí-tuệ-thiền-tuệ thì chỉ kể từ trí-tuệ thứ nhất nāmarūpaparicchedañāṇa cho đến trí-tuệ-thiền-tuệ thứ 11 saṅkhārupekkhāñāṇa mà thôi, bởi vì 11 loại trí-tuệ-thiền-tuệ này vẫn còn thuộc về dục-giới thiện-tâm có đối-tượng sắc-pháp, danh- pháp trong tam-giới.

    Còn trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 14 gọi là Maggañāṇa thuộc về siêu-tam-giới thiện-tâm.

    NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA PHƯỚC-THIỆN HÀNH THIỀN

    - Kusalavaḍḍhāpanalakkhaṇa: Phước-thiện hành- thiền có trạng-thái làm cho thiện-pháp phát triển.

    - Akusalapahānarasa: Phước-thiện hành-thiền có phận sự diệt bất-thiện-pháp (ác-pháp).

    - Sattācārokkamanapaccuppaṭṭhāna: Phước-thiện hành-thiền đúng theo phương pháp thực-hành pháp hành-thiền là quả hiện hữu.

    - Yonisomanasikārapadaṭṭhāna: Sự hiểu đúng trong tâm phương pháp thực-hành pháp hành-thiền là nguyên nhân gần của phước-thiện hành-thiền.

    - Paṭikkhepadhamma: Pháp nghịch với phước-thiện hành-thiền đó là tâm si.

    - Anuññātadhamma: Pháp giúp hỗ-trợ cho phước- thiện hành-thiền đó là trí-tuệ.

    (Xong phần phước-thiện hành-thiền)

    -oo0oo-

    (1) Ngũ-dục: sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị-dục, xúc-dục.
    (2) Abyākatacitta đó là 36 quả-tâm, 20 duy-tác-tâm.
    (3) Thánh-đạo-tuệ có 4 loại: Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ, Nhất-lai Thánh-đạo- tuệ, Bất-lai Thánh-đạo-tuệ, A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ.
    (4) Thánh-quả-tuệ có 4 loại: Nhập-lưu Thánh-quả-tuệ, Nhất-lai Thánh-quả- tuệ, Bất-lai Thánh-quả-tuệ, A-ra-hán Thánh-quả-tuệ.

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.