Tìm hiểu về 4 diệu đế, bốn chân lý cao thượng trong đạo Phật – Phần 6

Phật Pháp Căn Bản - Phần 9

Chân Lý Cao Thượng Thứ Tư: Con Đường Chấm Dứt Dukkha

Chân lý thứ tư là thực hành để tiến đến chỗ chấm dứt đau khổ.

Một khi bệnh nhân biết rằng: bệnh của mình sẽ được chữa khỏi, thì câu hỏi tiếp theo mà bệnh nhân muốn hỏi là:

“Tôi phải uống thuốc gì đây?”

Vị thầy thuốc sẽ pha chế thuốc cho bệnh nhân. Nếu bạn là một vị thầy thuốc đông y, bạn sẽ tìm các loại rễ hay lá thuốc để chế thuốc cho bệnh nhân. Cũng vậy, Đức Phật chuẩn bị thuốc để chữa bệnh đau khổ. Có tám vị hay tám thành phần trong thang thuốc của Đức Phật trao cho thế gian. Như vậy Chân Lý thứ tư là con đường hay phương pháp thực hành đi đến chỗ chấm dứt đau khổ.

Theo tiếng Pāḷi thì phải hiểu: Đây là con đường “đi đến” Niết Bàn. “Đi đến” có nghĩa là lấy Niết Bàn làm đối tượng. Khi tâm chúng ta lấy một đề mục nào đó, ta nói tâm đi đến đề mục. Bởi thế Chú Giải nói: Đây là sự thực hành, đây là con đường đi đến chỗ chấm dứt dukkha, tức là đi đến Niết Bàn.

Đây là thuốc mà Đức Phật trao cho chúng ta để trị bệnh dukkha. Bởi vì đây là thuốc nên chúng ta phải sử dụng. Bác sĩ sẽ cho bạn thuốc. Nếu bạn không chịu uống thuốc thì bạn sẽ không lành bệnh. Cũng vậy, Đức Phật cho chúng ta thuốc, và nếu chúng ta không chịu uống, nếu chúng ta không thực hành theo lời chỉ dẫn của Ngài thì chúng ta sẽ không đạt được lợi ích của sự loại trừ phiền não.

Trong bốn Chân Lý Cao Thượng thì Chân Lý thứ tư là Chân Lý quan trọng nhất đối với chúng ta. Chúng ta có thể không biết về dukkha, chúng ta có thể không biết nguyên nhân của dukkha, chúng ta có thể không biết về sự chấm dứt dukkha, nhưng nếu chúng ta biết về Chân Lý thứ tư, biết về

  1. Chánh Kiến,
  2. Chánh Tư Duy,
  3. Chánh Ngữ,
  4. Chánh Nghiệp,
  5. Chánh mạng,
  6. Chánh Tinh Tấn,
  7. Chánh Niệm,
  8. Chánh Định

và thực hành thì chúng ta sẽ:

  1. Thấy được Khổ là Chân Lý thứ nhất.
  2. Loại trừ Ái Dục, nguyên nhân khổ, là Chân Lý thứ hai; và
  3. Chứng ngộ được Diệt, hay Niết Bàn là Chân Lý thứ ba.

Như vậy, đối với chúng ta Chân Lý thứ tư là quan trọng nhất. Giống như thuốc, chúng ta phải uống mới hết bệnh; cũng vậy, chúng ta phải thực hành để gặt hái kết quả tốt của thuốc mà Đức Phật đã ban cho chúng ta. Con đường này, hay sự thực hành này, bao gồm tám yếu tố. Sự thực hành này được gọi là “Trung Đạo”. Sự thực hành này có hai tên: Majjhima Padipadā (Trung Đạo) hay Ariya Ahagika Magga (Bát Thánh Đạo).

Chúng ta đã học từng chi một của tám yếu tố này. Nếu các bạn không nhớ thì cũng đừng lo lắng, tôi sẽ nhắc lại. Thánh Đạo có tám ngành, hay tám yếu tố đó là:

  1. Chánh Kiến,
  2. Chánh Tư Duy,
  3. Chánh Ngữ,
  4. Chánh Nghiệp,
  5. Chánh mạng,
  6. Chánh Tinh Tấn,
  7. Chánh Niệm,
  8. Chánh Định

Hiểu Rõ Chân Lý Cao Thượng Thứ Tư

Trước khi xét đến từng yếu tố một, chúng ta hãy lấy một ví dụ để có thể dễ hiểu Bốn Chân Lý Cao Thượng. Bốn chân Lý Cao Thượng là Chân Lý Cao Thượng về Sự Khổ, Chân Lý Cao Thượng về Nguyên Nhân của Sự Khổ, Chân Lý Cao Thượng về Sự Chấm Dứt Khổ, và Chân Lý Cao Thượng về Con Đường Đến Nơi Thoát Khổ. Thanh Tịnh Đạo đã đưa ra một ví dụ như sau:

Một ví dụ khác như tôi vừa nói với các bạn.

