Tích Brahmacariya

Tích Brahmacariya

    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY THERA VĀDA
    -----

    CHÚ GIẢI BỔN SANH KINH

    (ATTHAKATHĀJĀTAKA)

    Soạn giả

    Trưởng Lão Hòa Thượng Hộ Tông

    (Vaṅsarakkhita Mahāthera)

     

    TÍCH BRAHMACARIYA

    Kinte vatan kin pana brahmacariyan. Kissa sucinnassa ayan vipāko. Akkhāhi me brāhmana etamatthan. Kasmā nu tumhan daharā na miyyare. Mahadhammapālajātaka

    Trong thời quá khứ hoàng đế Brahmadatta thống trị đế đô Bārānasī. Trong quận Dhammapāla Gāmā tỉnh Kāsi, có một vị Bàlamôn Dhammapāla thân sinh của đức Bồ tát Dhammapālakumāra. Khi lớn lên đức Bồ tát đi học nghề với một giáo sư trứ danh (Disāpamokkho) trong khi kinh đô Takkasilā. Ngài là một học sinh cao đẳng học giỏi nhất trong 500 sĩ tử. Trong thời đó, con trưởng nam của vị giáo sư từ trần, ai cũng đều thương tiếc khóc than. Khi làm lễ hỏa táng thi hài mọi người đều thương tâm khóc kể, trừ ra đức Bồ tát không ưu sầu chi cả. Đức Bồ tát bèn hỏi các bạn học sinh rằng: Các anh nói rằng, còn trẻ mà tại sao lại chết, chết trẻ như vậy không nên, phải chăng?

    -  Bạn Dhammapāla này! Bạn không biết sự chết chăng?

    -  Biết, nhưng không ai chết trẻ, già mới chết.

    -  Tất cả tập hợp toàn là không thường, có rồi không, không rồi có, phải chăng?

    -  Phải rồi, các bạn! Các tập hợp là vô thường thật, song cũng có chúng sanh không thác

    thuở thiếu niên, già rồi mới chết, dầu là ở trong quyền lực của luật vô thường.

    -  Trong gia đình bạn, không có người nào chết chăng?

    -  Có bạn à, song không chết trẻ đến già mới chết.

    -  Điều này là phong tục trong gia đình của bạn chăng?

    -  Ờ là thói quen trong gia đình của tôi.

    Các học sinh đồng nhau đến tỏ bày cho vị giáo sư hay, vị giáo sư bèn hỏi đức Bồ tát rồi tính: “Ta nên đi thẩm vấn thân sinh của Dhammapālakumāra, nếu thật như thế ta sẽ tu hành theo”. Sau khi hỏa táng thi hài của con rồi, gởi các trò lại cho đức Bồ tát, vị trứ danh giáo sư gói xương dê, cho người đem theo đến nhà Dhammapālakumāra, được gặp thân sinh của đức Bồ tát. Sau khi đã chào hỏi nhau, vị giáo sư tùy dịp tỏ rằng: “Dhammapālakumāra học hành tấn hóa, nhưng mới từ trần, xin ông đừng thương tiếc, vì các tập hợp đều là vô thường”. Ông Bàlamôn nghe qua bèn vỗ tay cười.

    -  Tại sao ông cười?

    -  Con tôi không chết, đó là kẻ khác chết. Khi vị giáo sư mở gói xương cho xem, thân

    sinh đức Bồ tát vẫn quyết định rằng: “Không phải xương của con tôi đâu, đó là hài cốt của thú hay của kẻ nào, quyết hẳn, con tôi không chết, vì gia đình của tôi đã bảy đời rồi chẳng có một người nào chết non cả”.

    Trong hồi đó người trong nhà đều vỗ tay cười rộ. Vị giáo sư thấy sự phi thường như thế liền hoan hỷ hỏi rằng:

    Kinte vattan kin pana brahmacariyan. Kissa suciṇṇassa ayan vipāko. Akkhāhi me brahmāna etamatthan. Tasmā nu tumhan daharā nā miyyare.

    Nghĩa: Thế nào là sự hoạt động hằng ngày của ông, cái chi là phép trinh bạch của ông, sự không chết trẻ đây là quả phước của các nhân lành mà ông đã thực hành chân chánh rồi, ông Bàlamôn! Xin ông chỉ nguyên nhân đó đến tôi với, tại sao mà thân quyến ông lại không có người chết trẻ?

    Ông Bàlamôn tường thuật cho vị giáo sư rõ về nguyên nhân của sự không chết trẻ trong gia đình ông rằng:

    Dhamman carāma na musā bhanāma. Pāpāni kammāni parivajjayāma. Anariyan parivajjema sabban. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Chúng tôi tu hành: không nói dối, tránh làm nghiệp ác, và chừa cải những nghiệp không cao quí; vì thế, người thanh niên của chúng tôi mới không chết.

    Sunoma dhamman asatan satañca. Na cāpi dhamman asatan rocayāma. Hitvā asante na jahāma sante. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Chúng tôi được nghe các bậc tịnh giả và vô tịnh giả rồi; không vừa lòng cái pháp của kẻ vô tịnh giả, không nhìn nhận hạng người vô thiện tri thức; không bỏ bậc tịnh giả. Vì vậy, thanh niên trong gia đình chúng tôi mới không chết.

    Pubbe va dānā sumanā bhavāma. Dadanpi ve attamanā bhavāma. Dātvapi ve nānutappāma paccha. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Chúng tôi trước khi bố thí cũng chú tâm chân chánh, đang cho cũng hoan hỷ, sau khi thí rồi cũng không phiền não. Vì thế, các trẻ tuổi của chúng tôi mới không chết.

    Samaṇe mayan brahmaṇe addhike ca. Vanibbake yācanake dalidde. Annena pānena abhitappayāma. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Chúng tôi đã chăm nom, săn sóc các bậc Samôn, Bàlamôn, bộ hành, người nghèo, kẻ xin bằng thức ăn, nước uống. Vì vậy, nhóm thiếu niên của chúng tôi mới không chết.

    Mayañca bhariyan natikkamāna. Amhe ca bhariyā nātikkamanti. Aññatra tāhibrahmacariyan carāma. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Chúng tôi không bỏ lòng vợ, vợ chúng tôi cũng không ngoại tình, chúng tôi hành đạo phạm hạnh, không quá yêu phụ nữ khác. Vì thế, những trai trẻ của chúng tôi mới không chết.

    Pānātipātā viramāma sabbe. Loke adinnan parivajjayāma. Amajjapānepi musā bhanāma. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Tất cả chúng tôi đều chừa cải sự sát sanh, trộm cắp trong đời, không uống chất say cũng không nói dối. Vì vậy hạng thanh niên của chúng tôi mới không chết.

    Etāsu ve jāyare suttamāsu. Medhāvino honti bahuttapaññā. Bahussutā vedagunā ca honti. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Con sinh ra từ hạng vợ tốt như thế, tự nhiên sanh trí, có nhiều trí tuệ, là người bác học, có học thức tấn hóa. Vì thế các trẻ của chúng tôi mới không chết.

    Mātā pitā bhaginī bhatāro ca. Puttā ca dārā ca mayañca sabbe. Dhamman carāma paralokahetu. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Mẹ cha, chị em, anh em, con, vợ, tất cả chúng tôi mỗi người đồng thực hành pháp, mong được lợi ích vị lai (không phải chỉ mong hạnh phúc hiện tại). Vì vậy, những người trẻ tuổi của chúng tôi mới không chết.

    Dāsā ca dāsī anujivino ca. Paricārikā kammakarā ca sabbe. Dhamman caranti paralokahetu. Tasmā hi amhan daharā na miyyare.

    Nghĩa: Tôi trai, tớ gái, những kẻ lệ thuộc, tất cả người đó toàn là hạng tu hành mong tìm điều lợi ích vị lai. Vì vậy, người thanh niên của chúng tôi mới không chết.

    Trong nơi cuối cùng ông Bàlamôn giải về đức tính của người hành pháp như vầy:

    Dhammo have rakkhati dhammacārin. Dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti. Esānisanso dhamme suciṇṇe. Na duggatin gacchati dhammacārī.

    Nghĩa: Pháp tự nhiên hộ người hành pháp, hẳn thật, pháp mà người hành được chơn chánh rồi, tự nhiên đem các hạnh phúc đến cho, đây là sự kết quả trong pháp đã thực tiễn đứng đắn rồi nghĩa là người thi hành pháp tự nhiên, không sa trong cảnh khổ.

    Dhammo have rakkhati dhammacārin. Chattan mahantan viya vassakāle. Dhammena gutto mama dhammapālo. Aññassa aṭṭhīni sukhi kumāro.

    Nghĩa: Pháp tự nhiên hộ trì người hành pháp, hẳn thật, như cây dù to được phòng ngừa khi có mưa, Dhammapāla con chúng tôi có cả pháp hộ trì rồi, hài cốt mà ông đem đến đây là của sinh vật khác, phần Kumāra vẫn còn ở yên mát mẻ.

    Vị trứ danh giáo sư khi đã nghe những lời như thế liền phát tâm hoan hỷ, rằng: “Tôi đến đây gọi là đến chân chánh, rất có hạnh phúc”. Rồi bày tỏ sự thật cho ông Bàlamôn nghe và ghi chép các pháp vào sở tập ký, tạm trú lại đó thêm 2, 3 ngày nữa mới trở về thành Takkasilā, hết lòng dạy bảo đức Bồ tát cho được mãn ý, rồi khiến bộ hạ đưa đức Bồ tát hồi qui với sự đầy đủ thanh danh.

    ‒ Dứt tác phẩm Chú giải Bổn sanh kinh (Pl.2501-Dl.1957) ‒

    Trang Website được thành lập và quản lý bởi các cận sự nam, cận sự nữ trong Phật Giáo. Mục đích nhằm lưu trữ, số hoá kinh sách và tài liệu Phật Giáo Nguyên Thuỷ - Theravāda.