  • Chân Lý thứ nhất như bệnh hoạn.
  • Chân Lý thứ hai như nguyên nhân của bệnh.
  • Chân Lý thứ ba như trị hết bệnh.
  • Chân Lý thứ tư như thuốc trị bệnh.

Một ví dụ khác nữa được đưa ra.

  • Chân Lý thứ nhất như nạn mất mùa đói kém.
  • Chân Lý thứ hai như mưa không điều hòa. (mưa ít quá hay mưa quá nhiều cũng làm hư hại mùa màng).
  • Chân Lý thứ ba như mùa màng tốt đẹp.
  • Chân Lý thứ tư như mưa tốt, hài hòa, đúng lúc, đúng thời.

Như vậy chúng ta có thể dùng những ví dụ này để nhớ đến Bốn Chân Lý Cao Thượng.

Tôi thích nhất ví dụ thứ hai:

  1. Bệnh,
  2. Nguyên nhân bệnh,
  3. Hết bệnh,
  4. Phương tiện trị bệnh, (đó là thuốc).

Chúng ta phải hiểu là cần phải làm gì để Giác Ngộ bốn Chân Lý Cao Thượng. Đối với mỗi Chân Lý chúng ta cần có một trách vụ khác nhau để hành xử.

Trách Vụ Của Từng Chân Lý Cao Thượng 

Chân Lý Cao Thượng Thứ Nhất

Chân Lý Cao Thượng thứ nhất là Chân Lý Cao Thượng về sự Khổ cần phải hiểu biết. Điều này có nghĩa là chúng ta phải thấy một cách rõ ràng Chân Lý Cao Thượng thứ nhất.

Qua việc hành Thiền Minh Sát chúng ta có thể thấy Chân Lý Cao Thượng thứ nhất một cách rõ ràng. Qua việc hành Thiền Minh Sát chúng ta có thể thấy

Vật Chất và Tâm sinh rồi diệt, sinh rồi diệt, sinh rồi diệt.

Như vậy, bạn sẽ thấy bản chất dukkha của Vật Chất và Tâm khi bạn thấy chúng sinh rồi diệt, sinh rồi diệt, sinh rồi diệt một thời gian lâu.

Một trong những nghĩa của chữ dukkha là bị đàn áp bởi sự sinh diệt. Đó là nghĩa chính của dukkha. Như vậy, bất cứ cái gì có khởi đầu, có chấm dứt, có khởi sinh rồi hoại diệt được gọi là dukkha. Bạn sẽ thấy rõ dukkha khi bạn hành Thiền Minh Sát.

Bạn có thể ngồi và suy nghĩ về dukkha. Bạn có thể suy tư về dukkha, và bạn nghĩ rằng: bạn hiểu dukkha. Nhưng sự hiểu biết đó không phải đến từ kinh nghiệm thực hành của chính bạn. Đó chỉ là sự suy tư mà thôi. Nhưng khi bạn ngồi xuống hành thiền và tự mình thấy rõ Vật Chất khởi sinh rồi hoại diệt, sinh rồi diệt, và sau này bạn chỉ thấy có sự diệt mà thôi thì bạn sẽ thấy rõ ý nghĩa thực sự của dukkha.

Chân Lý Cao Thượng Thứ Hai 

Chân Lý Cao Thượng thứ hai là ái dục cần phải đoạn trừ.

Bởi vì bao lâu chúng ta chưa đoạn trừ được Tham Ái, tức là chưa thành công trong việc làm tròn những lời dạy về chân lý thứ hai, thì chúng ta vẫn còn đau khổ. Trách vụ cần phải làm với Chân Lý Cao Thượng thứ hai là đoạn trừ. Một khi chúng ta có thể đoạn trừ Tham Ái thì chúng ta có thể đoạn từ tất cả dukkha.

Chân Lý Cao Thượng Thứ Ba

Chân Lý Cao Thượng thứ ba, Niết Bàn, cần phải chứng ngộ, thấy rõ như mặt đối mặt.

Sự chứng ngộ này chỉ đến vào lúc Giác Ngộ. Vào lúc Giác Ngộ xuất hiện một tâm mà từ trước tới nay chưa hề phát khởi kèm theo những tâm sở liên hệ; tâm này có năng lực loại trừ phiền não, và đồng thời lấy Niết Bàn làm đối tượng. Có nghĩa là tâm này thấy Niết Bàn một cách trực tiếp vào thời điểm đó.

Trước đây, chúng ta thường nói đến Niết Bàn, nhưng thật ra chúng ta chưa trực tiếp thấy rõ Niết Bàn. Chúng ta có thể nói: “Mong cho tôi thấy rõ Niết Bàn” hay một câu tương tự như vậy. Chúng ta có thể nói về Niết Bàn. Chúng ta có thể nghĩ về Niết Bàn. Nhưng đó không phải là trực tiếp thấy rõ Niết Bàn. Vào lúc Giác Ngộ, thiền sinh thực sự thấy rõ Niết Bàn, có thể nói thấy rõ Niết Bàn như mặt đối mặt. Như vậy, đối với Niết Bàn thì phải chứng ngộ, chứ không phải là loại trừ như trong Chân Lý thứ hai, cũng không phải hiểu rõ như Chân Lý thứ nhất, nhưng phải do thiền sinh thấy rõ như mặt đối mặt.

Chân Lý Cao Thượng Thứ Tư

Chân Lý Cao Thượng thứ tư là phải phát triển hay tu tập.

Có hai loại phát triển chúng ta sẽ xét đến sau.

Chân Lý Cao Thượng thứ tư, Chân Lý Cao Thượng về con đường đi đến nơi dứt khổ. Nói một cách chính xác thì đến nơi dứt khổ tức là đến giây phút Giác Ngộ.

Giây phút Giác Ngộ là kết quả của Thiền Minh Sát.
Để đạt đến giây phút Giác Ngộ, chúng ta phải hành Thiền Minh Sát.
Khi hành Thiền Minh Sát là chúng ta phát triển Bát Chánh Đạo, tám yếu tố của con đường đi đến Giác Ngộ.
Như vậy, trong thời gian hành Thiền Minh Sát, chúng ta phát triển con đường này, đây là Chân Lý Cao Thượng thứ tư.

Trên tiến trình phát triển đi đến Giác Ngộ thì tâm thiền sinh vẫn còn ở trong vòng thế tục.

Nhưng vào lúc Giác Ngộ, tám yếu tố này cùng khởi sinh và mỗi yếu tố làm tròn chức năng riêng của nó, và đạt đến mức cao nhất.
Chúng đạt đến tầng mức cao nhất vào lúc Giác Ngộ.
Chỉ vào lúc này chúng mới được gọi là “Chân Lý Cao Thượng thứ tư”.
Nhưng muốn đạt đến tầng mức này thiền sinh phải qua giai đoạn “mở đầu” hay “dự bị” đó là hành Thiền Minh Sát.

Tóm lại, nói một cách thật chân xác, Chân Lý Cao Thượng thứ tư chỉ có thể đạt được vào lúc Giác Ngộ. Và muốn Giác Ngộ thì phải qua giai đoạn “mở đầu” hay “dự bị” đó là hành Thiền Minh Sát.

Các bạn hãy nhớ những trách vụ mà mình cần phải thực hành để thành đạt Bốn Chân Lý Cao Thượng:

  1. Chân Lý Cao Thượng thứ nhất, Khổ phải thấy.
  2. Chân Lý Cao Thượng thứ hai, Ái Dục phải đoạn trừ.
  3. Chân Lý Cao Thượng thứ ba, Niết Bàn phải chứng đắc.
  4. Chân Lý Cao Thượng thứ tư, Đạo phải phát triển hay tu tập.

Đây là bốn trách vụ thiền sinh phải làm tròn. Vào lúc Giác Ngộ, bốn trách vụ này hoàn thành nhiệm vụ cùng lúc, không có cái trước cái sau. Đó là Bát Thánh Đạo.


Câu hỏi:

  1. Chân lý cao thượng thứ tư là chân lý gì?
  2. Ta nên hiểu “con đường đi đến Niết Bàn” thế nào cho đúng?
  3. “Tâm đi đến đề mục” nghĩa là như thế nào?
  4. Chân lý thứ tư được ví như thang thuốc của Đức Phật trao cho thế gian. Có bao nhiêu vị hay thành phần trong thang thuốc này?
  5. Trong bốn chân lý cao thượng (Tứ Diệu Đế), chân lý nào là quan trọng nhất? Tại sao?
  6. Hãy liệt kê tám chi phần của chân lý cao thượng thứ tư.
  7. Hãy nêu các thí dụ về chân lý cao thượng thứ tư.
  8. Việc hành thiền Minh Sát sẽ giúp chúng ta thấy rõ chân lý thứ nhất như thế nào?
  9. Hãy nêu các trách vụ của từng chân lý cao thượng.

Nguồn trích dẫn:  Phật Pháp Căn Bản, Hòa Thượng Sīlānanda giảng, Hòa Thượng Kim Triệu hiệu đính, Sư Khánh Hỷ soạn dịch.

Phần trước

Exit mobile version